Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý thuế thu nhập doanh nghiệp đối với doanh nghiệp siêu nhỏ Chương 2: Thực trạng quản lý thuế TNDN đối với các doanh nghiệp siêu nhỏ tại chi cục thuế thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa. Chương 3: Các giải pháp tăng cường công tác quản lý thuế TNDN đối với các doanh nghiệp siêu nhỏ tại Chi cục thuế thành phố Thanh Hóa. 5 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ THUẾ THU NHẬP DOANH NGHIỆP 1. Tổng quan về thuế thu nhập doanh nghiệp 1.
Khái niệm về thuế thu nhập doanh nghiệp Vào khoảng giữa thế kỷ 19 và khoảng đầu thể kỷ 20, một số quốc gia như Anh, Nhật, Pháp, Thụy Sỹ, Liên Xô cũ đã áp dụng sớm thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN) trong hệ thống thuế của quốc gia mình. Ở Việt Nam, cũng đã áp dụng hình thức thuế này với các khoản trích nộp lợi nhuận của khu vực kinh tế quốc doanh và ngoài quốc doanh trong giai đoạn từ 1953 đến trước ngày 01/01/1990. Từ ngày 01/01/1999 thuế TNDN đã được áp dụng thống nhất đối với các đối tượng kinh doanh thuộc các thành phần kinh tế khác nhau. Theo Lê Hoằng Bá Huyền và Nguyễn Thị Bất [12; 193] Thuế TNDN là một loại thuế trực thu đánh vào lợi nhuận của các doanh nghiệp trong kỳ kinh doanh hay nó là loại thuế tính trên thu nhập của doanh nghiệp sau khi đã trừ đi các khoản chi phí hợp lý, hợp lệ.
Đặc điểm của thuế thu nhập doanh nghiệp Theo Lê Hoằng Bá Huyền và Nguyễn Thị Bất [12; 194], thuế TNDN có các đặc điểm sau đây: Thứ nhất, thuế TNDN là thuế trực thu, tính trực thu của loại thuế này được biểu hiện ở sự đồng nhất giữa đối tượng nộp thuế và đối tượng chịu thuế theo ý nghĩa kinh tế, không có sự chuyển giao gánh nặng về thuế từ người nộp thuế sang người chịu thuế. Thứ hai, thuế TNDN phụ thuộc vào kết quả hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp hoặc các nhà đầu tư. Thuế GTGT, thuế TTĐB là một số tiền cộng thêm vào giá bán của hàng hóa, dịch vụ, người bán hàng hoặc người cung cấp dịch vụ là người tập hợp thuế và nộp vào Kho bạc nhà nước, 6 bởi vậy nó chủ yếu phụ thuộc vào mức độ tiêu dùng hàng hóa. Thuế TNDN được xác định trên cơ sở thu nhập chịu thuế nên chỉ khi các doanh nghiệp, các nhà đầu tư kinh doanh có lợi nhuận mới phải nộp thuế TNDN.
Thứ ba, thuế TNDN là thuế khấu trừ trước thuế thu nhập cá nhân. Thu nhập mà các cá nhân nhận được từ hoạt động đầu tư như: Lợi tức cổ phần, lãi tiền gửi ngân hàng, lợi nhuận do góp vốn liên doanh, liên kết… là phần thu nhập được chia sau khi nộp thuế TNDN. Do vậy thuế TNDN cũng có thể coi là một biện pháp quản lý thu nhập các nhân. Đối tượng nộp thuế Theo Lê Hoằng Bá Huyền và Nguyễn Thị Bất [12; 196], thuế TNDN là một loại thuế trực thu, nên người nộp thuế cũng là người chịu thuế.
