CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ THU HỒI NỢ BHXH, BHYT, BHTN 1. Cơ sở lý luận về quản lý thu hồi nợ BHXH, BHYT, BHTN 1. Khái niệm, vai trò BHXH, BHYT, BHTN 1. Khái niệm BHXH, BHYT, BHTN a, Khái niệm Bảo hiểm xã hội Đến nay, hầu hết các nước trên thế giới đã thực hiện chính sách BHXH và coi đó là một trong những chính sách xã hội quan trọng trong hệ thống an sinh xã hội.
Mặc dù đã có quá trình phát triển tương đối lâu dài, nhưng do tính chất phức tạp và đa dạng của bảo hiểm xã hội nên đến nay vẫn còn những nhận thức khác nhau về vấn đề này.Điều đó được phản ánh qua các khái niệm về BHXH được thể hiện ở các góc độ khác nhau. Cụ thể: - BHXH là sự thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập cho người lao động khi họ bị mất hoặc giảm thu nhập do ốm đau, thai sản, tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp, tàn tật, thất nghiệp, tuổi già, tử tuất, dựa trên cơ sở một quỹ tài chính do sự đóng góp của các bên tham gia BHXH có sự bảo hộ của Nhà nước theo pháp luật nhằm đảm bảo an toàn đời sống cho người lao động và gia đình họ, đồng thời góp phần đảm bảo an toàn xã hội” (Nghị định số 190/2007/NĐ- CP ngày 28/12/2007). - Điều 3 Luật Bảo hiểm xã hội số 71/2006/QH11 quy định: “BHXH là sự đảm bảo thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập đối với người lao động khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập do ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, thất nghiệp, hết tuổi lao động hoặc chết, trên cơ sở đóng vào quỹ BHXH”. Trong đó BHXH bắt buộc được định nghĩa “BHXH bắt buộc là loại hình BHXH mà người lao động và người sử dụng lao động bắt buộc phải tham gia.
(Bảo hiểm xã hội,2010) Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn Luan van 5 - Theo cách tiếp cận từ góc độ chính sách, chính sách BHXH là những nguyên tắc và biện pháp của Nhà nước về vấn đề BHXH cho người lao động nhằm đảm bảo thực hiện quyền tham gia và thụ hưởng BHXH cho mọi thành viên xã hội, góp phần ổn định, công bằng và phát triển xã hội. - Theo góc độ tài chính, BHXH là quá trình thành lập và sử dụng quỹ tiền tệ dự trữ của cộng đồng những người lao động, có sự bảo trợ của Nhà nước, để san sẻ rủi ro,đảm bảo thu nhập cho họ và gia đình trong những trường hợp cần thiết theo quy định của pháp luật. - Theo góc độ pháp luật, Bảo hiểm xã hội được hiểu là sự đảm bảo thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập của người lao động khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập do ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, thất nghiệp, hết tuổi lao động hoặc chết, trên cơ sở đóng vào quỹ bảo hiểm xã hội (Nghị định số 127/2008/NĐ-CP ngày 12/12/2008). b, Khái niệm bảo hiểm y tế 1.
Theo luật bảo hiểm y tế (2014) cho rằng “Bảo hiểm y tế là hình thức bảo hiểm bắt buộc được áp dụng đối với các đối tượng theo quy định của Luật này để chăm sóc sức khỏe, không vì mục đích lợi nhuận do Nhà nước tổ chức thực hiện. Theo Wikipedia cho rằng “Bảo hiểm y tế hay bảo hiểm sức khỏe là một hình thức bảo hiểm theo đó người mua bảo hiểm sẽ được cơ quan bảo hiểm trả thay một phần hoặc toàn bộ chi phí khám chữa bệnh cũng như chi phí mua thuốc men khám chữa bệnh. Bảo hiểm y tế tạo điều kiện cho bệnh nhân được khám và điều trị dù không có đủ tiền trang trải số chi phí khám chữa bệnh thực tế cho cơ quan y tế. Để có thể đạt được điều này, bản thân các cơ quan y tế cũng phải tham gia vào công tác bảo hiểm này.
Thường thì các cơ quan y tế công lập bị yêu cầu phải tham gia. Còn các cơ quan y tế tư nhân được khuyến khích tham Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn Luan van 6 gia và họ có tham gia hay không là do tự họ quyết định.” Theo từ điển Bách Khoa Việt Nam (2005): “Bảo hiểm y tế là loại bảo hiểm do Nhà nước tổ chức, quản lý nhằm huy động sự đóng góp của cá nhân, tập thể và cộng đồng xã hội để chăm lo sức khỏe, khám bệnh và chữa bệnh cho nhân dân.” (Võ Thị Thanh Lộc,2010) c, Bảo hiểm thất nghiệp 2. Theo Luật Việc làm (2013) “Đó là chế độ bù đắp một phần thu nhập của người lao động khi bị mất việc làm, hỗ trợ người lao động học nghề, duy trì và tìm kiếm việc làm trên cơ sở đóng vào Quỹ bảo hiểm thất nghiệp”. Theo luật bảo hiểm xã hội (2014) “Bảo hiểm thất nghiệp là chế độ nhằm bù đắp một phần thu nhập của người lao động khi bị mất việc làm, hỗ trợ người lao động học nghề, duy trì việc làm, tìm việc làm trên cơ sở đóng vào Quỹ bảo hiểm thất nghiệp.
