CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ THUẾ NHẬP KHẨU VÀ QUẢN LÝ THUẾ NHẬP KHẨU 1. KHÁI QUÁT VỀ HÀNG HÓA NHẬP KHẨU, THUẾ NHẬP KHẨU VÀ QUẢN LÝ THUẾ NHẬP KHẨU 1. Hàng hóa nhập khẩu a. Khái niệm “Hàng hóa nhập khẩu bao gồm động sản có tên gọi và mã số theo Danh mục hàng hóa nhập khẩu Việt Nam được nhập khẩu hoặc được lưu giữ trong địa bàn hoạt động hải quan”.
Phân loại hàng hóa nhập khẩu [2, tr 108], [1, tr 108] Hàng hóa nhập khẩu là các loại hàng hóa nhập khẩu nằm trong danh sách các mặt hàng được phép nhập khẩu với mục đích kinh doanh mua bán, sản xuất…Hàng hóa nhập khẩu được phân loại theo mục đích sản xuất kinh doanh và theo đối tượng doanh nghiệp, bao gồm các loại hình nhập khẩu sau: - Hàng hóa nhập khẩu theo hợp đồng mua bán hàng hóa: Là hàng hóa nhập khẩu với mục đích thương mại thông thường, có hợp đồng mua bán hàng hóa hoặc giấy tờ có giá trị pháp lý tương đương hợp đồng, có hóa đơn thương mại, vận tải đơn…Trong nhiều trường hợp, hàng hóa nhập khẩu phải có giấy phép nhập khẩu theo quy định của pháp luật. Loại hàng hóa này thường được dùng với mục đích kinh doanh, bán buôn trên thị trường Việt Nam (thường được gọi là hàng NK kinh doanh). - Hàng hóa nhập khẩu để thực hiện hợp đồng gia công với thương nhân nước ngoài: là những nguyên liệu gia công nhập khẩu do bên đặt gia công giao cho bên nhận gia công để sản xuất thành sản phẩm hoàn chỉnh xuất khẩu, đảm bảo yêu cầu của bên đặt gia công. 10 - Hàng hóa nhập khẩu theo loại hình nhập nguyên liệu để sản xuất hàng xuất khẩu: hàng hóa nhập khẩu theo loại hình này là nguyên liệu, vật tư nhập khẩu để sản xuất thành sản phẩm xuất khẩu.
- Hàng hóa nhập khẩu của doanh nghiệp chế xuất: là hàng hóa nhập khẩu của doanh nghiệp chế xuất, được làm thủ tục hải quan tại Chi cục Hải quan quản lý doanh nghiệp chế xuất. - Hàng hóa nhập khẩu để thực hiện dự án đầu tư: là hàng hóa nhập khẩu để tạo tài sản cố định, phục vụ sản xuất của dự án được ưu đãi đầu tư. - Hàng hóa kinh doanh theo phương thức tạm nhập tái xuất: là việc thương nhân Việt Nam mua hàng của một nước để bán cho một nước khác, có làm thủ tục nhập khẩu hàng hóa vào Việt Nam và làm thủ tục xuất khẩu chính hàng hóa đó ra khỏi Việt Nam. Khái niệm “bán cho nước khác” được hiểu là bán cho thương nhân nước khác - nước thứ 3.
- Hàng hóa nhập khẩu phục vụ mục đích an ninh quốc phòng; nghiên cứu khoa học, giáo dục đào tạo do các Bộ quản lý chuyên ngành duyệt… - Một số loại hàng hóa khác: thông thường là những hàng hóa không có hợp đồng mua bán, bao gồm: Quà biếu, tặng của tổ chức, cá nhân ở nước ngoài gửi cho tổ chức, cá nhân Việt Nam; của tổ chức, cá nhân ở Việt Nam gửi cho tổ chức, cá nhân ở nước ngoài; Hàng mẫu không thanh toán; Tài sản di chuyển của tổ chức, cá nhân; Hành lý cá nhân của người nhập cảnh gửi theo vận đơn, hàng hóa mang theo người của người nhập cảnh vượt tiêu chuẩn miễn thuế. Thuế nhập khẩu a. Khái niệm [28, tr 109] Thuế nhập khẩu là một loại thuế mà một quốc gia hay vùng lãnh thổ đánh vào hàng hóa có nguồn gốc từ nước ngoài trong quá trình nhập khẩu. Khi phương tiện vận tải (tàu thủy, máy bay, phương tiện vận tải đường bộ hay 11 đường sắt) đến cửa khẩu biên giới (cảng hàng không quốc tế, cảng sông quốc tế hay cảng biển quốc tế, cửa khẩu biên giới bộ) thì các công chức hải quan sẽ tiến hành kiểm tra hàng hóa so với khai báo trong tờ khai hải quan, đồng thời tính số thuế nhập khẩu phải thu theo các công thức tính thuế nhập khẩu đã quy định trước.