Người nộp thuế thu nhập doanh nghiệp là tổ chức hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng hoá, dịch vụ (gọi là doanh nghiệp) có thu nhập chịu thuế theo quy định của pháp luật. Người nộp thuế thu nhập doanh nghiệp là tổ chức hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ có thu nhập chịu thuế (sau đây gọi là doanh nghiệp) bao gồm: a) Doanh nghiệp được thành lập và hoạt động theo quy định của pháp luật Việt Nam về thành lập và hoạt động của doanh nghiệp: Công ty cổ phần; Công ty trách nhiệm hữu hạn; Công ty hợp danh; Doanh nghiệp tư nhân; Văn phòng luật sư, Văn phòng công chứng tư, các bên trong hợp đồng hợp tác kinh doanh; các bên trong hợp đồng phân chia sản phẩm dầu khí, công ty điều hành chung. b) Đơn vị sự nghiệp công lập, ngoài công lập có sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ có thu nhập chịu thuế trong tất cả các lĩnh vực. c) Tổ chức được thành lập và hoạt động theo Luật Hợp tác xã.
d) Doanh nghiệp được thành lập theo quy định của pháp luật nước ngoài (gọi là doanh nghiệp nước ngoài) có cơ sở thường trú ở Việt Nam. 7 Cơ sở thường trú của doanh nghiệp nước ngoài là cơ sở sản xuất, kinh doanh mà thông qua cơ sở này, doanh nghiệp nước ngoài tiến hành một phần hoặc toàn bộ hoạt động sản xuất, kinh doanh tại Việt Nam, bao gồm: - Chi nhánh, văn phòng điều hành, nhà máy, công xưởng, phương tiện vận tải, hầm mỏ, mỏ dầu, khí hoặc địa điểm khai thác tài nguyên thiên nhiên khác tại Việt Nam; - Địa điểm xây dựng, công trình xây dựng, lắp đặt, lắp ráp; - Cơ sở cung cấp dịch vụ, bao gồm cả dịch vụ tư vấn thông qua người làm hoặc tổ chức, cá nhân khác; - Đại lý cho doanh nghiệp nước ngoài; - Đại diện tại Việt Nam trong trường hợp là đại diện có thẩm quyền ký kết hợp đồng đứng tên doanh nghiệp nước ngoài hoặc đại diện không có thẩm quyền ký kết hợp đồng đứng tên doanh nghiệp nước ngoài nhưng thường xuyên thực hiện việc giao hàng hóa hoặc cung ứng dịch vụ tại Việt Nam. Trong một số trường hợp, Hiệp định tránh đánh thuế hai lần mà nước Cộng Hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ký kết có quy định khác về cơ sở thường trú thì thực hiện theo quy định của Hiệp định đó. e) Tổ chức khác có hoạt động sản xuất kinh doanh hàng hóa hoặc dịch vụ, có thu nhập chịu thuế.
Tổ chức nước ngoài sản xuất kinh doanh tại Việt Nam không theo Luật Đầu tư, Luật doanh nghiệp hoặc có thu nhập phát sinh tại Việt Nam nộp thuế thu nhập doanh nghiệp theo hướng dẫn riêng của Bộ Tài chính. Phương pháp và căn cứ tính thuế thu nhập doanh nghiệp Theo Điều 3, Thông tư số 78/2014/TT-BTC ngày 18/06/2014 hướng dẫn thi hành Nghị định số 218/2013/NĐ-CP ngày 26/12/2013 của Chính phủ quy định và hướng dẫn thi hành luật thuế TNDN [4]; 8 * Phương pháp tính thuế TNDN: - Số thuế TNDN phải nộp trong kỳ tính thuế bằng thu nhập tính thuế nhân với thuế suất. - Công thức tính: Thuế TNDN phải nộp = Thu nhập tính thuế x Thuế suất thuế TNDN Nếu DN nếu có trích quỹ phát triển khoa học và công nghệ thì thuế TNDN phải nộp được xác định như sau: Thuế TNDN phải nộp = (Thu nhập tính thuế - Phần trích lập quỹ KH&CN) x Thuế suất thuế TNDN - Nếu DN đã nộp thuế TNDN hoặc loại thuế tương tự thuế TNDN ở ngoài Việt Nam thì DN được trừ số thuế TNDN đã nộp nhưng tối đa không quá số thuế TNDN phải nộp theo quy định của Luật thuế TNDN. - Kỳ tính thuế: Được xác định theo năm dương lịch.
