mở đầu của hệ thống kiểm định chất lượng các trường đại học. Đến nay kiểm định chất lượng giáo dục với 10 ý nghĩa thực tiễn trong việc nâng cao chất lượng giáo dục của các nhà trường, đã có sức lan tỏa trên toàn cầu và được áp dụng ở tất cả các bậc học trong hệ thống giáo dục của mỗi quốc gia từ bậc mầm non đến đại học và bước đầu phát huy tác dụng trong việc đánh giá hiện trạng các cơ sở giáo dục theo tiêu chuẩn đề ra, tìm các điểm mạnh điểm yếu của cơ sở giáo dục, từ đó phát huy điểm mạnh, khắc phục điểm yếu để phát triển. Các công trình nghiên cứu Việt Nam Tại Việt Nam, nhiều công trình nghiên cứu về kiểm định chất lượng trong giáo dục như: Tác giả Nguyễn Đức Chính (2002) trong công trình “Kiểm định chất lượng trong giáo dục” đã trình bày rất rõ các khái niệm liên quan đến thuật ngữ kiểm định chất lượng giáo dục (Quality accreditation). Bên cạnh đó, tác giả cũng đã phân tích về kiểm định chất lượng trong giáo dục ở các nước trên thế giới.
Nghiên cứu này đã đi sâu, chi tiết các phương pháp, kỹ thuật, quy trình, cơ chế, chính sách kiểm định chất lượng giáo dục ở các nước Châu Âu, Hoa kỳ, Châu Á Thái Bình Dương []. Tác giả Trần Khánh Đức (2004) với công trình “Quản lý và kiểm định chất lượng đào tạo nhân lực” đã phân tích kiểm định chất lượng cơ sở giáo dục hay kiểm định chương trình giáo dục chỉ thực hiện được một cách có hiệu quả khi việc xây dựng hệ thống đảm bảo chất lượng trong nhà trường được giải quyết. Thêm nữa, một cơ sở giáo dục bất kỳ muốn hoạt động để đạt được mục tiêu hay vươn tới sứ mệnh của tổ chức mình thì phải thiết kế, vận hành hệ thống đảm bảo chất lượng tại cơ sở giáo dục đó. Tác giả cho rằng, kiểm định chất lượng là một khâu trong quá trình quản lý chất lượng và chính kiểm định chất lượng là phương pháp, là công cụ để đánh giá hệ thống đảm bảo chất lượng của tổ chức đó.
Ngoài ra, tác giả cũng đề cập đến quy trình kiểm định chất lượng từ khâu đăng ký tự đánh giá, tự đánh giá, đánh giá ngoài và đến công nhận kiểm định chất lượng. Công trình này, tác giả cũng trình bày rất rõ về mục đích, ý 11 nghĩa, nội dung, chuẩn mực để đánh giá một cơ sở đào tạo theo các mô hình đảm bảo chất lượng khác nhau []. Tháng 11/2005, Viện Chiến lược và chương trình giáo dục tổ chức seminar khoa học “Những tiêu chí và chỉ số cơ bản của chất lượng giáo dục” trong khuôn khổ đề tài nghiên cứu khoa học giáo dục cấp Bộ “Cơ sở lý luận và thực tiễn về chất lượng giáo dục và đánh giá chất lượng giáo dục”. Seminar đã đưa ra một báo cáo cụ thể về “Những tiêu chí và chỉ số cụ thể của chất lượng giáo dục cấp hệ thống” trong đó nêu cụ thể 19 tiêu chí cơ bản và 63 chỉ số chất lượng của hệ thống GDMN.
