Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về quản lý thu thuế đối với hộ kinh doanh cá thể. + Chương 2: Phương pháp nghiên cứu + Chương 3: Thực trạng công tác quản lý thu thuế đối với hộ kinh doanh cá thể trên địa huyện Yên Phong tỉnh Bắc Ninh + Chương 4: Một số giải pháp tăng cường quản lý thu thuế đối với hộ kinh doanh cá thể trên địa bàn huyện Yên Phong Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn 4 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ THU THUẾ ĐỐI VỚI HỘ KINH DOANH CÁ THỂ 1. Thuế và các quy định về thuế 1. Khái niệm và đặc điểm của hộ kinh doanh cá thể - Khái niệm về hộ kinh doanh cá thể: Trước khi có Nghị định số 88/2006/NĐ-CP ngày 29/8/2006 về đăng ký kinh doanh và mới nhất hiện nay là Nghị định số 43/2010/NĐ-CP ngày 15/4/2010 về đăng ký doanh nghiệp thì "Hộ kinh doanh" được gọi là "Hộ kinh doanh cá thể".
Tên gọi "Hộ kinh doanh cá thể" được ghi nhận tại Nghị định số 109/2004/NĐ-CP ngày 02/4/2004. Tại Điều 24- khoản 1-Nghị định số 109/2004/NĐ-CP thể hiện "Hộ kinh doanh cá thể do một cá nhân hay một gia đình làm chủ, chỉ được kinh doanh tại một địa điểm, sử dụng không quá 10 lao động, không có con dấu và chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình đối với hoạt động kinh doanh". Hiện nay theo Nghị định số 43/2010/NĐ- CP định nghĩa hộ kinh doanh do một cá nhân là công dân Việt Nam hoặc một nhóm người hoặc một gia đình làm chủ, chỉ được kinh doanh tại một địa điểm, sử dụng không quá 10 lao động, không có con dấu và chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình đối với hoạt động kinh doanh. [19] - Đặc điểm của dộ kinh doanh cá thể: Hoạt động sản xuất kinh doanh dựa vào vốn và sức lao động của bản thân và hộ gia đình mình là chính.
Quy mô nhỏ lẻ, tản mạn, rời rạc, điều kiện áp dụng khoa học công nghệ tiên tiến hạn chế và luôn tìm mọi cách để tìm ra những chỗ sơ hở trong quản lý kinh tế để kinh doanh trái phép, trốn lậu thuế. Cùng với sự phát triển của nền kinh tế, các hộ kinh doanh cá thể phát triển khá nhanh trong cả nước, hoạt động trong mọi ngành nghề như sản xuất, giao thông vận tải, thương nghiệp, ăn uống, dịch vụ. Đặc điểm của hộ kinh doanh cá thể là dựa trên sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất, người chủ kinh doanh tự quyết định từ quá trình sản xuất kinh doanh đến phân phối tiêu thụ sản phẩm, dịch vụ. Hoạt động mang tính tự chủ cao, tự tìm kiếm nguồn lực, vốn, sức lao động, rất nhạy bén trong kinh doanh, dễ dàng chuyển đổi ngành nghề kinh doanh cho phù hợp với Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn 5 yêu cầu của thị trường và nền kinh tế.
Có một tiềm năng to lớn về trí tuệ, sáng kiến, được phân bổ rộng rãi ở mọi nơi, mọi lúc. Có kinh nghiệm quản lý, tổ chức sản xuất và những bí quyết sản xuất truyền thống được tích luỹ từ nhiều thế hệ, qua đó cho phép phát huy những ngành nghề truyền thống để tạo ra những sản phẩm phục vụ cho nhu cầu xã hội và xuất khẩu. - Vai trò của hộ KDCT trong nền kinh tế: Trong điều kiện kinh tế thị trường, hộ KDCT có một vai trò hết sức to lớn đó là góp phần tạo ra nhiều chủng loại sản phẩm, dịch vụ cho xã hội, đồng thời đóng vai trò làm vệ tinh cho các doanh nghiệp của nền kinh tế trong quá trình phân phối, luân chuyển hàng hóa, dịch vụ. Thông qua các hộ KDCT có thể huy động được nguồn vốn lớn còn đang tiềm năng trong nhân dân cho nền kinh tế.
