phần mở đầu, kết luận và kiến nghị, tài liệu tham khảo, phụ lục, đề tài nghiên cứu gồm có 03 chƣơng, cụ thể nhƣ sau: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về quản lý công tác tƣ vấn tâm lý cho học sinh tại trƣờng trung học cơ sở Chƣơng 2: Kết quả nghiên cứu về quản lý công tác tƣ vấn tâm lý cho học sinh tại các trƣờng trung học cơ sở huyện Hàm Thuận Nam, tỉnh Bình Thuận Chƣơng 3: Biện pháp quản lý công tác tƣ vấn tâm lý cho học sinh tại các trƣờng trung học cơ sở huyện Hàm Thuận Nam, tỉnh Bình Thuận 5 Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ CÔNG TÁC TƢ VẤN TÂM LÝ CHO HỌC SINH TẠI TRƢỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ 1. Tổng quan các công trình nghiên cứu về Quản lý hoạt động tƣ vấn tâm lý cho học sinh trung học cơ sở Công tác TVTL và QL công tác TVTL cho HS tại trƣờng phổ thông đƣợc các nhà nghiên cứu trong và ngoài nƣớc dành sự quan tâm và nghiên cứu. Có hai hƣớng cụ thể nhƣ sau mà tác giả nghiên cứu đã tìm hiểu và tiếp cận đƣợc là: 1. Các công trình nghiên cứu ở ngoài nước Các tác giả nƣớc ngoài tập trung làm rõ vấn đề lý luận và thực trạng về công tác TVTL và QL công tác TVTL cho HS tại trƣờng phổ thông, cụ thể nhƣ sau: * Hướng nghiên cứu về công tác tư vấn tâm lý cho học sinh Công tác TVTL cho HS đƣợc tiếp cận từ các lý thuyết tâm lý học (TLH) và đều có nguồn gốc từ khoa học tâm lý nên có nhiều cách phân chia khác nhau ở các tác giả, cụ thể nhƣ sau: Tác giả Gabbarb (1995) cho rằng: Phân tâm học là trƣờng phái ra đời sớm nhất của ngành khoa học tâm lý, kể từ khi phân tâm học phát triển đến nay đã có 450 loại liệu pháp tâm lý ra đời.
Tuy nhiên các nhà TLH, các nhà TVTL vẫn cho rằng chỉ có 4 hoặc 5 cách tiếp cận chính, mà trong nó bao chứa hầu hết tất cả các liệu pháp tâm lý khác: (1) Tiếp cận Tâm động học đƣợc đại diện bởi các lý thuyết về Phân tâm học khởi nguồn từ các nghiên cứu của Sigmund Freud; (2) Trƣờng phái Nhân văn - Hiện sinh mà đại diện của nó là tham vấn thân chủ - trọng tâm, chịu ảnh hƣởng từ nhà nghiên cứu khoa học nhân văn nổi tiếng Carl Rogers; (3) Trƣờng phái Nhận thức với liệu pháp thƣờng đƣợc nhắc đến là nhận thức, xúc cảm - lý trí (thuần lý) chịu ảnh hƣởng bởi Jean Piaget và Albert Bandura ;(4) Trƣờng phái Hành vi với cách tiếp cận hành vi mới. Thuyết hành vi có sự khác biệt so với các học thuyết khác, thay vì tập trung vào trạng trái nội tâm con ngƣời, nó chỉ chú trọng đến các hành vi bên ngoài, có thể quan sát đƣợc; (5) Tiếp cận đa văn hóa với quan điểm “Chiết trung” không lấy một học thuyết nào làm trung tâm, phƣơng pháp nghiên cứu chủ yếu là nghiên cứu sâu từng trƣờng hợp. Sự lựa chọn hình thức tham vấn tâm lý nào phụ thuộc vào sở thích cá nhân, thời gian, tiền bạc và vấn đề của mỗi thân chủ. Áp dụng rập khuôn các liệu pháp vào mỗi thân chủ khác nhau không mang lại hiệu quả, có những liệu pháp mang lại kết quả cho ngƣời này nhƣng lại thất bại với ngƣời khác.