Tuy nhiên, các đề tài chỉ đề cập đến những vấn đề về cơ sở lý luận khoa học chung cho công tác kiểm định chất lượng giáo dục. Một số công trình luận văn thạc sĩ nghiên cứu về quản lý hoạt động tự đánh giá chất lượng giáo dục ở trường phổ thông như tác giả Nguyễn Thanh Tú (2011), Nghiên cứu quy trình đánh giá theo tiêu chuẩn KĐCLGD và các biện pháp giáo dục nâng cao năng lực tự đánh giá cho sinh viên sư phạm; nghiên cứu của tác giả Phạm Anh Đức (2014), Quản lý hoạt động tự đánh giá chất lượng giáo dục của Hiệu trưởng các trường THCS ở Thành phố Thái Bình; nghiên cứu của tác giả Lê Trường Sơn (2016), Quản lý hoạt động KĐCLGD các trường THPT trên địa bàn tỉnh Bắc Giang; nghiên cứu của tác giả Phạm Thị Thanh Nguyên (2017), Quản lý hoạt động tự đánh giá trong KĐCLG tại trường ĐHSP Thành Phố Hồ Chí Minh. Vũ Thị Hạnh (2020), Quản lý hoạt động tự đánh giá trong kiểm định chất lượng trường mầm non huyện Yên dũng, tỉnh Bắc giang. Đánh giá các công trình nghiên cứu và xác định các vấn đề cần giải quyết trong luận văn Các công trình nghiên cứu trên thế giới và trong nước về hoạt động tự đánh giá và quản lý hoạt động tự đánh giá trong kiểm định chất lượng giáo dục ở các trường phổ thông đã xác định đây là hoạt động quan trọng trong kiểm định chất lượng giáo dục ở các trường.
Các công trình nghiên cứu cũng chỉ ra các nội dung cơ bản theo các tiêu chí của kiểm định chất lượng cũng như quản lý hoạt động tự đánh giá trong kiểm định chất lượng giáo dục hiện nay ở các cấp học nói chung và ở bậc học THCS nói riêng. Tuy nhiên, trên địa bàn tỉnh Hưng Yên vẫn chưa có công trình nào đề cập đến công tác quản lý hoạt động tự đánh giá trong kiểm định chất lượng giáo dục ở các trường THCS. Do đó, tôi thấy rằng việc lựa chọn vấn đề nâng cao hiệu quả quản lý hoạt động tự đánh giá chất lượng giáo dục ở các trường THCS huyện Ân Thi, tỉnh Hưng Yên là vấn đề cần thiết, cần được nghiên cứu góp phần giúp các nhà quản lý nâng cao chất lượng và hiệu quả trong công tác tự đánh giá đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục hiện nay. Các khái niệm cơ bản của đề tài 1.
Quản lý, quản lý nhà trường 1. Quản lý Hoạt động quản lý xuất hiện rất sớm từ khi con người biết hợp sức lại với nhau để thực hiện một mục đích nào đó. Từ thời thượng cổ, trung cổ đến thời hiện đại, trải qua hàng nghìn năm lịch sử phát triển hoạt động quản lý đã có những phát triển và trở thành bộ môn khoa học quản lý. Có nhiều khái niệm khác nhau về quản lý.
Về khái niệm quản lý còn có rất nhiều định nghĩa khác nhau: C.Mac đã viết: “Tất cả mọi lao động xã hội trực tiếp hay lao động chung nào tiến hành trên quy mô tương đối lớn thì ít nhiều đều cần đến một sự chỉ đạo điều hành những hoạt động cá nhân và thực hiện những chức năng chung phát sinh từ sự vận động của toàn bộ cơ thể, khác với sự vận động của các khí quan 13 độc lập với nó. Một người độc tấu vĩ cầm thì tự điều khiển lấy mình, còn một dàn nhạc thì cần phải có nhạc trưởng” [].Koontz thì lại khẳng định: “Quản lý là một hoạt động thiết yếu, nó đảm bảo phối hợp những nỗ lực hoạt động cá nhân nhằm đạt được các mục đích của nhóm (tổ chức). Mục tiêu của quản lý là hình thành một môi trường mà trong đó con người có thể đạt được các mục đích của nhóm với thời gian, tiền bạc, vật chất và sự bất mãn cá nhân ít nhất” []. Nhóm tác giả Nguyễn Thị Tuyết Hạnh, Đặng Thị Thanh Huyền và Lê Thị Mai Phương cho rằng “Quản lý là quá trình thực hiện các công việc xây dựng kế hoạch hành động (bao gồm cả xây dựng mục tiêu cụ thể, chế định kế hoạch, quy định tiêu chuẩn đánh giá và thể chế hóa), sắp xếp tổ chức (bố chí tổ chức, phối hợp nhân sự, phân công công việc, điều phối nguồn lực tài chính và kĩ thuật…), chỉ đạo, điều hành, kiểm soát và đánh giá kết quả, sửa chữa sai sót (nếu có) để đảm bảo hoàn thành mục tiêu của tổ chức đề ra” [].
