CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG QUẢN LÝ ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG DẠY HỌC TẠI TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ 1. Tổng quan về vấn đề nghiên cứu 1. Nước ngoài Nền kinh tế thế giới đang bước vào giai đoạn nền kinh tế tri thức. Việc nâng cao hiệu quả chất lượng GD&ĐT sẽ là một trong những yếu tố quyết định sự tồn tại và phát triển của mỗi quốc gia.
Việc ứng dụng CNTT là một trong những giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục. Điều này đặt ra vấn đề cho các nhà quản lý giáo dục là: Làm thế nào để thúc đẩy việc ứng dụng CNTT trong hoạt động dạy học?Vấn đề nghiên cứu các biện pháp quản lý để thúc đẩy ứng dụng CNTT trong giáo dục đã thực sự sự phát triển rộng khắp trên thế giới nói chung và ở Việt Nam nóiriêng. Trên thế giới, các nước có nền giáo dục phát triển đều chú trọng đến việc ứng dụng CNTT như: Nước Mỹ, Australia, Canada, Nhật Bản, Hàn Quốc, Singapore,. Để ứng dụng CNTT được như ngày nay các nước này đã trải qua rất nhiều các chương trình quốc gia về tin học hoá cũng như ứng dụng CNTT vào các lĩnh vực khoa học kỹ thuật và trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, đặc biệt là ứng dụng vào khoa học công nghệ và giáo dục.
Họ coi đây là vấn đề then chốt của cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật, là chìa khoá đểxây dựng và phát triển công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, tăng trưởng nền kinh tế để xây dựng và phát triển nền kinh tế tri thức, hội nhập với các nước trong khu vực và trên toàn thếgiới. Trong nước Nghị quyết TW2, khóa VIII nhấn mạnh: "Đổi mới mạnh mẽ phương pháp giáo dục - đào tạo, khắc phục lối truyền thụ một chiều, rèn luyện thành nếp tư 7 duy sáng tạo của người học. Từng bước áp dụng các phương pháp tiên tiến và phương tiện vào quá trình dạy và học, đảm bảo điều kiện và thời gian tự học, tự nghiên cứu của học sinh, nhất là sinh viên đạihọc". Chính phủ và Bộ Giáo dục và Đào tạo đã coi ứng dụng CNTT trong dạy học là khâu đột phá quan trọng trong nâng cao chất lượng giáo dục.Chương trình quốc gia về CNTT và đề án thực hiện CNTT trong các cơ quan Đảng ban hành kèm theo Quyết định 47 của Ban Bí thư Trung ương Đảng; Quyết định 698/QĐ-TTg ngày 21 tháng 6 năm 2009 của Thủ Tướng Chính phủ phê duyệt kế hoạch tổng thể phát triển nguồn nhân lực CNTT nêu rõ: “Đẩy mạnh việc ứng dụng CNTTtrongtrườngphổthôngnhằmđổimớiphươngphápdạyvàhọctheo hướng giáo viên tự tích hợp CNTT vào từng môn học thay vì học trong môn tin học.
Giáo viên các bộ môn chủ động tự soạn và tự chọn tài liệu và phần mềm để giảng dạy ứng dụng CNTT. Hiện nay, toàn ngành giáo dục đã chủ trương, xác định ứng dụng CNTT là 1 trong 9 nhóm nhiệm vụ trọng tâm triển khai có hiệu quả Nghị quyết số 29 của Ban chấp hành Trung ương Đảng về đổi mới căn bản toàn diện GDĐT. Bộ Giáo dục và Đào tạo đã rất quan tâm đến ứng dụng CNTT trong các nhà trường thông qua Chỉ thị nhiệm vụ các năm học tiếp tục chỉ đạo: “Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý giáo dục, thống nhất quản lý nhà nước về ứng dụng CNTT trong Giáo dục - Đào tạo”.Thủ tướng Chính phủ cũng đã ban hành Đề án tăng cường ứng dụng CNTT trong quản lý giáo dục, hỗ trợ đổi mới dạy - học, nghiên cứu khoa học triển khai trong toàn ngành. Hàng loạt chính sách thúc đẩy chuyển đổi số giáo dục được ban hành, dần hoàn thiện hành lang pháp lý như các quy định ứng dụng CNTT trong quản lý, tổ chức đào tạo qua mạng, quy chế đào tạo từ xa trình độ đại học, quy định quản lý, vận hành sử dụng hệ thống CSDL toàn ngành, mô hình ứng dụng CNTT trường phổ thông, chuẩn dữ liệu kết nối; hướng dẫn nhiệm vụ CNNT cho khối đại học, phổ thông hàng năm và nhiều văn bản chỉ đạo điều hành khác.
