CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÍ LUẬN CƠ BẢN VỀ QUẢN LÝ THU THUẾ ĐỐI VỚI HỘ KINH DOANH CÁ THỂ 1. Tổng quan về thuế và hộ kinh doanh cá thể 1. Khái niệm, đặc điểm và vai trò của thuế a)Khái niệm về thuế Thuế xuất hiện cùng với sự xuất hiện của Nhà nước và sự phát triển tồn tại của nền kinh tế hàng hoá tiền tệ. Nhà nước sử dụng thuế như một công cụ để phục vụ cho việc thực hiện các chức năng và nhiệm vụ của mình.
Sự phát triển của Nhà nước và nền kinh tế đã dẫn đến các hệ thống thuế, các hình thức thuế và pháp luật thuế ngày càng đa dạng và hoàn thiện. Cùng với sự phát triển của kinh tế thị trường, các khoản đóng góp của người dân cho Nhà nước được xác định và được quy định công khai bằng luật pháp của Nhà nước. Hiện có rất nhiều quan điểm khác nhau nhưng cho đến nay, vẫn chưa có sự thống nhất tuyệt đối về khái niệm thuế. Trong số các quan điểm về thuế, có thể kể đến một số quan điểm điển hình như sau: Theo từ điển tiếng Việt: “Thuế là khoản tiền hay hiện vật mà người dân hoặc các tổ chức kinh doanh, tuỳ theo tài sản, thu nhập, nghề nghiệp…buộc phải nộp cho Nhà nước theo mức quy định” [28, trang 68] Theo cuốn Giáo trình thuế của tác giả Nguyễn Thị Liên có định nghĩa “Thuế là một khoản đóng góp bắt buộc từ các thể nhân và pháp nhân cho Nhà nước theo mức độ và thời hạn theo quy định của pháp luật nhằm sử dụng cho mục đích công cộng” [11, trang 5] Theo khái niệm của Tổng cục Thuế: “Thuế là hình thức phân phối và phân phối lại tổng sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân nhằm hình thành các quỹ tiền tệ tập trung của Nhà nước để đáp ứng các nhu cầu chi tiêu cho việc thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước” [20, trang 13] Đứng trên các góc độ khác nhau theo các quan điểm của các nhà kinh tế Luan van 11 khác nhau thì có định nghĩa về thuế khác nhau: Trên góc độ người nộp thuế: “Thuế là khoản đóng góp bắt buộc mà mỗi tổ chức, cá nhân phải có nghĩa vụ đóng góp cho Nhà nước theo luật định để đáp ứng nhu cầu chi tiêu cho việc thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước” [18, trang 12] Trên góc độ kinh tế học: “Thuế là một biện pháp đặc biệt, theo đó, Nhà nước sử dụng quyền lực của mình để chuyển một phần nguồn lực từ khu vực tư sang khu vực công nhằm thực hiện các chức năng kinh tế - xã hội của Nhà nước”[24, trang 58].
Từ các quan điểm trên có thể rút ra khái niệm chung nhất về thuế là: Thuế là một hình thức động viên bắt buộc của Nhà nước theo Luật định, thuộc phạm trù phân phối, nhằm tập trung một bộ phận thu nhập của các thể nhân và pháp nhân vào ngân sách Nhà nước để đáp ứng các nhu cầu chi tiêu của Nhà nước và phục vụ lợi ích công cộng. Như vậy, thuế là một khoản nộp bắt buộc mà các thể nhân và pháp nhân có nghĩa vụ phải thực hiện đối với Nhà nước, phát sinh trên cơ sở các văn bản pháp luật do Nhà nước ban hành, không mang tính chất đối trả và hoàn trả trực tiếp cho đối tượng nộp thuế. Thuế không phải là một hiện tượng tự nhiên mà là một hiện tượng xã hội do chính con người định ra và nó gắn liền với phạm trù Nhà nước và pháp luật. b) Đặc điểm của thuế Qua phân tích nguồn gốc ra đời của thuế và khái niệm chung về thuế ta có thể khẳng định rằng.
