phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung luận văn đƣợc trình bày theo 3 chƣơng: 6 Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về quản lý công tác xây dựng văn hóa nhà trƣờng ở trƣờng trung học cơ sở. Chƣơng 2: Thực trạng quản lý công tác xây dựng văn hóa nhà trƣờng ở các trƣờng trung học cơ sở huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định. Chƣơng 3: Biện pháp quản lý công tác xây dựng văn hóa nhà trƣờng ở các trƣờng trung học cơ sở huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định. 7 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ CÔNG TÁC XÂY DỰNG VĂN HÓA NHÀ TRƢỜNG Ở TRƢỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ 1.
Tổng quan lịch sử nghiên cứu vấn đề Liên quan với vấn đề VHNT và quản lý công tác xây dựng VHNT từ trƣớc đến nay có nhiều công trình nghiên cứu trong và ngoài nƣớc đề cập. Các nghiên cứu nước ngoài Có nhiều định nghĩa khác nhau về văn hóa, mỗi định nghĩa phản ánh cách nhìn nhận, đánh giá khác nhau. Đầu tiên, thuật ngữ này xuất hiện vào cuối thế kỷ XVIII, nó mang ý nghĩa là sự tiến triển trong sự tu dƣỡng, hƣớng tới sự khai sáng. Từ đó, khái niệm này đƣợc đề cập trong rất nhiều lĩnh vực nghiên cứu nhƣ: dân tộc học, nhân loại học, dân gian học, địa văn hóa học, văn hóa học, xã hội học,… Năm 1952, hai nhà nhân loại học ngƣời Mỹ đã thống kê có tới 164 định nghĩa khác nhau về khái niệm văn hóa.
Khi nói đến văn hóa bao giờ cũng gắn với con ngƣời, với một bộ phận cƣ dân hay một cộng đồng nhất định nào đó. Nhƣ vậy, văn hóa bao giờ cũng liên quan đến tổ chức - văn hóa tổ chức (VHTC). Thuật ngữ “văn hóa tổ chức” xuất hiện lần đầu tiên trên báo chí Mỹ vào khoảng thập niên 1960. Từ đó đến nay có nhiều nghiên cứu về VHTC đƣợc công bố.
Theo Eldrige và Crombie (1974),nói đến văn hóa của một tổ chức là nói đến một hình thể duy nhất với các tiêu chuẩn, giá trị, tín ngƣỡng, cách đối xử… đƣợc thể hiện qua việc các thành viên liên kết với nhau để làm việc. Còn Louis (1980) thì cho rằng, VHTC là một tập hợp những quan niệm chung của một nhóm ngƣời. Những quan niệm này phần lớn đƣợc các thành viên hiểu ngầm với nhau và chỉ thích hợp cho tổ chức của riêng họ. Các quan niệm này sẽ đƣợc truyền cho các thành viên mới.