Về mặt nguyên tắc, thuế nhập khẩu phải được nộp trước khi thông quan để nhà nhập khẩu có thể đưa mặt hàng nhập khẩu vào lưu thông trong nội địa, trừ khi có các chính sách ân hạn thuế hay có bảo lãnh nộp thuế, nên đây có thể coi là một trong những loại thuế dễ thu nhất, và chi phí để thu thuế nhập khẩu là khá nhỏ. Từ những nội dung trên, chúng ta có thể nêu một khái niệm tổng quát về thuế như sau: Thuế là khoản đóng góp bắt buộc do Nhà nước quy định đối với các tổ chức và các nhân trong xã hội nhằm sử dụng cho mục đích chung của toàn xã hội. Thuế nhập khẩu là một phần thu nhập được tạo ra từ các hoạt động nhập khẩu mà các tổ chức, cá nhân tham gia hoạt động nhập khẩu có nghĩa vụ phải đóng góp cho Nhà nước theo quy định của pháp luật thuế nhập khẩu, nhằm đáp ứng nhu cầu chi tiêu cũng như các chính sách của Nhà nước. Nói cách khác, thuế nhập khẩu là loại thuế đánh vào mỗi đơn vị hàng hoá từ nước ngoài nhập khẩu vào lãnh thổ của quốc gia hoặc từ khu chế xuất xuất vào thị trường thuộc lãnh thổ của quốc gia đó.
Đặc điểm, vai trò của thuế nhập khẩu * Đặc điểm của thuế nhập khẩu Thứ nhất, thuế nhập khẩu có đối tượng chịu thuế là các hàng hóa được phép vận chuyển qua biên giới. Cụ thể các loại hàng hóa đó được quy định tại khoản 1 và khoản 6 Điều 4 Luật Hải Quan năm 2014 như sau: “bao gồm động sản có tên gọi và mã số theo Danh mục hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu Việt Nam được xuất khẩu, nhập khẩu, quá cảnh hoặc được lưu giữ trong địa bàn 12 hoạt động hải quan" [6, Tr.108] Tuy nhiên thuế nhập khẩu không tác động vào đối tượng nhập khẩu là các loại dịch vụ bởi những sản phẩm này khó có thể kiểm soát được. Một ví dụ cụ thể cho điều này là sản phẩm công nghệ thông tin được giao dịch qua mạng máy tính Internet. Thứ hai, bản chất của thuế nhập khẩu là thuế gián thu nhưng chỉ mang tính tương đối bởi nếu hàng hóa được nhập khẩu về nhằm sử dụng, tiêu dùng thì khi ấy người tiêu dùng là người nộp thuế đồng thời là người chịu thuế có tính chất là thuế trực thu.
Còn nếu như nhà nhập khẩu đã nộp thuế hàng hóa và sau đó kinh doanh với chính số hàng hóa đó thì số tiền thuế nhập khẩu đã nộp có xu hướng chuyển sang cho người mua hàng và khi đó, khoản thuế nhập khẩu này lại có tính chất gián thu. Thứ ba, thuế nhập khẩu gắn liền với hoạt động kinh tế đối ngoại của mỗi quốc gia nên thuế nhập khẩu không những góp phần tạo nguồn thu cho ngân sách nhà nước mà còn thể hiện cả những chủ trương, chính sách đối ngoại của nhà nước trong từng thời kỳ một cách rõ ràng. * Vai trò của thuế nhập khẩu - Thuế nhập khẩu là nguồn thu quan trọng của ngân sách Nhà nước. Nhà nước ra đời, dựa vào quyền lực chính trị của mình, Nhà nước đã đặt ra các thứ thuế để bắt buộc các thành viên trong xã hội đóng góp một phần thu nhập của họ cho Nhà nước.
