CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN Ở chương này, nhóm tác giả sẽ trình bày tổng quan tình hình nghiên cứu và những cơ sở lý luận có liên quan đến hoạt động tự học và quản lý hoạt động tự học. Đây là những thông tin có giá trị giúp cho việc quản lý hoạt động tự học của SV đạt hiệu quả. Tổng quan tình hình nghiên cứu Ở Việt Nam đã có nhiều nhà khoa học với các công trình nghiên cứu đã đưa ra những quan điểm và cơ sở lý luận tiến bộ về vấn đề tự học như các tác giả. Tác giả Hoàng Anh và Đỗ Thị Châu trong cuốn sách “Tự học của SV” đã đề cập các động cơ học tập và yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động học tập và tự học của người học, bản chất và đặc điểm của hoạt động học tập có mục đích, cấu trúc của hoạt động học tập [1].
Tác giả Nguyễn Cảnh Toàn trong cuốn sách: “Quá trình dạy – tự học” đã nghiên cứu và đưa ra những kinh nghiệm khắc phục và các phương pháp bảo đảm kết quả của việc tự học. Theo tác giả, mục tiêu đào tạo của các trường hiện nay cần chú trọng rèn luyện cho người học các kỹ năng và phương pháp học ở mọi nơi, mọi lúc, học mọi người, học bằng mọi cách và học qua mọi nội dung. Tác giả cũng đề cập đến nhiều loại tư duy cần rèn luyện trong quá trình học tập [21]. Nhiều công trình khác của các tác giả như Lê Khánh Bằng (1998) “Tổ chức phương pháp tự học cho sinh viên đại học” Nxb ĐHSP Hà Nội [2], tác giả Vũ Quốc Chung, Lê Hải Yến (2003) “Để tự học đạt hiệu quả” Nxb ĐHSP Hà Nội [3] đều xác nhận vai trò thiết yếu của tự học trong quá trình học tập và rèn luyện để hội nhập và cũng đã đề cập đến những biện pháp hiệu quả trong vấn đề quản lí và đầu tư nâng cao chất lượng tự học, xác định những yêu cầu cơ bản để tiến hành và thực hiện việc tự học.
Chủ tịch Hồ Chí Minh – vị lãnh tụ kính yêu của dân tộc là một tấm gương sáng ngời về ý chí quyết tâm trong học tập và tự học, tự rèn luyện. Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nói “học tập là một việc suốt đời,” “trong cách học, phải lấy tự học làm cốt”. Tự học có vai trò đặc biệt quan trọng, là một trong những yếu tố quyết định tạo nên trí tuệ con người [10]. Mục 2, điều 40 của Luật Giáo dục 2005 (được thông qua tại kỳ họp thứ 7 của Quốc hội khóa XI ngày 14/6/2005) nêu rõ: “Phương pháp đào tạo trình độ cao đẳng, trình độ ĐH phải coi trọng việc bồi dưỡng ý thức tự giác trong học tập, năng lực tự học, tự nghiên cứu, phát triển tư duy sáng tạo, rèn luyện kỹ năng thực 4 hành, tạo điều kiện cho người học tham gia nghiên cứu, thực nghiệm, ứng dụng.” Bên cạnh đó, có khá nhiều các bài báo khoa học đăng tải trên các tạp chí khoa học chuyên ngành có nội dung nghiên cứu về vấn đề tự học và quản lý hoạt động tự học như bài: “Tự học và một số yêu cầu về tự học của SV đáp ứng hình thức đào tạo theo học chế tín chỉ”, tạp chí Giáo dục, số đặc biệt tháng 10/2019 của nhóm tác giả Đinh Thị Hoa, Lê Hồng Phượng, Đinh Thành Công [8]; hoặc bài “Thực trạng về quản lý hoạt động tự học của SV trường ĐH Khoa học – ĐH Thái Nguyên”, tạp chí Khoa học và công nghệ - ĐHTN, số 225 tháng 12/2020 của tác giả Phí Đình Khương, Lâm Thùy Dương [16]; Ngoài ra, có nhiều các đề tài luận văn chuyên ngành quản lý giáo dục, giáo dục học có đề cập đến lĩnh vực quản lý hoạt động tự học của SV.