Đặc biệt trong điều kiện cạnh tranh của nền kinh tế thị trường, tình trạng thất nghiệp đang ngày càng gia tăng thì chính việc thu hút một số lượng lao động đáng kể của hộ KDCT đã góp phần giải quyết vấn đề thất nghiệp cho xã hội. Mặc dù có vai trò hết sức quan trọng song thành phần kinh tế hộ cá thể cũng có một số mặt hạn chế đó là: Khả năng áp dụng khoa học kỹ thuật tiên tiến vào sản xuất rất hạn chế. Sự năng động mang tính chất tự phát, luôn tìm những chỗ sơ hở để kinh doanh trái phép và trốn lậu thuế, gây khó khăn cho công tác quản lý. Chính vì vậy cần phải tăng cường sự quản lý của Nhà nước thông qua công cụ pháp luật, nhằm tạo ra hành lang pháp lý và môi trường hoạt động lành mạnh, giúp thành phần kinh tế này hoạt động có hiệu quả.
Một số vấn đề chung về thuế Lịch sử phát triển của loài người đã chứng minh sự ra đời của thuế là một tất yếu khách quan, gắn liền với sự ra đời và phát triển của Nhà nước. Để tồn tại và phát triển, Nhà nước cần có những nguồn tài chính để chi tiêu, trước hết là chi cho việc duy trì và củng cố bộ máy cai trị từ Trung ương đến địa phương thuộc phạm vi lãnh thổ mà Nhà nước đó đang cai quản. Chi cho các công việc thuộc chức năng của Nhà nước như: quốc phòng-an ninh, chi xây dựng và phát triển cơ sở hạ tầng, chi cho các vần đề về phục lợi công cộng, về sự nghiệp, về xã hội ở hiện tại và lâu dài. Để có nguồn tài chính đáp ứng các nhu cầu chi tiêu nói trên, Nhà nước thường sử dụng ba Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn 6 hình thức động viên đó là: quyên góp của nhân dân; vay của nhân dân và dùng quyền lực của Nhà nước để bắt buộc nhân dân phải đóng góp.
Hình thức quyên góp và vay của nhân dân thường không ổn định, do đó để đáp ứng nhu cầu chi thường xuyên, Nhà nước dùng quyền lực chính trị buộc người dân phải đóng góp một phần thu nhập của mình cho ngân sách. Đây chính là hình thức cơ bản nhất để huy động tập trung nguồn tài chính cho Nhà nước. Hình thực Nhà nước dùng quyền lực chính trị buộc người dân phải đóng góp để đáp ứng nhu cầu chi tiêu của mình đó chính là Thuế. Như vậy thuế luôn gắn liền với sự ra đời và phát triển của Nhà nước.
Cho đến nay, trong giới học giả và trong các sách báo kinh tế thế giới vẫn chưa có quan điểm thống nhất về khái niệm thuế. Nhìn chung các quan đểm của các nhà kinh tế khi đưa ra khái niệm về thuế mới chỉ nhìn nhận từ những khía cạnh khác nhau của thuế, chưa phản ánh đầy đủ bản chất chung của phạm trù thuế. Chẳng hạn theo các nhà kinh điển thì thuế được quan niệm rất đơn giản "Để duy trì quyền lực công cộng, cần phải có những sự đóng góp của những người công dân của Nhà nước đó là thuế khóa (Mác-Ăng Ghen.T2-NXB sự thật - Hà nội 1962. Càng về sau này, khái niệm về thuế càng được bổ sung hoàn thiện hơn.
