CHƯƠNG I CƠ SỞ LÝ LUẬN CÔNG TÁC KIEM TRA TRONG QUAN LÝ HOAT DONG DẠY Ở TRƯỜNG THPT 1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề 1. Trên thé giới Giáo dục được coi là đồng nghĩa với sự phát triển, không có giáo dục thì không có sự phát triển của xã hội loài người. Cho nên trên thể giới, tất các quốc gia.
dân tộc déu quan tâm đến giáo dục. Trung Hoa cô đại có Không Tử (551-479 TCN), Mạnh Tử (372-289 TCN), Thương Ưởng (390-388 TCN) đã nêu lên tư tưởng quan lý "đức trị”. Không Tử cho rằng dé đất nước phon vinh thi quản lý can quan tâm ba yếu tố: Thứ (dân), Phú (dân giàu), Giáo (dân được giáo dục). Như vậy, giáo dục được coi là yếu tổ không thể thiểu trong quản lý phát triển đất nước.[26] Nhật Ban đầu thé ki XIX, Hàn Quốc, Dai Loan những thập niên 70-80 của thé ki XX là những bài học quý giá cho việc tập trung đầu tư cho phát triển giáo dục.
Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan là những quốc gia khan hiếm nguồn tài nguyên họ luôn lấy con người là nguồn lực phát triên đất nước. Bằng việc tiến hành cải cách toàn diện nền giáo dục đã trở thành những nước có nên kinh tế phát triển hàng dau thế gidi.[16] Nước Mỹ là quốc gia đứng dau thé giới về kinh tế, khoa học và công nghệ. Chính phủ Mỹ rất chú trọng phát trien giáo dục bằng sự đầu tư tài chính va sự quan tâm chia sẻ của xã hội. Nguyên Tong thông Bill Clinton đã cho rằng “giáo dục la van dé an ninh quốc gia tối quan trọng đối với tương lai chúng ta (nước Mỹ)”.
TQM đã được img dụng rộng rải ở nhiều lĩnh vực, trong đó có giáo dục. Qua trình quản lý gỏm: đầu vảo — quá trình — đâu ra. Trong khâu quản lý gud trinh điều quan trọng là cần tiền hành phân tích va kiếm tra đánh gid quả trình đó. Điều này cùng tương tự quản ly quá trình giảng day của GV trong giáo duc, can có kiêm tra hoạt động của GV.
Ở Việt Nam Ở Việt Nam ngay từ khi thành lập nước, Dang va Nha nước đã rất quan tâm đến giáo dục, coi sự dốt nát nguy hiểm như giặc ngoại xâm vả ngày cảng coi trọng giáo dục. Nghị quyết Hội nghị lần thứ 2 Ban chấp hành trung ương Dang khóa VIII đã khăng định: "Phải thực sự coi giáo duc — dao tạo là quốc sách hang đầu”, toàn xã hội chăm lo cho sự nghiệp giáo dục. Các công trình trên là cam nang cho cho các nha QLGD các cấp trong lý luận cũng như thực tiễn QLGD, quản lý nha trường. Các tác giả đã nêu lên những nguyên tắc chung của việc quản lý hoạt động dạy - học, từ đó chỉ ra một số biện pháp quản lý nhà trường.
Một trong các biện pháp hữu hiệu để duy trì, điều chỉnh hoạt động của hệ thống quản lý đi đúng mục tiêu, kế hoạch đó là các biện pháp kiểm tra, đánh giá kết quả công việc trong từng giai đoạn nhất định. Hà Sỹ Hồ trong cuốn "Những bài giảng về quan lý trường hoc” da cho rang "Chức năng kiểm tra đặc biệt quan trọng vi quá trình quản lý đòi hỏi những thông tin chính xác, kịp thời về thực trạng của đối tượng quản lý, việc thực hiện các quyết định đã đề ra, tức là đòi hỏi những liên hệ ngược chính xác, vững chắc giữa các phân hệ quản lý. Ông khăng định: “quản lý mà không kiểm tra thi quản lý sé ít hiệu quả và trở thành quan lý quan liéu”.[19] Tác giả Nguyễn Ngọc Quang trong “Những khái niệm cơ bản về quản lý giáo dục” cho rằng: quá trình quản lý dién ra trong năm giai đoạn, giai đoạn kiêm tra là giai đoạn cuối cùng, kết thúc một chu trình quan ly. Kiếm tra giúp cho việc chuẩn bị tích cực cho kỳ kế hoạch tiếp theo.
