Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ QUẢN LÍ XÂY DỰNG VĂN HÓA ỨNG XỬ Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ TRONG BỐI CẢNH ĐỔI MỚI GIÁO DỤC HIỆN NAY 1. Tổng quan các công trình khoa học có liên quan đến đề tài nghiên cứu 1. Những nghiên cứu về xây dựng văn hoá ứng xử trong trường học Thuật ngữ “Văn hoá ứng xử ở nhà trường” là một khái niệm mới xuất hiện trong mấy năm gần đây và được đề cập ngày một nhiều trong các diễn đàn cũng như các hội thảo. Nhưng thực ra bản chất và nội dung của văn hoá ứng xửđã được các nhà trường ở Việt Nam từ xa xưa xây dựng và trở thành các truyền thống quý báu của dân tộc ta như: “Tôn sư trọng đạo”, “Kính thầy yêu bạn”, “Nhất tự vi sư, bán tự vi sư”,.
Trong quá trình xây dựng và phát triển, văn hoá ứng xử biểu hiện ngay trong mọi phương diện QL, trong các hoạt động dạy học cũng như trong mọi hành vi ứng xử của các thành viên trong nhà trường tạo nên sự khác biệt, các dấu ấn riêng của nhà trường. Văn hóa nhà trường cũng thu hút được sự quan tâm lớn của các tác giả Việt Nam. Những nghiên cứu ở Việt Nam tiếp cận vấn đề văn hóa nhà trường từ nhiều góc độ khác nhau. Có thể nêu ra một số nghiên cứu sau: Tác giả Phạm Minh Hạc (1991), đã công bố cuốn sách “Giáo dục Việt Nam trước ngưỡng cửa thế kỷ XXI”.
Trong cuốn sách này tác giả đã phân tích sâu về giáo dục nếp sống văn hóa cho sinh viên trong học tập, sinh hoạt, văn hóa, tiêu dùng và trong ứng xử [10]. Tác giả Phạm Minh Hạc (2009), đã tìm hiểu một số vấn đề lý luận về xây dựng văn hoá ứng xử ở trong nhà trường cụ thể ông đã chỉ ra: Xây dựng văn hóa ứng xử, văn hóa giao tiếp trong nhà trường đó là cách ứng xử văn minh, thân thiện, biết tôn trọng, quan tâm đến người khác [11]. Tác giả Lê Gia Khánh (2009), “Văn hóa ứng xử trong nhà trường-Một biểu hiện của văn hóa học đường”. Tác giả nhận định rằng, văn hóa ứng xử học đường thể hiện tập trung ở phong cách làm việc của hiệu trưởng, cán bộ, 7 giáo viên, quan niệm, thái độ hành vi, giao tiếp trong các mối quan hệ, các hoạt động của nhà trường…[18].
Tác giả Nguyễn Minh Phụng (2009) đã phân tích một số biểu hiện tiêu .cực của văn hóa học đường hiện nay. Đó là, học sinh sử dụng ngôn ngữ giao .tiếp chưa văn hóa; Bạo lực học đường phát triển.Chỉ từ những biểu hiện nhỏ .cũng có thể dẫn tới bạo lực, chính giáo viên cũng trở thành nạn nhân của bạo .lực học đường. Tác giả đã đề cập đến một số nguyên nhân của những hành vi .chưa văn hóa này như: Tác động của hội nhập quốc tế và kinh tế thị trường; .thay đổi giá trị sống, chủ nghĩa cá nhân… [26]. Tác giả Đỗ Thị Hằng Nga (2015), “Một số biện pháp giáo dục văn hóa ứng xử cho sinh viên trường cao đẳng Sư phạm Hà Giang” [23], tác giả trình .bày biện pháp giáo dục VHƯX cho sinh viên: Lồng ghép, tích hợp nội dung .giáo dục VHƯX cho học sinh, sinh viên vào việc giảng dạy các môn học, thông .qua tổ chức các hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp, đánh giá, thực hiện quy .chế khen thưởng.
