Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ VĂN HÓA NHÀ TRƯỜNG Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề Nếu GD được coi là một nền tảng quan trọng của sự phát triển đất nước thì VH lại là nền tảng tồn tại của một dân tộc. Do đó, việc xây dựng nét VH trong bất kỳ một lĩnh vực, một tổ chức nào đều có thể xem là thiết yếu để đạt được sự phát triển vững mạnh. VH là những giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra.
Trong tất cả các lĩnh vực của cuộc sống xã hội đều có những giá trị VH của nó. Chẳng hạn như: VH công sở, VH giao tiếp, VH giao thông, VH ẩm thực,… trong đó có VH nhà trường. VH bao giờ cũng gắn với GD và GD luôn đi liền với VH. Đây là những hiện tượng đặc trưng của xã hội loài người, chỉ có loài người mới có, là điều kiện cho sự tồn tại và phát triển của cá nhân, cộng đồng và xã hội.
Xã hội loài người muốn tồn tại và phát triển thì phải duy trì, bảo tồn và phát triển GD và VH. Hiện nay còn tồn tại nhiều ý kiến khác nhau về khái niệm và nội dung VH học đường. Nhưng có thể hiểu: VH học đường là hệ các chuẩn mực và giá trị giúp cho cán bộ quản lý nhà trường, các thầy cô giáo, các bậc cha mẹ, các em HS có suy nghĩ, tình cảm và hành động tốt đẹp. Văn hóa trong các nhà trường nói chung và nhà trường THPT nói riêng từ lâu đã trở thành vấn đề quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu.
Tuy nhiên cho đến nay, có rất ít tác giả quan tâm và đi sâu nghiên cứu một cách có hệ thống về việc quản lý văn hoá nhà trường. Một số cuốn sách hoặc bài viết gần đây mới chỉ đề cập tới những khía cạnh nhất định của công tác xây dựng văn hoá học đường, môi trường văn hoá cơ sở, chẳng hạn: - Vũ Khiêu (Chủ biên) (2000), Văn hóa Việt Nam, Xã hội và con người, Nhà xuất bản Khoa học xã hội.M Rôđin (2000), Văn hoá học (người dịch: Nguyễn Hồng Minh), Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội. - Văn Đức Thanh (2001), Xây dựng môi trường văn hoá cơ sở, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội. - Đỗ Huy (2001), Xây dựng môi trường văn hoá ở nước ta hiện nay từ góc nhìn giá trị học, Viện văn hoá, Nhà xuất bản thông tin, Hà Nội.
5 c - Đinh Viễn Trí - Đông Phương Tri (Ngọc Anh dịch) (2003), Văn hoá giao tiếp ứng xử, Nhà xuất bản Văn hoá thông tin Hà Nội. - Phạm Hồng Quang (2006), Môi trường giáo dục, Nhà xuất bản Giáo dục. - Trường Đại học sư phạm Hà Nội (9/2007), Viện nghiên cứu sư phạm, Hội thảo khoa học: Xây dựng văn hoá học đường - Giải pháp nâng cao chất lượng GD trong nhà trường. - Lê Thị Ngọc Thúy (2014), Văn hóa nhà trường phổ thông: lý thuyết và thực hành, Nhà xuất bản ĐHQG HN.
- Nguyễn Thị Mỹ Lộc, Nguyễn Vũ Bích Hiền, Quản lý văn hóa nhà trường, Giáo trình giảng dạy chương trình đào tạo thạc sĩ Quản lý giáo dục, trường Đại học Giáo dục, Đại học Quốc gia Hà Nội. - Nguyễn Thị Mỹ Lộc (2015), “Xây dựng nhà trường thành tổ chức biết học hỏi”, Tạp chí giáo dục Hà Nội. - Nguyễn Công Khanh (2009), Tài liệu bồi dưỡng Hiệu trưởng các trường phổ thông Việt Nam, Chuyên đề văn hóa nhà trường, Hà Nội. - Phạm Quang Huân (2007), Văn hóa tổ chức - hình thái cốt lõi của văn hóa nhà trường, Báo cáo khoa học đăng trên kỷ yếu Hội thảo văn hóa học đường do Viện nghiên cứu sư phạm, trường Đại học sư phạm Hà Nội tổ chức năm 2007.
Nhìn chung, các nghiên cứu nêu trên đã trình bày những vấn đề lý luận cơ bản về VH, VH tổ chức, VHNT và đã đề cập đến những khía cạnh đa dạng của thực tiễn VHNT và quản lý VHNT, tuy vậy chưa có công trình nào nghiên cứu về quản lý VHNT THPT ở Hải Dương nói chung và thành phố Hải Dương nói riêng. Ngành giáo dục thành phố Hải Dương trong những năm gần đây cũng đã có sự chú ý tới công tác quản lý văn hóa trong các nhà trường nói chung và trường THPT nói riêng để góp phần xây dựng một môi trường giáo dục lành mạnh, nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, đáp ứng được nhu cầu của người học trong thời đại ngày nay. Tuy nhiên, việc chỉ đạo thực hiện và kết quả công tác quản lý văn hóa nhà trường trên địa bàn thành phố nói chung và trường THPT Hồng Quang nói riêng vẫn chưa có chiều sâu, chưa rõ nét và có phần còn hạn chế. Vì vậy, tôi chọn nghiên cứu đề tài này làm luận văn thạc sỹ với hy vọng góp phần hệ thống hóa cơ sở lý luận về quản lý văn hóa nhà trường ở trường trung học phổ thông, đồng thời đề xuất một số biện pháp để quản lý văn hóa trường THPT Hồng Quang - TP Hải Dương, góp phần xây dựng môi trường giáo dục lành mạnh, tích cực, nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện ở học sinh.
