Chương 1: Cơ sở lý luận về thiết bị dạy học, quản lý thiết bị dạy học đáp ứng yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học. Chương 2: Thực trạng quản lý thiết bị dạy học đáp ứng yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học tại trường PTDTNT THCS và THPT huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang. Chương 3: Các biện pháp quản lý thiết bị dạy học ở trường PTDTNT THCS và THPT huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang nhằm đáp ứng yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học. Phần kết luận, Phần khuyến nghị, Phần danh mục tài liệu tham khảo.
5 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THIẾT BỊ DẠY HỌC VÀ QUẢN LÝ THIẾT BỊ DẠY HỌC ĐÁP ỨNG YÊU CẦU ĐỔI MỚI PHƢƠNG PHÁP DẠY HỌC 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Nghiên cứu trên thế giới Sử dụng thiết bị dạy học đã góp phần phát triển khả năng quan sát và tư duy khoa nhận biết bản chất của sự vật hiện tượng, điều này đã được nhiều công trình khoa học chứng minh. Cùng với sự phát triển của các tư tưởng trong lĩnh vực tâm lý giáo dục, lý thuyết về dạy học trực quan đã có nhiều thành tựu lớn, nhận thức được vai trò của thiết bị dạy học, tính trực quan trong dạy học đã giúp HS không những nhận biết được sự vật hiện tượng mà còn hiểu được bản chất của hiện tượng.
Bàn về quy luật nhận thức của con người, trong tư tưởng duy vật biện chứng của V.Lê-nin khẳng định “từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng, từ tư duy trừu tượng đến thực tiễn”. Có rất nhiều công trình nghiên cứu về thiết bị dạy học, quản lý thiết bị dạy học trên thế giới, như: Nhà giáo dục A.Komenski (1592- 1679) người Tiệp Khắc đã đặt nền móng đầu tiên cho quan điểm dạy học trực quan là: dạy học bắt đầu bằng việc quan sát sự vật, hiện tượng. Trong cuấn sách phép vĩ đại ông viết “…bắt đầu dạy học không thể từ sự giải thích bằng lời nói về các sự vật mà phải từ sự quan sát trực tiếp chúng, lời nói không được đi trước sự vật,… cái có thể tri giác được hãy để cho học sinh tri giác bằng giác quan của chúng, cái nhìn được hãy để cho nhìn, cái nghe được hãy để cho nghe.” Đây là một quy tắc vô cùng có giá trị đối với việc phát triển khả năng nhận thức của người học [32]. Nhà giáo dục học J.Pestalogie (1746-1827) người Thụy Sỹ đã phát triển quan điểm của A.
Komenski và chỉ rõ ra mối quan hệ giữa sự phát triển của tri giác cảm tính với sự phát triển của tư duy. Nghiên cứu của 6 J.Pestalogie xuất phát từ nghiên cứu về tâm lí của trẻ, ông đã yêu cầu người dạy phải tổ chức cho học sinh quan sát sự vật hiện tượng trong quá trình dạy học [1]. Beclinski (1811-1848), nhà hoạt động giáo dục văn hóa nổi tiếng người Nga, ông dựa trên các quan điểm duy vật và cho rằng “các giác quan và bộ não của con người là hai bộ phận lực lượng cần thiết cho nhau”. Ông cho rằng người giáo viên trong quá trình dạy học cần phải cho học sinh tiếp thu nhận thức về hiện thực dựa trên những biểu tượng học sinh đã thu nhận được trong quá trình quan sát thế giới hiện thực [1].
Các thành tựu về tâm lý học và sinh lý học đã giúp nhà giáo dục học người Nga - Usinski (1842-1870) tiếp tục nghiên cứu và phát triển nguyên tắc dạy học trực quan. Usinski cho rằng: “Không có cái gì có thể gi p anh san b ng bức tường ngăn cách giữa GV và HS như là việc anh đưa cho HS xem giải thích nó. H c sinh sẽ suy nghĩ nó thông qua hình dạng, màu sắc, âm thanh và cảm giác nói chung” [1]. Quan điểm này cho thấy ông đã đánh giá rất cao vai trò của các tri giác đối với nhận thức của người học, các tri giác nhìn, nghe…này có được là do người học phải được quan sát trực tiếp sự vật hiện tượng thông qua các thiết bị mô phỏng hoặc thực tế.Leontiev (1903-1979) là nhà tâm lý học Xô Viết nổi tiếng thời hiện đại.
Ông đã có nhiều nghiên cứu về dạy học trực quan, trong đó quan điểm cơ sở về tâm lý học của nguyên tắc dạy học trực quan của ông yêu cầu trong quá trình dạy học người giáo viên sử dụng phương tiện trực quan phải đáp ứng hai yêu cầu: Một phương tiện dạy học có vai trò cụ thể gì trong quá trình lĩnh hội tri thức của trẻ; một phương tiện dạy học có mối quan hệ như thế nào với nội dung tri thức mà trẻ nhận thức và lĩnh hội được. Xuất phát từ hai yêu cầu trên Ông đã chia phương tiện dạy học thành hai loại: loại thứ nhất là phương tiện dạy học dùng để mở rộng kinh nghiệm cảm tính của học sinh và loại thứ hai phương tiện dạy học dùng để giúp học sinh khám phá bản chất 7 của đối tượng. Trong nghiên cứu của mình Ông đã phân tích phương tiện dạy học dưới sự lãnh đạo của GV làm chỗ dựa cho các hành động trong quá trình trẻ nhận thức của đứa trẻ [22]. Quan điểm này cho chúng ta thấy vai trò của thiết bị dạy học là chỗ dựa cho các hành động tư duy và nhận thức của học sinh 1.