Thuế là công cụ tài chính của Nhà nước, được sử dụng để hình thành nên quỹ tiền tệ tập trung nhằm sử dụng cho mục đích công cộng. Tuy nhiên, thuế khác với công cụ tài chính khác như: phí, lệ phí, tiền phạt, giá cả… Thuế có những thuộc tính tương đối ổn định qua từng giai đoạn phát triển và biểu hiện thành những đặc trưng riêng có của nó, qua đó giúp ta phân biệt thuế với các công cụ khác. Điều này được thể hiện qua các đặc điểm cơ bản của thuế trong kinh tế thị trường như sau: Luan van 12 Tính bắt buộc: Tính bắt buộc là thuộc tính cơ bản vốn có của thuế để phân biệt giữa thuế với các hình thức động viên tài chính khác của ngân sách Nhà nước. Đặc điểm này cho ta thấy rõ nội dung kinh tế của thuế là những quan hệ tiền tệ được hình thành một cách khách quan và có một ý nghĩa xã hội đặc biệt, việc động viên mang tính chất bắt buộc của Nhà nước.
Phân phối mang tính chất bắt buộc dưới hình thức thuế là một phương thức phân phối của Nhà nước, theo đó một bộ phận thu nhập của người nộp thuế được chuyển giao cho Nhà nước mà không kèm theo một sự cấp phát hoặc những quyền lợi nào khác cho người nộp thuế, mà hành động đóng thuế là hành động thực hiện nghĩa vụ của người công dân. Tính không hoàn trả trực tiếp và được sử dụng để đáp ứng chi tiêu công cộng: Tính chất không hoàn trả trực tiếp của thuế được thể hiện ở chỗ: thuế được hoàn trả gián tiếp cho người nộp thuế thông qua việc cung cấp các dịch vụ công cộng của Nhà nước. Sự không hoàn trả trực tiếp được thực hiện kể cả trước và sau thu thuế. Trước khi thu thuế, Nhà nước không hề cung ứng trực tiếp một dịch vụ công cộng nào cho người nộp thuế.
Sau khi nộp thuế, Nhà nước cũng không có sự bồi hoàn trực tiếp nào cho người nộp thuế. Luôn gắn liền với quyền lực Nhà nước: Đặc điểm này thể hiện tính pháp lý tối cao của thuế. Thuế là nghĩa vụ của công dân đã được quy định trong Hiến pháp của mỗi quốc gia. Việc ban hành sửa đổi, bổ sung, hay bãi bỏ bất kỳ một loại thuế nào chỉ có một cơ quan duy nhất có thẩm quyền, đó là Quốc hội – Cơ quan quyền lực Nhà nước tối cao.
Mặt khác, tính quyền lực Nhà nước cũng thể hiện ở chỗ Nhà nước không thể thực hiện thu thuế một cách tuỳ tiện mà phải dựa trên cơ sở pháp luật nhất định được xác định trong các văn bản pháp luật do các cơ quan quyền lực Nhà nước ban hành. Luôn gắn liền với thu nhập: Đặc điểm này thể hiện rõ nội dung kinh tế của thuế. Nhà nước thực hiện thu thuế thông qua quá trình phân phối lại tổng sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân, mà kết quả của nó là một bộ phận thu nhập của người nộp thuế được chuyển giao bắt buộc cho Nhà nước mà không kèm theo bất kỳ một sự cấp phát hoặc những quyền lợi nào khác cho người nộp thuế. Thuế - dù Luan van 13 dưới bất cứ hình thức nào đều buộc người trả thuế phải lấy một khoản thu nhập của mình ra thanh toán cho Nhà nước mà không cần biết mình đã chuẩn bị được khoản thu nhập đó hay chưa.