8 Về dạy - học, giáo viên toàn ngành được huy động tham gia, đóng góp chia sẻ học liệu vào kho học liệu số toàn ngành; đóng góp lên Hệ tri thức Việt số hóa gần 5.000 bài giảng điện tử e-learning có chất lượng, kho luận văn tiến sĩ với gần 7.000 luận văn, ngân hàng câu hỏi trắc nghiệm với trên 31.000 câu hỏi…góp phần xây dựng xã hội học tập và đẩy mạnh học tập suốt đời. Trong những năm qua việc ứng dụng CNTT trong quản lý và tổ chức hoạt động dạy học đã được nhiều nhà khoa học quan tâm nghiên cứu. Các hội nghị, hội thảo khoa học nghiên cứu về CNTT đã đề cập nhiều đến vấn đề quản lý ứng dụng CNTT trong giáo dục và khả năng áp dụng vào môi trường Giáo dục và Đào tạo ở Việt Nam như:Hội thảo khoa học “Nghiên cứu và triển khai E- Learning” do Viện Công nghệ Thông tin (ĐHQG Hà Nội) và Khoa Công nghệ Thông tin (Đại học Bách khoa Hà Nội) phối hợp tổ chức đầu tháng 3/2005 là hội thảo khoa học về ứng dụng CNTT trong hệ thống giáo dục đầu tiên được tổ chức tại Việt Nam. Qua nghiên cứu các tác giả đều khẳng định ý nghĩa của việc ứng dụng CNTT vào dạy học, đổi mới phương pháp dạy học và vai trò quan trọng của các biện pháp quản lý.
Luận án: “Quản lý ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học ở trường trung học phổ thông”của tác giả Trần Minh Hùng cũng đã đề xuất các biện pháp quản lý hoạt động ứng dụng CNTT trong dạy học của đội ngũ GV một cách khoa học, hợp lý, khả thi trên cơ sở nghiên cứu cơ sở lý luận, đánh giá thực trạng về hoạt động ứng dụng CNTT trong dạy học của đội ngũ GV và công tác quản lý hoạt động ứng dụng CNTT của Hiệu trưởng trường THPT. Từ đó, góp phần nâng cao chất lượng dạy học trường THPT trong giai đoạn hiện nay. Luận văn: “Quản lý ứng dụng công nghệ thông tin trong đổi mới phương pháp dạy học ở các trường THCS quận Long Biên thành phố Hà Nội hiện nay”, tác giả cũng đề xuất một số kiến nghị với các cấp lãnh đạo trong việc triển khai một số biện pháp quản lý ứng dụng CNTT vào dạy học tại các trường thuộc phạm vi quản lý. 9 Trong 1 bài viết Tạp chí giáo dục số 444: “Thực trạng quản lí ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học ở các trường trung học cơ sở thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị” của tác giả Hoàng Đức Trí cũng nêu rõ: Để đáp ứng yêu cầu thực hiện thành công chương trình GDPT mới, trước hết cần xem xét thay đổi tư duy và cách thức quản lí của các nhà QLGD hiện nay.