Nhờ có khoản đóng góp đó, bộ máy Nhà nước mới tồn tại và hoạt động được. Lịch sử phát triển của ngành thuế qua các thời kỳ đã cho thấy: Tỷ trọng thu bằng thuế chiếm phần lớn trong tổng thu NSNN, tỷ trọng này thường chiếm tới trên 90% tổng số thu, trong đó, thuế nhập khẩu đóng vai trò là một nguồn thu quan trọng. Vai trò truyền thống của thuế NK là động viên một phần thu nhập cho 13 NSNN từ hoạt động ngoại thương. Tuỳ thuộc vào sự phát triển kinh tế đối ngoại và quan điểm sử dụng thuế quan của mỗi nước mà thuế quan có vai trò khác nhau trong việc tạo lập nguồn thu cho NSNN.
- Là công cụ điều tiết hoạt động sản xuất kinh doanh của nhà nước đối với nền kinh tế. Thuế nhập khẩu tác động trực tiếp đến giá cả hàng hóa thương mại quốc tế, thuế nhập khẩu điều chỉnh khả năng cạnh tranh của hàng hóa chịu thuế trên thị trường. Thuế nhập khẩu cấu thành trong giá cả hàng hoá, làm giá hàng hoá tăng, do đó có tác dụng điều tiết hoạt động nhập khẩu và hướng dẫn tiêu dùng; bởi vì lượng hàng hoá nhập khẩu phụ thuộc vào sức tiêu thụ của hàng hoá đó, yếu tố này phụ thuộc vào giá cả. Giá cả cao hay thấp sẽ quyết định giảm hay tăng sức cạnh tranh của hàng hoá đó trên thị trường.
Như vậy, thông qua thuế nhập khẩu, nhà nước điều tiết việc nhập khẩu hàng hoá, đồng thời hạn chế việc tiêu dùng hàng hoá xa xỉ hoặc các loại hàng hoá không được khuyến khích sử dụng như: thuốc lá, rượu, bia… - Thuế nhập khẩu là công cụ hỗ trợ và bảo hộ nền sản xuất trong nước. Đặc trưng cơ bản của loại thuế này là đánh vào hàng hoá nhập khẩu và sau đó được cấu thành trong giá cả hàng hoá nhập khẩu nên loại thuế này có vai trò khá đặc thù là bảo hộ sản xuất trong nước và chống lại xu hướng cạnh tranh không cân sức giữa hàng hoá trong nước và hàng hoá ngoại nhập. Cụ thể là, đối với hàng hoá nhập khẩu do bị đánh thuế nhập khẩu nên về lý thuyết giá cả hàng hoá này trên thị trường nhập khẩu sẽ tăng lên, trong khi đó, các hàng hoá được sản xuất trong nước do không phải chịu thuế nhập khẩu (hoặc chỉ chịu thuế nhập khẩu do phần nguyên liệu hoặc máy móc nhập khẩu) nên giá cả của chúng có xu hướng rẻ hơn và do đó, sức cạnh tranh lớn hơn hàng hoá ngoại nhập. Điều này cho thấy, việc đánh thuế nhập khẩu thực chất là một biện pháp để bảo vệ sản xuất trong nước, khi chính phủ nhận thấy những bất 14 lợi nghiêng về phía hàng hoá được sản xuất từ phía các doanh nghiệp trong nước.
Mặt khác, thuế nhập khẩu giúp các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh các ngành còn non trẻ trong nước có thời gian trường thành và sinh lời, từ đó có thể cạnh tranh với hàng hoá nhập khẩu. Theo quy định của Hiệp định chung về Thuế quan và Thương mại (GATT), thuế quan-với rất ít ngoại lệ-là một công cụ chính sách duy nhất được chấp nhận để bảo hộ.