8 Trong công trình: Culture in Organizations của Joanne Martin [36] thì chú trọng vào những viễn cảnh khác nhau của VHTC: “Khi một cá nhân liên hệ với một tổ chức, họ liên hệ với những chuẩn mực, những câu chuyện mà mọi nguời kể về những điều đang diễn ra, những thủ tục và nguyên tắc chính thức của tổ chức, những dạng hành vi chính thức của tổ chức, những nghi lễ, nhiệm vụ, hệ thống trả công lao động, những biệt ngữ… mà chỉ những nguời bên trong mới hiểu. Những yếu tố này là một phần những cái gắn liền với VHTC”. Còn Edgar Schein - nhà nghiên cứu nổi tiếng nhất về VHTC với công trình: Organizational Culture and Leadership [37] nhấn mạnh VHTC là một dạng của những giả định cơ bản - đuợc sáng tạo, đuợc khám phá hoặc đuợc phát triển bởi các nhóm khi họ học về cách thức giải quyết với những vấn đề của việc thích ứng với môi truờng bên ngoài và hội nhập bên trong. Các nghiên cứu trong nước Ở nƣớc ta, từ năm 2007 đến năm 2020, Trung ƣơng Đảng, Chính phủ và Bộ GD&ĐT đã ban hành một số nghị quyết, nghị định, quyết định liên quan đến vấn đề này nhƣ:Quyết định số 129/2007/QĐ-TTg ngày 2 tháng 8 năm 2007 của Thủ tƣớng Chính phủ ban hành Quy chế văn hóa công sở tại các cơ quan hành chính nhà nước [27]; Quyết định số 16/2008/QĐ-BGDĐT ngày 16 tháng 4 năm 2008 của Bộ GD&ĐT ban hành Quy định về đạo đức nhà giáo [28]; Nghị quyết số 33-NQ/TW ngày 9 tháng 6 năm 2014 của Ban Chấp hành Trung ƣơng Đảng về Xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước [22]; Chỉ thị số 42- CT/TW ngày 24 tháng 3 năm 2015 của Ban Bí thƣ Trung ƣơng Đảng về Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác giáo dục lý tưởng cách mạng, đạo đức, lối sống văn hóa cho thế hệ trẻ giai đoạn 2015 - 2030 [6]; Quyết định số 1299/QĐ-TTg ngày 3 tháng 10 năm 2018 của Thủ tƣớng Chính phủ phê duyệt Đề án xây dựng Văn hóa ứng xử trong các trường học giai đoạn 9 2018 - 2025 [29].
Các văn bản trên đều liên quan đến cơ quan tổ chức, đoàn thể, làm rõ văn hóa công sở là một loạt hành vi và quy ƣớc mà con ngƣời dựa vào đó để điều khiển các mối quan hệ tƣơng tác của mình với những ngƣời khác trong công sở. Văn hóa công sở còn là một hệ thống đƣợc hình thành trong quá trình hoạt động của công sở, tạo nên niềm tin, giá trị về thái độ của cán bộ, công chức, viên chức làm việc trong công sở, ảnh hƣởng đến cách làm việc trong công sở và hiệu quả hoạt động của nó. VHTC nói chung, văn hóa doanh nghiệp, công sở nói riêng đƣợc nghiên cứu rộng rãi; song chƣa có nhiều công trình nghiên cứu về VHTC nhà trƣờng. Chúng tôi điểm qua một số công trình nghiên cứu liên quan có đề cập đến VHNTnhƣ:Sách Giáo dục Việt Nam trước ngưỡng cửa thế kỷ XXI (1991) của Phạm Minh Hạc [13]; Bài báo Môi trường học tập trong lớp của Vũ Thị Sơn đăng trên Tạp chí Giáo dục số 102/2004 [31]; Tài liệu bồi dƣỡng cán bộ quản lý trƣờng phổ thông, Chuyên đề 14: Xây dựng và phát triển văn hóa nhà trường, Trƣờng Cán bộ quản lý giáo dục Thành phố Hồ Chí Minh (2013) [35]; Sách Môi trường giáo dục (2006) của Phạm Hồng Quang [26].