Vì vậy, khó có thể nói liệu pháp tâm lý nào là tốt nhất (dẫn theo Trần Thị Minh Đức, 2012, tr. Godefroid (1987), các phƣơng pháp tiếp cận thân chủ có thể phân thành hai nhóm lớn, đó là phƣơng pháp tiếp cận nội tâm và phƣơng pháp tiếp cận ứng xử: (1) Phƣơng pháp tiếp cận nội tâm nhằm giúp cho thân chủ tìm ra nguyên nhân các vấn đề của mình hoặc lý do ngăn cản họ tìm ra đƣợc các giải pháp dù là trên bình diện cá nhân hay trên bình diện xã hội với giả định là khi tình huống đã đƣợc làm sáng tỏ, thân chủ có thể tự tiến hành những việc khiến cho mình tiến bộ và do đó làm biến mất những ứng xử không thích nghi. Phƣơng pháp này dựa vào nguyên lý cho rằng hành vi ứng xử không bình thƣờng là do sự giải mã sai của con ngƣời về những tình cảm, những nhu cầu, những động cơ bên trong của mình. Do đó, mục đích của phƣơng pháp tiếp cận này là tác động vào các quá trình nhƣ tri giác, tƣ duy, nhu cầu, động cơ, xúc cảm, tình cảm,… của thân chủ, để thân chủ có thể thay đổi những hành vi ứng xử nhằm thích nghi với hoàn cảnh sống của họ.
Tiếp cận nội tâm bao gồm các phƣơng pháp nhƣ: Phân tâm học cũ và mới; thân chủ trọng tâm; cấu trúc và phƣơng pháp tiếp cận nhận thức; xúc cảm - lý trí;… (2) Phƣơng pháp tiếp cận ứng xử xuất phát từ nguyên lý cho rằng rối nhiễu tâm lý chỉ là do sự hiện diện của một hành vi không thích ứng đƣợc thân chủ, những ngƣời xung quanh hoặc nhà tham vấn xác định nhƣ vậy. Phƣơng pháp này áp dụng những nguyên tắc điều kiện hoá và sự củng cố để biến đổi những mẫu ứng xử không mong muốn phối hợp những rối nhiễu tâm lý. Nó đƣợc dùng để sửa chữa tích cực những ứng xử bất thƣờng và những vấn đề cá nhân, bao gồm sự sợ hãi, sự thúc ép, trầm cảm, nghiện ma tuý, tấn công và những hành vi tội phạm. Đây là phƣơng pháp tham vấn tốt nhất với những rối nhiễu tâm lý đặc trƣng hơn là những rối nhiễu chung chung của thân chủ.
Nhƣ vậy, phƣơng pháp tiếp cận ứng xử chỉ duy nhất tìm cách thay đổi hoặc làm mất đi những ứng xử, hành vi đƣợc xem là không thích ứng của thân chủ, mà không quan tâm nhiều đến các quá trình tâm lý bên trong của thân chủ (dẫn theo Trần Thị Minh Đức, 2012, tr. Aubey (1977) nhận định về sự phát triển của các học thuyết tâm lí, đƣợc vận dụng trong thực hành tham vấn nhƣ sau: Nếu phải chọn ra một thập kỷ trong lịch sử có ảnh hƣởng sâu rộng nhất đến các nhà tham vấn thì đó là thập niên 50 của thế kỷ XX. Vào thời gian này, các lí thuyết nghiên cứu về quá trình phát triển tâm lí con ngƣời đã cho phép các nhà tham vấn vận dụng nó để giúp đỡ cho các thân chủ của mình. Các học thuyết tâm lí này là cơ sở khoa học cho việc nhận biết, giải thích nguồn gốc của hành vi và các biểu hiện rối loạn tâm lí ở con ngƣời nhƣ, nhƣ: Thuyết phát triển tâm lí – xã hội; Thuyết phát triển tƣ duy trẻ em; Thuyết phát triển đạo đức con ngƣời; Thuyết gắn bó mẹ - con; Thuyết 7 tổn thƣơng tâm lí,… (dẫn theo Trần Thị Minh Đức, 2012, tr.