Trong đó, công tác bồi dưỡng tập huấn nhằm nâng cao năng lực quản lí và kĩ năng tổ chức thực hiện các nội dung giáo dục phải được thực hiện thường xuyên, liên tục. Đặc biệt, chú trọng công tác kiểm tra, đánh giá theo yêu cầu mới của chương trình, hoạt động này phải được thực hiện trong suốt các công đoạn của hoạt động giáo dục. Ngoài ra, để tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà quản lí cần “Tạo cơ chế tự chủ và tự chịu trách nhiệm, đồng thời tăng cường cơ chế giám sát của xã hội, trách nhiệm giải trình và công khai đối với các cơ sở giáo dục Từ các phân tích trên, tác giả nhận thấy quản lý ứng dụng CNTT trong dạy học ở trường THCS là một vấn đề cần thiết nhưng chỉ được nghiên cứu dưới góc độ hẹp. Hiện nay, các luận văn thường tập trung nghiên cứu việc quản lý ứng dụng CNTT song chưa sâu, lại chủ yếu áp dụng cho các trường vùng thuận lợi trong khi đó chưa đề cập việc tháo gỡ những khó khăn khi áp dụng CNTT ở các trường có điều kiện khó khăn hơn.
Một số đề tài thuộc lĩnh vực quản lý CNTT trong dạy học nhưng bàn về công tác quản lý thì ít mà thiên về việc giới thiệu, hướng dẫn sử dụng các phần mềm ứng dụng thì nhiều. Thực tế ở Việt Nam, việc đưa CNTT vào quản lý các hoạt động nhà trường nói chung và quản lý hoạt động dạy học nói riêng còn tồn tại nhiều vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu giải quyết. Một số khái niệm cơ bản 1. Quản lý và quản lý giáo dục 1.Koontz: “Quản lý là một hoạt động thiết yếu, nó đảm bảo phối hợp những nỗ lực hoạt động cá nhân nhằm đạt được các mục tiêu của nhóm (tổ chức).
Mục tiêu của mọi nhà quản lý là nhằm hình thành một môi trường mà trong đó con người có thể đạt được các mục đích của nhóm với thời gian, tiền bạc, vật chất và sự bất mãn cá nhân ít nhất”.Mác nhận định: “Tất cả mọi lao động xã hội trực tiếp hay lao động chung nào tiến hành trên quy mô tương đối lớn, thì ít nhiều cũng cần đến một sự chỉ đạo để điều hòa những hoạt động cá nhân và thực hiện những chức năng chung phát sinh từ sự vận động của cơ thể sản xuất khác với sự vận động của những khí quan độc lập của nó. Một người độc tấu vĩ cầm tự mình điều khiển lấy mình, còn một dàn nhạc thì cần phải có nhạc trưởng”. Tác giả Nguyễn Ngọc Quang nêu rõ: “Quản lý là sự tác động có mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý đến tập thể những người lao động (khách thể quản lý) nhằm thực hiện được những mục tiêu dự kiến”[22]. Còn theo Nguyễn Quang Uẩn: “Quản lý là quá trình tác động của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý thông qua các công cụ, phương tiện để đạt được mục tiêu quản lý”[32].
Từ những định nghĩa trên, có thể định nghĩa: Quản lý là sự tác động có định hướng, có tổ chức của chủ thể quản lý tới đối tượng quản lý nhằm đạt mục tiêu đề ra. Đề tài sử dụng khái niệm này làm công cụ và nền tảng cho các vấn đề nghiên cứu 1. Quản lý giáo dục Theo tác giả Trần Kiểm: “Quản lí giáo dục thực chất là quản lí con người, do đó quan hệ giữa con người với con người là nét nổi bật. Để mối quan hệ này tốt đẹp, người cán bộ quản lí không chỉ có kinh nghiệm mà còn phải am hiểu 11 Khoa học Quản lí, đặc biệt là khoa học quản lí Giáo dục’’[23].