Đặc biệt, trong Kỷ yếu Hội thảo khoa học: Xây dựng văn hóa học đường - Giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục trong nhà trường, do Viện Nghiên cứu sƣ phạm - Trƣờng Đại học Sƣ phạm Hà Nội phát hành vào năm 2007, có đề cập đến các báo cáo liên quan nhƣ: Văn hóa tổ chức - hình thái cốt lõi của văn hóa nhà trường, của Phạm Quang Huân [18]; Những cơ sở của việc xây dựng văn hóa học đường trong bối cảnh đất nước hội nhập, đổi mới hiện nay, của Lê Quang Hƣng [19]… Và trong Kỷ yếu Hội thảo khoa học: Văn hoá học đường - lí luận và thực tiễn, do Hội khoa học Tâm lý - Giáo dục Việt Nam phát hành năm 2009, có công bố nhiều báo cáo liên quan nhƣ: Giáo dục giá trị xây dựng văn hoá học đường, của Phạm Minh Hạc [15]; Văn 10 hoá học đường: Quan niệm, vai trò, bản chất và một số yếu tố cơ bản, của Phạm Thị Minh Hạnh [16]; Bàn về văn hoá học đường Việt Nam hiện đại, của Nguyễn Minh [21]; Những biểu hiện tiêu cực của văn hoá của văn hóa học đường ngày nay - Nguyên nhân, hệ quả và khả năng khắc phục; của Nguyễn Hữu Nguyên [23], Văn hoá học đường dưới góc nhìn giáo dục, của Nguyễn Minh Phụng [25]; Vài suy nghĩ về môi trường văn hoá học đường ở Mỹ và Việt Nam, của Nguyễn Thơ Sinh [30]; Tìm hiểu tư tưởng văn hoá học đường của Chủ tịch Hồ Chí Minh, của Thái Duy Tuyên [32]…. Bên cạnh đó, còn có một số luận án tiến sĩ QLGD nghiên cứu liên quan nhƣ: Luận án tiến sĩ Xây dựng môi trường giáo dục ở trường trung học phổ thông Chuyên theo tiếp cận văn hoá tổ chức, của Lê Thị Oanh [24]; Luận án tiến sĩ: Quản lý nhà trường tiểu học Việt Nam theo tiếp cận văn hóa tổ chức, của Lê Thị Ngọc Thúy [33]… Các công trình của các nhà khoa học nêu trên chủ yếu tập trung vào nghiên cứu lý luận về xây dựng VHNT nói chung hoặc nghiên cứu về thực tiễn xây dựng VHNT ở các địa phƣơng khác chứ chƣa có công trình nào đi sâu nghiên cứu cụ thể về quản lý công tác xây dựng VHNT tại các trƣờng THCS trên địa bàn huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định. Tuy nhiên, đây là những tài liệu quý giá để chúng tôi kế thừa, sử dụng trong đề tài luận văn. Các khái niệm cơ bản của đề tài 1.
Quản lý, quản lý giáo dục, quản lý nhà trường và quản lý công tác xây dựng văn hóa nhà trường 1, Quản lý Quản lý là một hoạt động cần thiết cho tất cả các lĩnh vực của đời sống con ngƣời và là một nhân tố cho sự phát triển xã hội. Theo nghĩa gốc, “quản” là trông nom, “lý” là sắp đặt, lo liệu công việc. Quản lý vừa là khoa học, vừa là nghệ thuật và là vấn đề thu hút sự quan tâm của các nhà quản lý và các nhà 11 nghiên cứu lý luận quản lý. Từ trƣớc đến nay, có nhiều định nghĩa khác nhau của các nhà nghiên cứu về khái niệm quản lý.
Tuy nhiên, họ đều thống nhất nhau ở một số điểm, quản lý là hoạt động cần thiết, có định hƣớng; là quá trình tiến hành những hoạt động khai thác, lựa chọn, tổ chức và thực hiện các nguồn lực, các tác động của chủ thể quản lý theo kế hoạch chủ động, phù hợp với quy luật khách quan để gây ảnh hƣởng đến đối tƣợng quản lý nhằm tạo ra sự thay đổi hay tạo ra hiệu quả cần thiết vì sự tồn tại (duy trì), sự ổn định và phát triển của tổ chức trong một môi trƣờng luôn biến động. Từ nhận thức trên, có thể hiểu một cách tổng quát: Quản lý là một hoạt động đa diện phức tạp, là quá trình tác động gây ảnh hưởng có tổ chức, có hướng đích, hợp quy luật của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý nhằm đạt được mục tiêu quản lý đề ra. 2, Quản lý giáo dục QLGD là một bộ phận của quản lý nói chung, nhƣng nó là một khoa học tƣơng đối độc lập vì tính chất đặc thù của nền giáo dục quốc dân. Theo các nhà nghiên cứu nƣớc ngoài thì: QLGD là tập hợp những biện pháp tổ chức, cán bộ, kế hoạch hóa, tài chính,.
nhằm đảm bảo vận hành bình thƣờng của các cơ quan trong hệ thống giáo dục, để tiếp tục phát triển và mở rộng hệ thống cả về số lƣợng lẫn chất lƣợng.