Kiểm tra tốt, đánh giá sâu sắc và chuẩn bị trạng thải cuối cùng của hệ (nhà trường) thì kế hoạch (năm học) tiếp theo sẽ được soạn thảo một cách thuận lợi hơn, kế thừa được mặt mạnh và tiếp tục phát hiện lệch lac để uốn nắn. Kiểm tra giữ vai trò liên hệ nghịch trong quá trình quản lý. Nó giúp chủ thé quan lý điều khiển một cách tôi ưu quan hệ quản ly. Không có kiểm tra thì không có quan lý.[29] Trong các dé tài luận văn, luận án chuyên nganh QLGD của những năm gần đây, các tác giả cũng có đề cập đến một số vấn đề chung công tác thanh tra, kiểm tra hoạt động dạy của GV ở các cấp độ khác nhau, trong đó có các dé tai điển hình như: Thực trạng kiểm tra hoạt động dạy học trên lớp của Hiệu trưởng trường trung học cơ sở quận Ninh Kiểu, thành phố Can Thơ (2009), Nguyễn Lê Hương.
Luận văn Thạc sĩ Giáo dục học chuyên ngành QLGD. Thực trạng quan ly hoạt động dạy học cua Hiệu trưởng theo định luướng phát huy tính tích cực nhận thức cua học sinh tại các trưởng tiêu học quận Thủ Đức thành phố Hà Chi Minh (2009), Nguyễn Thị Mai Thu, Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành QLGD. Thực trạng và một số biện pháp quản lý hoạt động giảng dạy của Hiệu trưởng các trường tiéu học ở huyện Tran Văn Thời, tinh Cà Mau (2008), Nguyễn Anh Tuan, Luận văn Thạc sĩ Giáo dục học chuyên ngành QLGD. Thực trạng công tác thanh tra hoạt động sư phạm cia GVTHPT tinh Cà Mau (2008), Thái Khắc Sơn, Luận văn thạc sĩ Giáo dục học chuyên ngành QLGD.
10 Nhin chung, các công trình trên da đẻ cập đến những van đẻ cơ bản liên quan đến quản lý hoạt động day của Hiệu trưởng trong nha trường và đưa ra một số biện pháp giúp họ nâng cao khả năng quản lý nhà trường. Đông thời cũng gợi ra nội dung công tác kiểm tra trong quản lý hoạt động dạy của GV, Đề công tác kiêm tra trong quản lý hoạt động dạy hiện nay đáp ứng được yêu cau thực tiền cua các trường THPT thi đòi hỏi phải có nhiều công trình nghiền cứu vẻ van dé này sâu sắc và hệ thống hơn nữa. Các khái niệm cơ bản 1. Quan ly, quan lý giáo dục 1.