Tiêu biểu như các đề tài về “Quản lý hoạt động tự học của SV trường ĐH Thủ Dầu Một tỉnh Bình Dương” hoàn thành năm 2014, người hướng dẫn: PGS.TS Nguyễn Thị Mỹ Trinh, người thực hiện Lê Văn Hải [4]; Hoặc đề tài của tác giả Vũ Thị Lý “Quản lý hoạt động tự học của SV trong đào tạo theo học chế tín chỉ tại trường ĐH Hòa Bình” (hoàn thành năm 2014, người hướng dẫn: TS Nguyễn Mai Hương [13]. Hoặc đề tài của tác giả Vũ Thị Bích Liên “Quản lý hoạt động tự học của SV trường ĐH Hùng Vương” hoàn thành năm 2016, người hướng dẫn: PGS.TS Lê Kim Long) [14] cũng là các đề tài nghiên cứu liên quan lĩnh vực tự học. Các đề tài này cũng đều tập trung phân tích và làm rõ cơ sở lý luận của vấn đề quản lý hoạt động tự học của SV trong giai đoạn hiện nay, phân tích thực trạng hoạt động tự học và thực trạng quản lý hoạt động này tại các cơ sở giáo dục khác nhau, đồng thời các đề tài trên cũng đã xây dựng được hệ thống các biện pháp quản lý phù hợp và đánh giá được năng lực tự học của SV tại một số nhà trường trong thời gian gần đây. Trên thế giới, đến đầu thế kỷ 20 hệ thống tín chỉ được áp dụng rộng rãi hầu như trong mọi trường ĐH Hoa Kỳ.
Tiếp sau đó, nhiều nước lần lượt áp dụng hệ thống TC trong toàn bộ hoặc một bộ phận của trường ĐH nước mình: các nước Bắc Mỹ, Nhật Bản, Philippin, Đài Loan, Hàn Quốc, Thái Lan, Malaisia, Indonesia, Ấn Độ, Senegal, Nigeria, Uganda.Tại Trung Quốc từ cuối thập niên 80 đến nay hệ thống tín chỉ (TC) cũng lần lượt được áp dụng ở nhiều trường ĐH. Vào năm 1999, 29 bộ trưởng đặc trách giáo dục ĐH ở các nước trong Liên minh châu Âu đã ký Tuyên ngôn Boglona nhằm hình thành Không gian Giáo dục ĐH Châu Âu (European Higher Education Area) thống nhất vào năm 2010, 5 một trong các nội dung quan trọng của Tuyên ngôn đó là triển khai áp dụng học chế TC (European Credit Transfer System -ECTS) trong toàn hệ thống GDĐH để tạo thuận lợi cho việc cơ động hóa, liên thông hoạt động học tập của SV trong khu vực châu Âu và trên thế giới. Nhiều nhà khoa học trên thế giới đã nghiên cứu và có những quan điểm riêng về vấn đề tự học theo học chế tín chỉ. Tác giả Bobbi Deporter & Mike Hernacki trong quyển sách có tựa đề “Phương Pháp học tập siêu tốc” của NXB Tri thức (2007) [33] đã trình bày khá đầy đủ “kĩ thuật học tập” trên cơ sở tự mình xác lập và thực hiện “Phương Pháp học tập siêu tốc” Ở đây coi trọng vai trò tự giác trong học tập của người học, xác định động lực tự học được hình thành từ tình cảm, từ ý thức của người học.