Một số khái niệm cơ bản liên quan 1. Quản lý, Quản lý giáo dục, Quản lý nhà trường 1. Khái niệm Quản lý - Quan niệm của các nhà nghiên cứu nước ngoài về quản lý Theo F. Taylor cho rằng: “Quản lý là nghệ thuật, biết rõ ràng, chính xác cái gì cần làm và làm cái đó như thế nào, bằng phương pháp tốt nhất, rẻ nhất” [10].
Theo Harold Koontz, Cril Odonnell và Heinz Weihrich cho rằng: “Quản lý là hoạt động bảo đảm sự phối hợp giữa nỗ lực các cá nhân nhằm bảo đảm mục tiêu quản lý trong điều kiện chi phí thời gian, công sức, tài lực, vật lực ít nhất đạt kết quả cao nhất” [13]. Aunpu: “Quản lý là một khoa học và nghệ thuật tác động vào một hệ thống nhằm mục tiêu biến đổi hệ thống đó” [1]. Paul Hersey, Ken Blane Heard trong cuốn “Quản lý nguồn nhân lực” (NXB Chính trị quốc gia, 1995): “Quản lý là quá trình cùng làm việc giữa nhà quản lý với các cá nhân, các nhóm để hướng vào việc thực hiện mục tiêu quản lý” [dẫn theo 13]. - Quan niệm của các nhà nghiên cứu trong nước về quản lý Theo Đặng Quốc Bảo cho rằng: "Hoạt động quản lý bắt nguồn từ sự phân công, hợp tác lao động.
Chính sự phân công, hợp tác lao động nhằm đến hiệu quả nhiều hơn, năng suất cao hơn trong việc đòi hỏi phải có sự chỉ huy phối hợp, điều hành, kiểm tra, chỉnh lý. phải có người đứng đầu. Đây là hoạt động để người thủ trưởng phối hợp nỗ lực với các thành viên trong nhóm, trong cộng đồng, trong tổ chức đạt được mục tiêu đề ra" [2, 3]. Theo Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc: “Quản lý là hoạt động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý trong một tổ chức làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức” [7].
Từ các khái niệm về quản lý nêu trên của các tác giả trong và ngoài nước, chúng ta có thể thấy được nội dung cơ bản của khái niệm quản lý như sau: - Quản lý là tác động hợp quy luật có ý thức, mục đích của chủ thể quản lý tới đối tượng quản lý nhằm đạt mục đích đề ra. Quản lý gồm 5 thành tố: + Phương pháp quản lý: là cách thức mà chủ thể quản lý sử dụng để tác động lên đối tượng quản lý (bằng biện phương pháp hành chính: làm căn cứ, mục đích; bằng biện phương pháp kinh tế và bằng biện phương pháp tâm lý xã hội); + Chủ thể quản lý: Lãnh đạo, Hiệu trưởng, Ban giám hiệu, cán bộ quản lý các cơ quan liên quan. 7 c + Đối tượng quản lý: Nơi tác động của chủ thể quản lý: con người, cơ sở vật chất, tài chính, quá trình dạy học và giáo dục; + Mục tiêu quản lý giáo dục: là trạng thái được xác định trong tương lai của đối tượng quản lý giáo dục hoặc của một số yếu tố cấu thành nên hệ thống giáo dục; + Công cụ quản lý: là các căn cứ, các công cụ để thông qua đó chủ thể tác động đến đối tượng quản lý (hệ thống văn bản pháp luật như: Luật giáo dục, Điều lệ nhà trường, Sách giáo khoa; kiến thức về quản lý, kỹ năng quản lý; công cụ hỗ trợ khác: điện thoại, máy tính, internet. - Quản lý vừa là khoa học vừa là nghệ thuật.
Quản lý là một khoa học sử dụng tri thức tổng hợp của khoa học tư nhiên, khoa học xã hội và nhân văn. Quản lý đồng thời cũng là một nghệ thuật đòi hỏi sự khôn ngoan và tinh tế để đạt được mục đích. Quản lý ngày nay được coi là một trong 5 nhân tố phát triển kinh tế xã hội: vốn, nguồn lực lao động, khoa học kỹ thuật, tài nguyên và quản lý. Trong đó quản lý giữ vai trò quyết định sự thành công.
Có thể khái quát: Quản lý là sự tác động có tổ chức, có mục đích.của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý bằng các quyết định, các cơ chế chính sách và phẩm chất uy tín của cơ quan quản lý hay của người quản lý nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các tiềm năng, các điều kiện (nhân lực, tài lực và vật lực.) và các cơ hội nhằm đạt được các mục tiêu của tổ chức trong một môi trường luôn biến động. Khái niệm Quản lý giáo dục GD là một hoạt động cơ bản của xã hội, vì vậy QLGD là quản lý một quá trình xã hội. GD chính là quá trình đào tạo con người một cách có ý thức, có mục đích nhằm chuẩn bị cho con người tham gia lao động xã hội bằng cách tổ chức việc truyền thụ và lĩnh hội những kinh nghiệm lịch sử xã hội của loài người. Tham gia quá trình GD có người dạy, người học và những yếu tố khác có liên quan đến việc dạy và học, tạo thành hệ thống GD.
Hệ thống GD là một bộ phận của hệ thống xã hội, quản lý GD chính là quản lý bộ phận này của xã hội. - Quản lý GD là một bộ phận của quản lý xã hội, là sự tác động có ý thức của chủ thể quản lý lên khách thể quản lý nhằm đưa hoạt động sư phạm của hệ thống GD đạt tới kết quả mong muốn. - Quản lý GD là hệ thống những tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý nhằm tổ chức, điều khiển và quản lý hoạt động GD của những người làm công tác GD.