Tác giả Nguyễn Duy Phấn (2016), “Văn hóa ứng xử của sinh viên một số trường cao đẳng kỹ thuật trong giai đoạn hội nhập hiện nay-Thực trạng và khuyến nghị” [24], nghiên cứu của tác giả cho thấy thực trạng VHƯX nói chung và VHƯX của sinh viên nói riêng ảnh hưởng trực tiếp đến các hoạt động giáo dục trong nhà trường. Xây dựng VHƯX cho sinh viên được xác định là một trong những yếu tố cơ bản để hoàn thiện giá trị kiến thức và nhân văn cho thế hệ trẻ. Tác giả Trần Nguyên Hào (2016), “Một số giải pháp giáo dục văn hóa ứng xử cho sinh viên trường đại học Hà Tĩnh”, giả trình bày quan niệm về văn hóa ứng xử, nhận thức về văn hóa ứng xử, và những biểu hiện trong VHƯX của sinh viên trường đại học Hà Tĩnh, tác giả cũng đưa ra những giải pháp giáo dục văn hóa ứng xử cho sinh viên trường đại học Hà Tĩnh [14]. 8 Tác giả Trần Thị Tùng Lâm (2017) đã đưa ra nhiều giải pháp để nâng cao hiệu quả giáo dục văn hóa học đường cho sinh viên các trường đại học ở Hà Nội, trong đó nhấn mạnh giải pháp xây dựng hệ giá trị chuẩn mực cho sinh viên là giải pháp tiên quyết [20].
Những nghiên cứu về việc quản lý xây dựng văn hoá ứng xử trong trường học Đặng Thị Thuý An, Trần Văn Hiếu (2019) cho rằng văn hoá ứng xử là những tiêu chuẩn, nguyên tắc được XH thừa nhận, quy định hành vi, quan hệ của con người đối với nhau và đối với XH. Để hình thành và phát triển nhân cách cho học sinh thì nhà trường phải tổ chức các hoạt động giáo dục toàn diện, trong đó công tác GD VHƯX giữ vai trò quan trọng hàng đầu. Tuy nhiên, so với yêu cầu đổi mới GD hiện nay, giáo dục THPT huyện Vĩnh Linh vẫn còn nhiều hạn chế, trong đó có chất lượng GD VHƯX. Từ nghiên cứu lý luận và khảo sát thực trạng quản lý hoạt động GD VHƯX cho HS các trường THPT huyện Vĩnh Linh trong những năm học vừa qua, chúng tôi đề xuất 7 biện pháp quản lý nhằm nâng cao hoạt động GD VHƯX cho HS.
Các biện pháp đó nếu được thực hiện đồng bộ sẽ góp phần tích cực trong việc nâng cao chất lượng GD VHƯX cho HS trên địa bàn huyện [1]. Nguyễn Thị Ngọc Dung (2019) cho rằng Giáo dục VHƯX là một trong những nội dung giáo dục quan trọng nhằm hình thành và phát triển toàn diện nhân cách HSTH, góp phần xây dựng và phát triển văn hóa trường tiểu học lành mạnh, an toàn, thân thiện, phòng chống bạo lực học đường. Vì thế, giáo dục VHƯX cho HS cần được trường tiểu học quan tâm thực hiện một cách thường xuyên [5]. Mỵ Giang Sơn (2020) khi nghiên cứu vấn đề quản lí hoạt động xây dựng văn hóa ứng xử ở trường phổ thông đã cho rằng xây dựng VHƯX là nhiệm vụ quan trọng của trường PT, góp phần tạo môi trường học đường an toàn, lành mạnh, thân thiện cho cả người dạy và người học.