Như vậy, qua các khái niệm trên ta có thể hiểu rằng bảo hiểm thất nghiệp là một khoản hỗ trợ cho những người lao động thất nghiệp trong quá trình tìm kiếm việc làm mới dựa trên cơ sở đã đóng vào Quỹ bảo hiểm thất nghiệp. Vai trò BHXH, BHYT, BHTN * Đối với người lao động BHXH, BHYT, BHTN góp phần ổn định đời sống của người tham gia bảo hiểm.Trong cuộc sống hàng ngày có những rủi ro như: ốm đau, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, thai sản, già yếu… Tất cả những rủi ro này đều có thể xảy ra với bất kỳ người lao động nào, tại bất cứ thời điểm nào trong cuộc sống của con người. Đặc biệt, khi nền kinh tế hàng hóa càng phát triển thì những rủi ro này lại càng diễn ra thường xuyên và phổ biến hơn vì con người phải làm việc với cường độ lao động cao hơn, hoạt động sản xuất kinh doanh đa dạng và phức tạp hơn. Khi những rủi ro này xảy ra đối với người lao động, sẽ gây cho bản Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn Luan van 7 thân người lao động và gia đình họ rất nhiều khó khăn cả về vật chất và tinh thần, bởi vì các rủi ro sẽ làm mất hoặc giảm thu nhập từ lao động.
Lúc này bản thân người lao động và gia đình họ rất cần sự chia sẻ, giúp đỡ kịp thời cả về vật chất và tinh thần để họ nhanh chóng hồi phục khả năng lao động quay trở lại quá trình sản xuất. Quỹ BHXH, BHYT, BHTN sẽ góp phần trợ giúp cho người lao động và gia đình họ bằng cách bù đắp hoặc thay thế một phần thu nhập bị giảm hoặc bị mất đó, hoặc tạo ra cho họ những điều kiện lao động thuận lợi giúp họ ổn định cuộc sống, yên tâm trong công tác. Vai trò của BHXH, BHYT, BHTN đối với người lao động được thể hiện rõ nét thông qua từng chế độ BHXH, BHYT, BHTN: - Những khoản trợ cấp ốm đau bằng tiền mặt giúp người lao động nhanh chóng bình phục thông qua việc hỗ trợ, bù đắp thu nhập bị giảm do không tham gia lao động bằng khoản trợ cấp từ quỹ BHXH, BHYT, BHTN thay thế. - Bảo hiểm thai sản là một phần quan trọng trong việc tái sản xuất sức khỏe của lực lượng lao động cũng như là duy trì sức khỏe làm việc cho các bà mẹ.
- Chế độ bảo hiểm tai nạn – lâu đời nhất và rộng rãi nhất trong các mô hình về BHXH, BHYT, BHTN đóng vai trò ngày càng quan trọng trong việc ngăn cản các tai nạn và ốm đau gắn liền với quá trình lao động và trong sự phục hồi của những người lao động. - Trợ cấp thất nghiệp tạo điều kiện cho những người thất nghiệp bằng cách chi trả kịp thời khoản trợ cấp trong thời gian người lao động bị thất nghiệp và tìm kiếm một công việc phù hợp mà có thể tận dụng hết khả năng của họ; sự kết hợp giữa việc làm và các dịch vụ đào tạo cũng là một nhân tố đáng được kể đến. - Trợ cấp nuôi con (và các khoản trợ cấp bằng tiền khác được cung cấp khi mà trụ cột trong gia đình không có khả năng làm việc) giúp đảm bảo rằng những gia đình có trẻ em có đủ thu nhập để cung cấp đầy đủ chất dinh dưỡng Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn Luan van 8 và môi trường sống khỏe mạnh cho con cái họ. Ở các nước đang phát triển, trợ cấp nuôi con có thể là một công cụ đầy sức mạnh để chống lại việc sử dụng lao động trẻ em và thúc đẩy trẻ em tới trường.
“Trẻ em do đó có thể nhận được sự giáo dục mà cho phép chúng sau này đạt được các mức năng suất lao động và thu nhập cao hơn”. - Hệ thống chăm sóc y tế giúp cho những người lao động có sức khỏe tốt và chữa trị cho họ khi họ bị ốm đau. Sức khỏe kém là một nguyên nhân chủ yếu cho năng suất lao động thấp ở nhiều nước đang phát triển nơi mà người lao động không tiếp cận được với sự chăm sóc sức khỏe đầy đủ. Không những nó hạn chế khả năng lao động của họ trong công việc mà còn dẫn tới việc vắng mặt do ốm đau.
Sự chăm sóc cho các thành viên trong gia đình của người lao động giúp đảm bảo sức khỏe tốt cho lực lượng lao động trong tương lai. Đối với người sử dụng lao động BHXH, BHYT, BHTN ra đời góp phần quan trọng trong việc làm cho mối quan hệ giữa NLĐ và NSDLĐ ngày càng gắn bó. Đây là một trong những điều kiện tiền đề để nâng cao năng suất lao động, thúc đẩy sản xuất phát triển từ đó mang lại nhiều lợi nhuận cho chủ SDLĐ. Bởi vì, chỉ khi NLĐ yên tâm, gắn bó, tự nguyện cống hiến hết sức mình cho công việc thì chất lượng công việc mới đạt hiệu quả cao.Ngược lại, nếu chủ SDLĐ không quan tâm đến quyền lợi BHXH của NLĐ, sẽ khiến cho họ không yên tâm, không được coi trọng và nghiêm trọng hơn nữa có thể là một trong những nguyên nhân dẫn đến NLĐ đình công và làm cho sản xuất bị ngừng trệ.