Theo các tác giả Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc, khái niệm về quản lý được định nghĩa như sau: “Quản lý là quá trình đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng vận dụng các hoạt động (chức năng) kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ đạo (lãnh đạo) và kiểm tra” []. Tác giả Nguyễn Ngọc Quang quan niệm: “Quản lý là hoạt động có mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý đến tập thể những người lao động nói chung là khách thể quản lý nhằm thực hiện được những mục tiêu dự kiến” []. Từ những quan niệm của các học giả đã nêu, chúng ta có thể rút ra nhận xét sau: Tuy cách diễn đạt khác nhau nhưng những định nghĩa trên đều thể hiện được bản chất của hoạt động quản lý đó là hoạt động quản lý nhằm làm cho hệ thống vận động theo mục tiêu đã đặt ra, tiến đến trạng thái có chất lượng mới. Quản lý là hoạt động có chủ đích, được tiến hành bởi một chủ thể quản lý nhằm tác động lên khách thể quản lý để thực hiện các mục tiêu xác định của công tác quản lý.
Chủ thể tiến hành những hoạt động theo các chức năng 14 quản lý như xác định mục tiêu, các chủ trương, chính sách; hoạch định kế hoạch, tổ chức và chỉ đạo thực hiện, kiểm tra để thực hiện các mục tiêu quản lý. Trong quản lý có hai bộ phận khăng khít, đó là chủ thể quản lý và khách thể quản lý. Chủ thể quản lý có thể là cá nhân hay một nhóm người có chức năng quản lý hay điều khiển tổ chức, làm cho tổ chức vận hành và đạt tới mục tiêu. Khách thể quản lý bao gồm những người thừa hành nhiệm vụ trong tổ chức, chịu sự tác động, chỉ đạo của chủ thể quản lý nhằm đạt mục tiêu chung.
Chủ thể quản lý làm nảy sinh các tác động quản lý, còn khách thể quản lý sản sinh ra vật chất và tinh thần có giá trị sử dụng, trực tiếp đáp ứng nhu cầu con người, đáp ứng mục đích của chủ thể quản lý. Những định nghĩa trên đây tuy khác nhau về cách diễn đạt, nhưng đều có điểm chung ở những nội dung cơ bản, quản lý phải bao gồm các yếu tố (các điều kiện) sau: Có (ít nhất một) chủ thể quản lý và đối tượng quản lý tiếp nhận các tác động của chủ thể quản lý và các khách hể có quan hệ gián tiếp với chủ thể quản lý. Phải có một mục tiêu và một quỹ đạo đặt ra cho cả đối tượng quản lý và chủ thể quản lý. Chủ thể phải thực hành việc tác động và phải biết tác động.
Vì thế đòi hỏi chủ thể phải biết tác động và điều khiển đối tượng một cách có hiệu quả. Chủ thể quản lý có thể là một cá nhân hoặc một cơ quan quản lý, còn đối tượng quản lý có thể là con người, giới vô sinh hoặc sinh vật. Khách thể là các yếu tố tạo nên môi trường của hệ thống. Như vậy, có thể khái quát: quản lý là sự tác động chỉ huy, điều khiển, hướng dẫn các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người nhằm đạt tới mục đích đã đề ra.