Rubakin (1862-1946) trong tác phẩm “Tự học như thế nào” đã nhấn mạnh vai trò và thái độ tích cực tự học của học sinh trong việc chiếm lĩnh tri thức. NA Rubakin đã thấy rõ vai trò của yếu tố động cơ trong tự học của học sinh. Muốn người học học tập có kết quả thì trong dạy học phải giáo dục con người có động cơ đúng đắn trong tự học. Ông khẳng định: “Việc giáo dục động cơ đúng đắn là điều kiện cơ bản để học sinh tích cực, chủ động trong tự học”.
Rubakin kết luận rằng: Hãy mạnh dạn tự mình đặt ra câu hỏi rồi tự mình tìm lấy câu trả lời - đó chính là phương pháp tự học. Tuy nhiên, chỉ có động cơ thôi vẫn chưa đủ mà người học cần phải có kỹ năng tự học thì mới tự học có hiệu quả. [39] Qua các công trình nghiên cứu đã đề cập trên đây, có thể thấy rằng vấn đề về tự học của SV đã được nhiều nhà khoa học trong và ngoài nước dành sự quan tâm, nghiên cứu. Tuy nhiên, chưa có nghiên cứu chuyên sâu nào về hoạt động tự học nói chung và quản lý hoạt động tự học của SV Khoa tiếng Anh, trường ĐH Mở Hà Nội nói riêng.
Chính vì vậy, nhóm nghiên cứu đã lựa chọn đề tài “Quản lý hoạt động tự học của SV Khoa tiếng Anh, trường ĐH Mở Hà Nội” để thực hiện nhằm đề xuất các biện pháp quản lý hoạt động tự học của SV từ đó thúc đẩy, nâng cao chất lượng hoạt động này tại Khoa Tiếng Anh trong giai đoạn hiện nay. Một số khái niệm cơ bản của đề tài 1. Khái niệm tự học, năng lực tự học 6 Về khái niệm tự học: Tự học là một thuật ngữ đã được nghiên cứu và bàn luận từ rất lâu cả trong và ngoài nước. Đã có rất nhiều quan điểm về tự học của các nhà nghiên cứu nổi tiếng như: - Theo quan điểm của tác giả Đặng Vũ Hoạt và Hà Thị Đức trong cuốn “Lý luận dạy học ĐH” thì “Tự học là một hình thức tổ chức dạy học cơ bản ở ĐH.
Đó là một hình thức nhận thức của cá nhân, nhằm nắm vững hệ thống tri thức và kỹ năng do chính người học tự tiến hành ở trên lớp hoặc ở ngoài lớp, theo hoặc không theo chương trình và sách giáo khoa đã được quy định”, [5]. - Tác giả Bùi Hiền cũng nêu quan điểm về tự học trong từ điển Giáo dục học (2001) như sau: “Tự học là quá trình hoạt động lĩnh hội tri thức khoa học và rèn luyện kĩ năng thực hành…” [6]. - Tác giả Lê Khánh Bằng thì cho rằng: “Tự học là tự mình suy nghĩ, sử dụng các năng lực trí tuệ và phẩm chất tâm lý để chiếm lĩnh một lĩnh vực khoa học nhất định” [2]. - Theo tác giả Đặng Thành Hưng thì “Tự học là chiến lược học tập cá nhân độc lập, không phụ thuộc trực tiếp vào người dạy hay học chế nhất định, do người học tự mình quyết định và tự nguyện tiến hành học tập kể từ mục đích, nội dung, cách thức, phương tiện, môi trường và điều kiện học tập cho đến kế hoạch và nguồn lực học tập”.
- Tác giả Nguyễn Hiến Lê quan niệm: “Tự học là không ai bắt buộc mình mà tự mình tìm tòi, học hỏi để hiểu biết thêm. Tự học là quá trình học tập một cách tự giác, tự nguyện, tự vạch ra kế hoạch để học tập, tự lựa chọn nội dung, phương pháp, sắp xếp thời gian hợp lý với đặc điểm, phương tiện thích hợp để lĩnh hội tri thức, kỹ năng học tập, giá trị làm người” [12].