Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ THIẾT BỊ DẠY HỌC TẠI CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ 1. Tổng quan vấn đề nghiên cứu 1. Các nghiên cứu ở nước ngoài Quá trình phát triển của khoa học giáo dục, hoạt động giáo dục và dạy học đã được nghiên cứu có hệ thống từ thời sơ khai cho đến ngày nay.Xukhomlinxki, Nhà sư phạm nổi tiếng của nước Nga trong tác phẩm “Trường Trung học Pavlưsh” (tổng kết kinh nghiệm công tác giảng dạy – giáo dục trong nhà trường trung học) mới đề cập đến vị trí, vai trò của TBDH trong trường học.[41] Tác phẩm “Những vấn đề quản lý trường học” của các tác giả P. Saxer Dotop đã đề cập các phương tiện cơ sở vật chất của trường học, đồng thời cũng nêu ra yêu cầu khái quát về phương pháp quản lý các phương tiện [40] Komensky(1592 – 1670), nhà giáo dục Công hòa Séc được coi là một trọng những ông tổ ngành sư phạm ở Châu Âu và trên thế giới.
Ông chủ trương giảng dạy bằng hoạt động, bằng sự quan sát trực tiếp, bằng sự tiếp xúc với sự vật trong đời sống hằng ngày.việc dạy học phải bằng sự vật, hiện tượng. Vì sự vật là thân thể, lời nói là cái ảo,. lời nói mà không có sự vật là vỏ không có nhân, bao không có kiếm, bóng không có hình, thân không có hồn. Mác, yếu tố quyết định trình độ hoạt động không phải là tạo ra cái gì, mà là tạo ra cái đó bằng cách nào và bằng phương tiện nào.
Theo nhà giáo dục học, viện sĩ Xukhomlinxki: “Nghệ thuật giáo dục là chỗ không chỉ giáo dục bằng các quan hệ giữa người với người, bằng gương sáng và lời nói của nhà giáo dục, bằng những truyền thông được trân trọng giữ gìn trong tổ chức mà còn giáo dục bằng môi trường và cảnh trí do chính học sinh xây dựng nên, đó là cách làm phong phú cuộc sống tâm hồn cho học sinh”. Bên cạnh đó, tổ chức lao động quốc tế ADB/ILO(Evaluation Rating criteria for the VTE Íntitution, ADB/ILO – BangKok 1997) đưa ra 9 tiêu chuẩn và điểm đánh giá cơ sở vật chất – kỹ thuật và thư viện chiếm 125/5000 tổng điểm chung. 6 Nhà giáo dục học người Thụy Sĩ J.Pestalogie (1746 – 1827) đã phát triển nguyên tắc dạy học trực quan của Komenski với tư tưởng chỉ rõ mối quan hệ hữu cơ giữa tri giác cảm tính với sự phát triển tư duy. Pestalogie đã đưa ra yêu cầu tổ chức quan sát sự vật, hiện tượng trong quá trình dạy học xuất phát từ tâm lý của trẻ em.
Nhà hoạt động giáo dục, văn hóa nổi tiếng người Nga Belinski (1811 – 1848) lại đi tìm sự gắn kết của việc dạy học trực quan với các đặc điểm sinh lý thần kinh của con người. Dựa trên các đặc điểm duy vật, ông xem “các giác quan và bộ não của con người là hai lực lượng cần thiết cho nhau”. Ông nói: Nhà sư phạm trong quá trình dạy học cần phải dựa trên những biểu tượng của trẻ đã thu nhận được trong quá trình quan sát thế giới hiện thực. Nhà giáo dục học người Nga Usinski (1824 – 1870) tiếp tục phát triển nguyên tắc dạy học trực quan dựa trên các thành tựu mới về tâm lý học và sinh lý học.