Với đặc điểm này, thuế không giống như các hình thức huy động tài chính tự nguyện hoặc hình thức phạt tiền tuy có tính chất bắt buộc, nhưng chỉ áp dụng đối với tổ chức, cá nhân có hành vi vi phạm pháp luật. Tính pháp lý cao: Thuế là một công cụ tài chính có tính pháp lý cao, được quyết định bởi quyền lực chính trị của Nhà nước và quyền lực ấy được thể hiện bằng pháp luật. c) Vai trò của thuế Các nhà kinh tế học thường đề cập vai trò của thuế đối với ngân sách Nhà nước và đời sống xã hội. Bởi vì trên thực tế, thông qua hoạt động thu thuế, Nhà nước tập trung được một bộ phận của cải của xã hội, từ đó hình thành nên quỹ ngân sách Nhà nước và thực hiện các chính sách kinh tế - xã hội.
Vai trò của thuế là sự biểu hiện cụ thể các chức năng của thuế trong những điều kiện kinh tế, xã hội nhất định. Trong điều kiện nền kinh tế thị trường, với sự thay đổi phương thức can thiệp của Nhà nước vào hoạt động kinh tế, thuế đóng vai trò rất quan trọng đối với quá trình phát triển kinh tế - xã hội. Vai trò của thuế được thể hiện như sau: Thứ nhất: Thuế là nguồn thu chủ yếu của ngân sách Nhà nước Nền tài chính quốc gia lành mạnh phải dựa chủ yếu vào nguồn thu nội bộ từ nền kinh tế quốc dân. Một ngân sách lành mạnh trước hết phải dựa vào nguồn thu trong nước mà trong đó thuế là nguồn thu chủ yếu.
Nguồn thu của thuế lấy từ thu nhập quốc dân sản xuất, khả năng động viên của thuế phụ thuộc cơ bản vào sự phát triển và hiệu quả sản xuất, trình độ và ý thức tiết kiệm trong sản xuất và tiêu dùng của doanh nghiệp và người dân. Do đó, chính sách động viên về thuế phải được đặt trong mối quan hệ chung theo hướng xoá bỏ các khoản chi bao cấp; không tận thu để đảm bảo chi; phải thu đúng, thu đủ, nhằm bồi dưỡng, phát triển nguồn thu lâu dài trên nguyên tắc phân phối hợp lý thu nhập quốc dân giữa Nhà nước và xã hội. Muốn vậy, hệ thống thuế và chính sách thuế phải được áp dụng Luan van 14 thống nhất giữa các thành phần kinh tế, phải bao quát được các hoạt động sản xuất kinh doanh, các nguồn thu nhập của doanh nghiệp và xã hội để đảm bảo yêu cầu vốn, thực hiện mục tiêu tăng trưởng cao hơn. Thứ hai: Thuế là công cụ quản lý và điều tiết vĩ mô của nền kinh tế Thuế không chỉ chiếm tỷ trọng lớn trong tổng thu ngân sách Nhà nước hàng năm mà còn là công cụ của Nhà nước để quản lý vĩ mô nền kinh tế quốc dân.
Để phát huy tốt tác dụng điều tiết vĩ mô của chính sách thuế, nhìn chung ở nước ta cũng như các nước khác trên thế giới, nội dung của chính sách thuế thường xuyên thay đổi cho phù hợp với diễn biến tình hình kinh tế xã hội và phù hợp với tình hình kinh tế tài chính. Các sắc thuế chủ yếu hiện đang được áp dụng gồm có: thuế giá trị gia tăng, thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế xuất nhập khẩu, thuế thu nhập cá nhân, thuế môn bài… Thứ ba: Thuế góp phần tạo môi trường kinh doanh công bằng, bình đẳng khuyến khích đầu tư phát triển kinh tế Việc áp dụng chính sách thuế thống nhất đối với mọi thành phần kinh tế trong phạm vi cả nước đã góp phần tạo nên sân chơi bình đẳng, thúc đẩy cạnh tranh và khuyến khích phát triển mọi thành phần kinh tế trong phạm vi cả nước.