Trường hợp DN áp dụng năm tài chính khác với năm dương lịch thì kỳ tính thuế xác định theo năm tài chính áp dụng. Kỳ tính thuế đầu tiên đối với DN mới thành lập và kỳ tính thuế cuối cùng đối với DN chuyển đổi loại hình DN, chuyển đổi hình thức sở hữu, sáp nhập, chia tách, giải thể, phá sản được xác định phù hợp với kỳ kế toán theo quy định của pháp luật về kế toán. * Căn cứ tính thuế Căn cứ tính thuế TNDN là thu nhập chịu thuế và thuế suất. Thu nhập tính thuế = Thu nhập chịu thuế - (Thu nhập được miễn thuế+ Các khoản lỗ được kết chuyển theo quy định) Thu nhập chịu thuế = (Doanh thu- Chi phí được trừ) + Các khoản thu nhập khác.
Thuế suất thuế TNDN phố thông là 20%. Ngoài ra còn có các mức thuế suất ưu đãi khác theo quy định pháp luật. Những vấn đề cơ bản về doanh nghiệp siêu nhỏ 1. Xác định doanh nghiệp siêu nhỏ Hiện nay, việc xác định rõ ràng quy mô doanh nghiệp là một vấn đề vô cùng quan trọng, đặc biệt có ý nghĩa trong việc xác định chế độ kế toán và những ưu đãi, hỗ trợ đối với doanh nghiệp.
Mới đây, ngày 01/01/2018, Luật hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa 2017 có hiệu lực, sau đó Chính phủ đã ban hành Nghị định 39/2018/NĐ-CP hướng dẫn, đã xuất hiện loại doanh nghiệp siêu nhỏ. Thực tế trên thế giới, các nước có quan niệm rất khác nhau về doanh nghiệp siêu nhỏ, nguyên nhân cơ bản dẫn đến sự khác nhau này tiêu thức dùng để phân loại quy mô doanh nghiệp khác nhau. Tuy nhiên trong hàng loạt các tiêu thức phân loại đó có hai tiêu thức được sử dụng ở phần lớn các nước là quy mô vốn và số lượng lao động. Căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 6 Nghị định 39/2018/NĐ-CP, quy định về tiêu chí và các chỉ số để xác định doanh nghiệp siêu nhỏ trong các lĩnh vực.
Theo đó: a, Doanh nghiệp siêu nhỏ trong lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản là doanh nghiệp mà: Có số lao động tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 10 người; Tổng doanh thu của năm không quá 3 tỷ đồng hoặc Tổng nguồn vốn không quá 3 tỷ đồng. b, Doanh nghiệp siêu nhỏ trong lĩnh vực công nghiệp, xây dựng là doanh nghiệp có: Có số lao động tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 10 người; 10 Tổng doanh thu của năm không quá 3 tỷ đồng hoặc Tổng nguồn vốn không quá 3 tỷ đồng. c, Doanh nghiệp siêu nhỏ trong lĩnh vực thương mại, dịch vụ là doanh nghiệp có: Có số lao động tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 10 người; Tổng doanh thu của năm không quá 10 tỷ đồng hoặc tổng nguồn vốn không quá 3 tỷ đồng. Như vậy, tất cả các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế có đăng ký kinh doanh và thoả mãn một trong hai điều kiện trên đều được coi là doanh nghiệp siêu nhỏ.
Vai trò của doanh nghiệp siêu nhỏ trong nền kinh tế Theo Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam (DNNVV), trong giai đoạn khủng hoảng kinh tế thế giới và khó khăn trong nước vừa qua, nhiều DN có quy mô lớn cũng đã rất chật vật để tồn tại. Trong đó không ít đơn vị lâm vào cảnh phá sản do quy luật “thuyền to, sóng lớn”. Nhưng bên cạnh đó, không ít DN siêu nhỏ với số vốn một vài tỷ thậm chí vài trăm triệu đồng vẫn có thể tồn tại được do dễ dàng thay đổi, thích nghi với hoàn cảnh. Với đặc thù riêng tại Việt Nam, những thành phần kinh tế gia đình, hộ sản xuất kinh doanh nhỏ lẻ, trong khó khăn lại càng tìm cách xoay xở để tồn tại.
Với khoảng trên 90% DN tại Việt Nam hiện nay là DNNVV, trong đó DN siêu nhỏ, hộ kinh tế cá thể chiếm đến 66%.