Ông khẳng định: “không có cái gì có thể giúp anh san bằng bức tường ngăn cách giữa giáo viên và học sinh như là việc anh đưa cho học sinh xem và giải thích nó…đứa trẻ suy nghĩ bằng hình dạng, bằng màu sắc, âm thanh và bằng cảm giác nói chung”. Nhà tâm lý học A.Leontiev (1903– 1979), ông là một đại diện xuất sắc thuộc trường phái tâm lý học Xô-Viết hiện đại.Leontiev đã đưa ra quan điểm về cơ sở tâm lý học của nguyên tắc dạy học trực quan. Một phương tiện dạy học sẽ thể hiện vai trò cụ thể gì trong quá trình lĩnh hội tri thức của trẻ? Một phương tiện dạy học và nội dung tri thức mà trẻ nhận thức và lĩnh hội được nằm trong mối quan hệ nào? Theo quan điểm đó, A.Leontiev đã chia phương tiện dạy học thành hai loại: Phương tiện dạy học dùng để mở rộng kinh nghiệm, cảm tính của trẻ và phương tiện dạy học dùng để khám phá bản chất của đối tượng. Ông phân tích: “Phương tiện dạy học làm chỗ dựa bên ngoài cho các hành động bên trong của đứa trẻ dưới sự lãnh đạo của giáo viên trong quá trình đứa trẻ nhận thức” và “chính đứa trẻ nghiên cứu không phải vật nổi hay chìm mà quy luật của sự nổi – Định luật Acsimet.
Nó nghiên cứu không phải sự đốt nóng mà là các định luật về trao đổi nhiệt”. Các nghiên cứu ở Việt Nam Đối với Việt Nam, việc đầu tư CSVC-TBDH đặc biệt được Đảng và Nhà nước quan tâm, từ những năm 1960 Bộ giáo dục và Đào tạo đã chính thức ban hành 7 tiêu chí TBDH từ mẫu giáo đến phổ thông, đến 2000 đã chính thức ban hành quy chế thiết bị giáo dục, đến 2010 chính thức ban hành danh mục thiết bị tối thiểu đối với các nhà trường. Chính vì vậy, đã có nhiều đề tài nghiên cứu về việc sử dụng TBDH, quản lý TBDH nhằm tìm ra những giải pháp quản lý hiệu quả TBDH như : - Năm 2005, chủ nhiệm đề tài Ngô Quang Sơn đã bảo vệ thành công đề tài cấp Bộ về : “Một số biện pháp quản lý nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng thiết bị giáo dục, ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông tại các trung tâm giáo dục thường xuyên và trung tâm học tập cộng đồng”.[33] - Năm 2006, đề tài luận văn thạc sĩ: “Một số biện pháp quản lý CSVC và thiết bị trường học của hiệu trưởng các trường THCS huyện miền núi Sơn Dương- Tuyên Quang” của tác giả Nguyễn Thị Huế. [24] - Năm 2008, đề tài luận văn thạc sĩ: “Biện pháp quản lý phương tiện dạy học của hiệu trưởng các trường THCS quận Đống Đa, thành phố Hà Nội trong giai đoạn hiện nay” của tác giả Phan Kim Anh.
Thông qua việc tìm hiểu thực trạng việc quản lý CSVC và TBTH của hiệu trưởng trường THCS Sóc Sơn Hà Nội trong giai đoạn 1996-2004, đề tài đã đề xuất một số biện pháp xây dựng và quản lý CSVC và TBTH của hiệu trưởng trường THCS Sóc Sơn Hà Nội. Đề tài: “Các biện pháp quản lý CSVC&TBTH ở trường THCS Hồ Chí Minh” của tác giả Vũ Văn Trà…. [37] Tác giả Tô Xuân Giáp với công trình: “Phương tiện dạy học chế tạo và sử dụng”, tác giả đã đưa ra những cơ sở phân loại và phân loại phương tiện dạy học, cách thức lựa chọn, thiết kế, chế tạo, sử dụng phương tiện dạy học và các điều kiện để đảm bảo sử dụng có hiệu quả phương tiện dạy học. Theo tác giả: Phương tiện được sử dụng đúng có tác dụng làm tăng hiệu quả sư phạm của nội dung và phương pháp dạy học lên rất nhiều.