Nghiên cứu ở Việt Nam Trong các nhà trường, thiết bị dạy học có rất nhiều loại, đa dạng và khó kiểm soát. Vì vậy, các nhà quản lý giáo dục luôn muốn tìm ra biện pháp quản lý hiệu quả phù hợp với tình hình thực trạng của đơn vị mình nhằm đáp ứng yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học. Trong thời gian qua đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về quản lý thiết bị dạy học nhằm đáp ứng yêu cầu của đổi mới phương pháp dạy học hoặc để đáp ứng yêu cầu trong bối cảnh hiện nay, như: “Quản lý Giáo dục” là nhan đề của cuốn sách do Bùi Minh Hiền chủ biên, trong cuốn sách này tác giả đã đề cập đến các vấn đề về TBDH cũng như vai trò của TBDH trong sự phát triển của hệ thống giáo dục, cách phân loại các TBDH, một số biện pháp quản lý TBDH ở các nhà trường THPT. Đây là đề tài khoa học quan trọng cho các nhà quản lý giáo dục tham khảo để áp dụng [23].
Nguyễn Đức Thắng với đề tài “Quản lý thiết bị dạy h c tại h c viện hậu cần trong giai đoạn phát triển hiện nay” trong đề tài tác giả đã nghiên cứu vai trò quan trọng của thiết bị dạy học trong quá trình dạy học đặc biệt là với đặc thù của trường Học viện Hậu cần, tác giả cũng giúp cho các nhà quản lý giáo dục có cơ sở tham khảo về cách quản lý TBDH tại cơ sở của mình sao cho phát huy tối đa, khai thác tối đa các TBDH đã và đang có [34]. Cơ sở lý luận về phương tiện dạy học, về cách phân loại phương tiện dạy học, cách thiết kế, chế tạo và sử dụng phương tiện dạy học sao cho phát huy tối đa tác dụng của phương tiện dạy học trong các điều kiện dạy học khác 8 nhau đã được nhà nghiên cứu Tô Xuân Giáp giới thiệu trong đề tài “Phương tiện dạy h c, chế tạo và sử dụng” [20]. Vũ Văn Đạt với đề tài “Quản lý thiết bị dạy h c ở các trường THPT huyện An Lão thành phố Hải Phòng” trong đề tài tác giả đã tìm hiểu thực trạng quản lý, sử dụng các TBDH ở các trường THPT huyện An Lão, Hải Phòng để tìm ra những bất cập cần phải thay đổi ngay trong cách quản lý để sao cho các TBDH thực sự được quản lý và sử dụng một cách có hiệu quả tránh gây lãng phí tiền của nhà nước [18]. “Biện pháp quản lý thiết bị dạy h c trường THPT tỉnh Quảng Ngãi trong giai đoạn hiện nay”, là đề tài của Trần Đức Hùng trong đề tài tác giả đã nghiên cứu rất kỹ thực trạng quản lý thiết bị dạy học tại các trường THPT tỉnh Quảng Ngãi, phát hiện ra các bất cập hạn chế cần khắc phục để công tác quản lí thiết bị dạy học tại các trường THPT tỉnh Quảng Ngãi được hiệu quả hơn.
Từ những nghiên cứu lí luận về thiết bị dạy học, quản lí thiết bị dạy học và thực tiễn quản lí tác giả đã đề xuất các biện pháp quản lý thiết bị dạy học phù hợp với các yêu cầu khách quan, điều kiện thực tế của các nhà trường và có tính khả thi cao [25]. Từ năm 2017, Bộ Giáo dục đã soạn thảo chương trình giáo dục mới, đã đề ra yêu cầu đổi mới toàn diện trong giáo dục, từ mục tiêu, nội dung, phương pháp dạy học, TBDH, kiểm tra đánh giá, đã tạo điều kiện thuận lợi cho nhiều nhà nghiên cứu, nghiên cứu nhiều đề tài liên quan đến đổi mới phương pháp dạy học nâng cao chất lượng giáo dục đáp ứng yêu cầu đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao để hội nhập với thế giới, trong phạm vi hạn hẹp của đề tài tôi không thể đề cập hết ở đây. Một số khái niệm cơ bản 1. Quản lý Quản lí là thuật ngữ được sử dụng trong nhiều inh vực ngành nghề khác nhau, mỗi lĩnh vực có khái niệm về thuật ngữ quản lý được phát biểu theo 9 nhiều cách khác nhau.
Đối với các nhà nghiên cứu các khái niệm về quản lí cũng có cách phát biểu khác nhau. Nhưng dù phát biểu như thế nào, quản lí ở lĩnh vực nào thì trong các khái niệm có đến hai thành tố quan trọng, đó là chủ thể quản lí và đối tượng quản lí. Sau đây là một số khái niệm về quản lí mà các nhà nghiên cứu đã phát biểu: Tác giả Trần Kiểm đưa ra khái niệm: “Quản lý là những tác động của chủ thể quản lý trong việc huy động, phát huy, kết hợp, sử dụng, điều chỉnh, điều phối các nguồn l c (nhân l c, vật l c, tài l c) trong và ngoài tổ chức (chủ yếu là nội l c) một cách tối ưu nh m đạt mục đích của tổ chức v i hiệu quả cao nhất” [27]. Tác giả Đặng Quốc Bảo cho rằng: “Quản lý là bao hàm hai hàm ý Quản và Lý''.
Trong đó: Quản là chăm sóc, giữ gìn s ổn định; Lý là sửa sang, sắp xếp, đổi m i phát triển. Như vậy: Quản lý = ổn định + phát triển. Hệ ổn định mà không phát triển thì tất yếu dẫn đến suy thoái. Hệ phát triển mà không ổn định thì tất yếu sẽ rối loạn.