Trong cuốn sách từ điển kinh tế của hai tác giả người Anh là Christopher Pass và Bryan Lower cho rằng "Thuế là một biện pháp của Chính phủ đánh trên thu nhập của cải và vốn nhận được của các cá nhân hay doanh nghiệp (thuế trực thu), trên việc chi tiêu về hàng hóa và dịch vụ (thuế gián thu) và trên tài sản". Một khái niệm khác tương đối hoàn chỉnh về thuế được nêu trong cuốn sách Economics của hai nhà kinh tế Mỹ như sau: "Thuế là một khoản chuyển giao bắt buộc bằng tiền (hoặc chuyển giao bằng hàng hóa, dịch vụ) của các công ty, các hộ gia đình cho Chính phủ, mà trong sự trao đổi đó họ không nhận được trực tiếp hàng hóa, dịch vụ nào cả, khoản nộp đó không phải tiền phạt mà tòa án tuyên phạt do hành vi vi pháp luật" (Economics. Makkollhell and Bruy-M. [13] Ở nước ta, cho đến nay cũng chưa có một khái niệm thống nhất về thuế.
Theo từ điển tiếng Việt-Trung tâm từ điển học (1998) thì cho rằng thuế là khoản tiền hay hiện vật mà người dân hoặc các tổ chức kinh doanh, tùy theo tài sản, thu nhập, nghề nghiệp. buộc phải nộp cho Nhà nước theo mức quy định. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn 7 Những khái niệm về thuế nêu trên mới chỉ nhấn mạnh một chiều theo quan niệm của từng góc độ khác nhau, do đó chưa thật sự đầy đủ và chính xác được bản chất của thuế. Mặc dù cho đến nay chưa có một định nghĩa thống nhất về thuế nhưng các nhà kinh tế đều nhất trí cho rằng, để làm rõ được bản chất của thuế thì định nghĩa về thuế phải nêu bật được các khía cạnh sau: Thứ nhất, nội dung kinh tế của thuế được đặc trưng bởi các quan hệ tiền tệ giữa Nhà nước với các pháp nhân và các cá thể, không mang tính hoàn trả trực tiếp.
Thứ hai, Những mối quan hệ dưới dạng tiền tệ này được nảy sinh một cách khách quan và có ý nghĩa xã hội đặc biệt, việc chuyển giao thu nhập có tính chất bắt buộc theo mệnh lệnh của Nhà nước. Thứ ba, Các pháp nhân và thể nhân chỉ phải nộp cho Nhà nước các khoản thuế đã được Pháp luật quy định. Qua phân tích các những quan niệm về thuế của thế giới và của nước ta như đã trình bày ở trên, chúng ta có thể đưa ra một định nghĩa tổng quan về thuế như sau: "Thuế là một khoản đóng góp bắt buộc của các tổ chức, cá nhân cho Nhà nước theo mức độ và thời hạn được pháp luật quy định, không mang tính chất hoàn trả trực tiếp, nhằm sử dụng cho mục đích chung của toàn xã hội". [13] (*) Thuế có các đặc điểm sau - Thuế luôn gắn liền với quyền lực của Nhà nước.
- Thuế là một phần thu nhập của các tầng lớp dân cư bắt buộc phải nộp cho Nhà nước. - Thuế là hình thức chuyển giao thu nhập không mang tính chất hoàn trả trực tiếp. (*) Thuế có các chức năng cơ bản sau - Chức năng huy động tập trung nguồn lực tài chính; đây là chức năng cơ bản của thuế, đặc trưng cho thuế ở tất cả các dạng Nhà nước trong tiến trình phát triển của xã hội. Về mặt lịch sử, đây là chức năng đầu tiên, phản ánh nguyên nhân sự ra đời của thuế.
Thông qua chức năng này các quỹ tiền tệ tập trung của Nhà nước được hình thành để đảm bảo cơ sở vật chất cho sự tồn tại và hoạt động của Nhà nước.