Công tác TVTL cho HS cũng đƣợc các nhà nghiên cứu tiếp cận theo nhiều hƣớng, cụ thể nhƣ sau: Công tác TVTL cho HS (Tham vấn tâm lý học đƣờng - School Counseling) một nhánh của ngành TVTL đƣợc chính thức bắt đầu từ cuối thế XIX sang đầu thế kỷ XX tại Hoa Kỳ. Tuy nhiên, TVTL có thể bắt nguồn từ tƣ tƣởng nền tảng về các nguyên tắc tƣ vấn của các nhà triết học Hy Lạp và La Mã cổ đại nhƣ: Plato, Aristotle, Socrates,. Mặt khác, TVTL cũng có bằng chứng cho rằng một số kỹ thuật và kỹ năng của các cố vấn hƣớng dẫn đã đƣợc các linh mục Công giáo thực hành vào thời Trung cổ, có thể thấy đƣợc bằng sự cống hiến cho tính bảo mật của khái niệm trong tòa giải tội. Công tác tƣ vấn hƣớng nghiệp, một phần quan trọng của TVTL học sinh ngày nay, bắt nguồn từ công trình nghiên cứu của Tomasco Gazoni (1626) “Tổng quan thị trường nghề nghiệp trên thế giới” (The Universal Plaza of All the Professions of the World).
Công tác tƣ vấn tâm lý cho học sinh đƣợc ghi nhận xuất phát và lớn mạnh ở Hoa Kỳ, từ công tác tƣ vấn hƣớng nghiệp vào những năm đầu của thế kỷ XX. Những tác giả có đóng góp cho sự ra đời của công tác tƣ vấn hƣớng nghiệp trong giai đoạn này là Francis Galton, Wilhelm Wundt, James Catell, G. Stanley Hall, Alfred Binet, Jesse Davis, Frank Parsons, Robert Yerkers (dẫn theo Trần Thị Minh Đức, 2012, tr. Năm 1953, hiệp hội các nhà tham vấn tâm lý học đƣờng Hoa Kỳ (ASCA) tham gia vào APGA (American Personnel and Guidance Association), tiền thân của hiệp hội tham vấn tâm lý Hoa Kỳ ACA (American Counseling Association) ngày nay.
Năm 1962, cuốn sách của Wrenn, “Nhà tham vấn trong một thế giới thay đổi” (The Counselor in a Changing World) đã định chế hóa các mục tiêu của tham vấn học đƣờng. Năm 1964, ASCA phát triển các vai trò và chức năng dành cho các nhà tham vấn học đƣờng (dẫn theo Ngô Minh Uy, 2011). Trong công tác TVTL cho HS tại trƣờng cũng có thực hiện công tác tƣ vấn hƣớng nghiệp, các lý thuyết có thể kể đến: Công tác tƣ vấn hƣớng nghiệp là một nhánh của công tác tƣ vấn tâm lý cho học sinh, phát triển dựa trên khoa học trắc nghiệm cho học sinh kiểm tra sự khác biệt tâm - sinh lý của các cá nhân. Từ đó đã đánh dấu sự uy tín của bài trắc nghiệm vá đánh đấu giai đoạn ứng dụng rộng rãi ban đầu của các công cụ đo lƣờng.
Vì vậy, công tác này nhanh chóng đƣợc sử dụng để trợ giúp các học sinh trong việc ra quyết định chọn nghề bên cạnh xác 8 định sở thích, đam mê của từng cá nhân. Những công cụ đánh giá học sinh trên nhanh chóng đƣợc sử dụng trong tƣ vấn nghề nghiệp và đánh dấu giai đoạn đầu của công tác vấn tâm lý cho học sinh. Những ngƣời đầu tiên khởi xƣớng và hệ thống hóa nghiệp vụ tƣ vấn hƣớng nghiệp, tiền thân của công tác tƣ vấn tâm lý cho học sinh nhƣ: Jesse B. Davis, Frank Parsons, Edmund G.
Williamson, Cliffort Beer,… Jesse B. Davis có thể đƣợc xem là một trong những ngƣời đầu tiên trong lĩnh vực tƣ vấn hƣớng nghiệp khi giới thiệu một chƣơng trình “Những hƣớng dẫn về nghề nghiệp và đạo đức” (Vocational and Moral Guidance) cho học sinh các trƣờng học công. Frank Parsons (1909) đƣợc xem nhƣ cha đẻ của nghề Hƣớng dẫn (còn gọi Khải đạo) đã viết cuốn sách “Chọn lựa một nghề ” (Choosing a Vocation) qua đó trình bày phƣơng pháp kết nối những đặc điểm tính cách của một cá nhân với một nghề nghiệp (dẫn theo Trƣơng Thị Hằng, 2013, tr. Williamson (1930) đã đƣa ra một lý thuyết hoàn chỉnh về tham vấn với tên gọi là “Tiếp cận đặc điểm và nhân tố” (E.
Williamson’s Trait and Factor theory) với các bƣớc trên cơ sở tƣ tƣởng của F.