Hiệu trưởng trường PT quản lí công tác xây dựng VHƯX trong nhà trường tức là thực hiện các chức năng quản lí (xây dựng kế hoạch, tổ chức bộ máy thực hiện, chỉ đạo và kiểm tra) 9 đối với 5 hoạt động cơ bản: hoạt động tuyên truyền nâng cao nhận thức về xây dựng VHƯX; hoạt động xây dựng và thực hiện Bộ QTƯX; hoạt động giáo dục VHƯX cho học sinh; hoạt động bồi dưỡng nâng cao năng lực ƯX văn hóa và năng lực giáo dục VHƯX cho tập thể nhà trường; hoạt động phối hợp với gia đình và xã hội trong xây dựng VHƯX. Hiệu trưởng cần chú trọng quản lí các nguồn lực về con người, cơ sở vật chất và tài chính hỗ trợ hoạt động xây dựng VHƯX trong nhà trường [27]. Tạ Thị Thu Hằng (2020) nghiên cứu một số biện pháp quản lí xây dựng văn hóa ứng xử ở các trường trung học cơ sở huyện Yên Khánh, tỉnh Ninh Bình cho rằng quản lí xây dựng văn hóa ứng xử ở trường THCS là một quá trình tác động hợp lí, có mục đích, kế hoạch, hệ thống của chủ thể quản lí (hiệu trưởng) đến đối tượng quản lí (cán bộ, GV, HS trong nhà trường) nhằm sửa đổi những giá trị, chuẩn mực chưa phù hợp về giao tiếp. Kết quả khảo nghiệm tính cần thiết và tính khả thi của các biện pháp đã đề xuất cho thấy, đội ngũ cán bộ quản lí và GV các trường THCS huyện Yên Khánh, tỉnh Ninh Bình đều đánh giá các biện pháp là có tính khả thi.
Các nhà trường cần thực hiện đồng bộ các biện pháp để nâng cao hiệu quả quản lí xây dựng văn hóa ứng xử ở các trường THCS huyện Yên Khánh, tỉnh Ninh Bình [15]. Quá trình thu thập tổng hợp, nghiên cứu, phân tích các tài liệu đã tham khảo cho thấy hầu như các công trình, tài liệu đều tập trung vào nghiên cứu những vấn đề VHNT, văn hóa học đường, hiệu quả giáo dục văn hóa học đường, ứng xử văn hóa học đường ở các trường phổ thông, đại học, cao đẳng… Đa số các công trình đã tập trung nghiên cứu về VHƯX, quan niệm, nhận thức về VHƯX, những biểu hiện trong VHƯX và đề xuất các biện pháp nâng cao VHƯX cho HS, SV. Trong khi đó những vấn đề nghiên cứu về quản lý xây dựng VHƯX tại các trường THCS còn hạn chế. Vì vậy, đề tài nghiên cứu “ Quản lí xây dựng VHƯX ở các trường THCS huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hoá trong bối cảnh đổi mới giáo dục hiện nay” tập trung đi sâu vào vấn đề xây dựng VHƯX trên cơ sở kế thừa và phát triển những kết quả nghiên 10 cứu trên nhằm tìm hiểu thực trạng cũng như đề xuất biện pháp quản lý xây dựng VHƯX tại các trường THCS huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hoá, tạo một môi trường thân thiện, lành mạnh, an toàn.
Các khái niệm cơ bản của đề tài 1. Văn hoá Văn hóa theo tiếng Latinh là “cultus” nghĩa là sự trồng trọt. Danh từ “cultus” được hiểu theo hai nghĩa khác nhau “cultusagri” là trồng trọt ngoài đồng (trồng cây) và “cultusannimi” là trồng tinh thần, trồng người. Theo từ điển Tiếng Việt văn hóa được định nghĩa là: “Văn hóa là tổng thế nói chung những giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra trong quá trình lịch sử”.
Như vậy theo nghĩa gốc của từ “văn hóa” thì đó là làm cho sự vật, hiện tượng sinh sôi, nảy nở, phát triển theo chiều hướng tốt đẹp. Theo tác giả Trần Quốc Thành (2011), “VH biểu hiện chủ yếu trong mối quan hệ giữa con người với con người, là một dạng chuẩn mực điều tiết mối quan hệ giữa người với người. VH quy định cách ứng xử giữa người với người, được con người thừa nhận, duy trì và phát triển nó” [28]. Dựa trên những quan niệm và những cách tiếp cận nêu trên có thể hiểu: Văn hóa là sự sáng tạo của con người, tích lũy lại trong quá trình hoạt động thực tiễn - xã hội, được đúc kết thành hệ giá trị và chuẩn mực xã hội, biểu hiện thông qua vốn di sản văn hóa và hệ văn hóa ứng xử của cộng đồng, làm nên bản sắc riêng của một cộng đồng xã hội.