Trong cuốn: “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn của việc xây dựng sử dụng cơ sở vật chất và thiết bị dạy học ở trường phổ thông Việt Nam” tác giả Trần Quốc Đắc chủ biên, đã đưa ra các quan điểm làm cơ sở cho việc sử dụng thiết bị dạy học, xác định vị trí, vai trò của cơ sở vật chất, thiết bị dạy học ở trường phổ thông. Các tác giả trong công trình nghiên cứu trên đã nhận định: “TBDH phải được sử dụng, hiệu quả sử dụng là mục tiêu cơ bản nhất và là mục tiêu duy nhất của toàn bộ công 8 tác thiết bị trường học. Sử dụng có hiệu quả thiết bị dạy học là một nhiệm vụ nặng nề, khó khăn của người thầy giáo. Điều này đòi hỏi người thầy giáo phải có trình độ chuyên môn nghiệp vụ cao với yêu cầu sử dụng thiết bị dạy học.
Người GV không những cần hiểu biết về thiết bị dạy học, về kỹ thuật sử dụng chúng mà còn hiểu sâu về phương pháp dạy học với yêu cầu sử dụng thiết bị dạy học: sử dụng thiết bị dạy học với mục đích gì, lúc nào, liều lượng bao nhiêu, đặc điểm tâm lí HS ra sao; HS cần tham gia hoạt động như thế nào khi dạy học có sử dụng thiết bị dạy học, sử dụng thiết bị dạy học như thế nào để khơi dậy lòng say mê học tập, phát huy tính tích cực, năng lực sáng tạo và bồi dưỡng nhân cách cho HS” (Trần Quốc Đắc, 2002). Trong cuốn: “Quản lý giáo dục” do Bùi Minh Hiền chủ biên, ở chương 10 đã đề cập đến các vấn đề lí luận về vai trò của thiết bị dạy học trong sự phát triển hệ thống giáo dục quốc dân, phân loại các nhóm thiết bị dạy học mà người quản lý cần bao quát và đưa ra một số nguyên tắc và giải pháp quản lý thiết bị dạy học ở nhà trường THPT trong giai đoạn hiện nay. Bài viết “Nâng cao hiệu quả sử dụng thiết bị dạy học trường Trung học cơ sở” của tác giả Trần Đức Vượng thuộc Viện chiến lược và Chương trình giáo dục. Qua khảo sát việc sử dụng thiết bị dạy học ở nhiều địa phương tác giả đã rút ra một số nguyên nhân dẫn đến sử dụng không hiệu quả thiết bị dạy học như: Trình độ sử dụng thiết bị dạy học của giáo viên còn thấp, đội ngũ quản lý giáo dục ở một vài địa phương chưa thật sự chú trọng chỉ đạo việc sử dụng có hiệu quả sử dụng thiết bị dạy học.
Đồng thời tác giả cũng đã đề ra một số các biện pháp nâng cao hiệu quả sử dụng thiết bị dạy học. Nội dung bài viết nhằm nghiên cứu cơ sở lý luận, làm căn cứ đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp quản lý thiết bị dạy học trong nhà trường góp phần nâng cao chất lượng giáo dục. Bên cạnh đó, bài viết “Thực trạng và một số biện pháp quản lý hoạt động dạy học của Tổ trưởng chuyên môn ở các trường THCS quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ” của tác giả Huỳnh Mộng Tuyền, Nguyễn Thị Việt Thương, Trường Đại học Đồng Tháp, được in trên Tạp chí Giáo dục, Số đặc biệt tháng 7/2019,tr 25-31. Qua khảo sát, đánh giá thực trạng cho thấy, Chất lượng HĐDH ở các trường trung 9 học cơ sở quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ tỉ lệ thuận với chất lượng tác động QL của TTCM.
Thực trạng QL mục tiêu, nội dung, phương pháp, hình thức, sử dụng phương tiện dạy học, kiểm tra, đánh giá chủ yếu đạt mức trung bình, đạt mức khá ở một số nội dung công việc QL, tuy nhiên vẫn còn nhiều hạn chế.