Quan ly Có nhiều ý kiến khác nhau vẻ khái niệm quản lý, sau đây là một số quan điểm: Theo sự phân tích của Mác thì “bất cứ nơi nào có lao động,nơi đó có quản lý" hay "một người chơi vĩ cằm riêng rẽ thì tự điều khiển mình nhưng một giản nhạc thi cần có một nhạc trướng".Taylor-Người cha của thuyết quản lý khoa học cho rằng: "Quan lý là nghệ thuật biết rõ ràng, chính xác cái gì cần làm và làm cái đó thế nảo bằng phương pháp tốt nhất và rẻ nhất".Fayol-Nhà lý luận quản lý kinh tế người Pháp, khi áp dụng lý thuyết vào thực tien quan lý một xí nghiệp thi: "Quản lý là đưa xí nghiệp tới đích, cô gang sử dụng tốt nhất các nguồn nhân lực của nó".{14] Tác giả Hà Sĩ Hỗ: “Quan lý là một quá trình tác động có định hướng (có chủ đích), có tô chức, lựa chọn trong các tác động có thê có, dua trên các thông tin về thực trạng của đối tượng và môi trường, nhằm cho sự vận hành của đối tượng được ổn định và làm cho nó phát triển tới mục đích đã định". [19] Tác giả Đặng Vũ Hoạt và Hà Thế Ngữ cho rằng: “Quản lý là một quả trình định hướng, qua trình có mục dich, quản lý có hệ thong là quá trình tác động đến hệ thông nhằm đạt được những mục tiêu nhất định. Những mục tiêu nay đặc trưng cho trạng thai mới của hệ thong mà người quản lý mong muốn”. [23] Theo tác giả Trần Kiểm: “Quan lý là những tác động của chủ thé quan lý trong việc huy động phát huy, kết hợp, sử dụng, điều chỉnh, điều phối các nguồn lực (nhân lực, vật lực, tài lực) trong và ngoài nước (chủ yếu là nội lực) một cách tôi ưu nhằm đạt mục dich của tô chức với hiệu quả cao nhất.” [23] Từ những khái niệm quản lý nêu trên, ta có thé rút ra được những dau hiệu chung chú yêu về bản chất của hoạt động quản lý là: - Hoạt động quan lý được tiền hành trong một tô chức hay một nhóm xã hội, la sự tác động có hướng đích, có sự phối hợp nỗ lực của các cá nhân nhằm thực hiện mục tiêu đề ra với hiệu quả cao nhất, phù hợp với quy luật khách quan.
- Hoạt động quản lý gồm hai thành phần chủ yếu có tác động qua lại: + Chú thé quan lý (ai quản lý): chỉ có thé là con người hoặc một tỏ chức do con người cụ thé lập nên. + Đối tượng quan lý (quản lý ai, quản lý cái gi, quan lý công việc gi): đó có thé là người, tổ chức, vật chất hay sự việc. * Các chức năng quản lý Chức năng quản lý là một dạng hoạt động quan lý, là một thé thống nhất những hoạt động tất yếu của chủ thé quản lý nay sinh từ phân công, chuyên môn hoá trong hoạt động quản lý nhằm thực hiện mục tiêu. Quản lý gồm có các chức năng: chức năng lập kê hoạch, tô chức lãnh đạo, chỉ đạo, điều khiển và kiểm tra.
Lập kế hoạch la quá trình thiết lập các mục tiêu, các con đường, các biện pháp, các điều kiện đảm bảo cho hoạt động thực hiện các mục tiêu đó. Ké hoạch là nên tảng của quản lý. Tổ chức là quả trình sắp xếp phản bỏ công việc, chia sẻ quyền hành, nguồn lực cho các thành viên dé họ có thé hoàn thanh các mục tiêu xác định. TO chức là công cụ hết sức quan trọng của quản lý.
Lãnh đạo, chi đạo là quá trình các chủ thé quản lý điều khiển, hướng dẫn con người trong tổ chức dé họ tự nguyện, nhiệt tinh, tin tưởng, phan dau đạt các mục tiêu quản lý. Chỉ đạo là khâu quan trọng nhất trong quản lý. Kiểm tra là đo lường, đánh giá kết qua của việc thực hiện các mục tiêu của tô chức nhằm tim ra những ưu điểm và những hạn chế dé điều chỉnh khâu lập kế hoạch, tỏ chức vả lãnh đạo. Các chức năng quản lý có mỗi quan hệ hữu cơ chặt chẽ, tác động ảnh hưởng lẫn nhau trong một môi trường quản lý xác định.
Quản lý giáo dục Giáo dục là một hoạt động đặc biệt của con người, là hoạt động có mục đích, có chương trình, có kế hoạch. Giáo dục có hai chức năng tổng quát: én định duy trì quá trình dao tạo đáp ứng nhu cầu hiện hành của nên kinh tế - xã hội, và đổi mới phát triển quá trình dao tạo đón dau sự tiến bộ, phát triển kinh tế - xã hội. Lĩnh vực giáo dục cũng cần có quản lý như các lĩnh vực khác của đời sông xã hội.