Luận văn: Quản lý thiết bị dạy học tại các trường THCS Quận 4, TP.HCM

Luận văn phân tích thực trạng quản lý thiết bị dạy học tại THCS Quận 4, TP.HCM, đồng thời đề xuất các giải pháp khả thi nhằm nâng cao hiệu quả.

Chuyên ngành

Quản lý giáo dục

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2024

117
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Thực trạng quản lý thiết bị dạy học THCS Quận 4

Quản lý thiết bị dạy học tại các trường trung học cơ sở Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay đang đối mặt với nhiều thách thức. Theo khảo sát từ luận văn thạc sỹ của Mai Quốc Thắng, tình trạng thiết bị dạy học tại khu vực này còn tồn tại nhiều vấn đề cơ bản. Số lượng và chủng loại thiết bị chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu chương trình giáo dục hiện đại. Chất lượng cơ sở vật chất tại một số trường vẫn ở mức trung bình, với tình trạng hao mòn và lỗi thường xuyên. Đội ngũ cán bộ quản lý thiết bị dạy học chưa được đào tạo bài bản, thiếu kiến thức chuyên môn về khai thác và bảo quản. Công tác kiểm tra đánh giá thiết bị vẫn còn hạn chế, thiếu tính hệ thống và định kỳ.

1.1. Về chất lượng và số lượng thiết bị

Hiện trạng cho thấy thiết bị dạy học tại Quận 4 chưa đủ để phục vụ nhu cầu của học sinh. Nhiều trường thiếu thiết bị phục vụ các môn khoa học, công nghệ. Tình trạng già cỗi của thiết bị ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng dạy học. Thiếu kinh phí để nâng cấp và mua sắm thiết bị mới đang là trở ngại lớn.

1.2. Về đội ngũ quản lý và nhân viên

Đội ngũ cán bộ quản lý thiết bị dạy học chưa được trang bị đủ kỹ năng chuyên môn. Nhiều nhân viên thiếu kiến thức về bảo dưỡng, sửa chữa thiết bị. Việc bồi dưỡng nghiệp vụ còn chưa thường xuyên và hiệu quả.

II. Nguyên nhân gây ra các khó khăn trong quản lý

Các khó khăn trong quản lý thiết bị dạy học THCS Quận 4 không phải xuất hiện ngẫu nhiên mà có những nguyên nhân sâu xa. Trước hết, nguồn kinh phí dành cho nâng cấp cơ sở vật chất còn hạn chế và không ổn định. Nhận thức của một số cán bộ quản lý trường về vai trò quan trọng của thiết bị dạy học vẫn chưa đủ cao. Cơ chế quản lý thiết bị chưa được xây dựng một cách bài bản và đồng bộ. Thiếu sự phối hợp giữa các bộ phận có liên quan trong việc lập kế hoạch và quản lý. Áp lực từ việc tổ chức dạy học trực tiếp làm cho công tác quản lý thiết bị không được xem là ưu tiên.

2.1. Yếu tố kinh phí và tài chính

Kinh phí dành cho quản lý thiết bị dạy học chưa được phân bổ hợp lý. Nguồn vốn từ ngân sách nhà nước còn có hạn. Các trường khó khăn trong việc lập kế hoạch mua sắm dài hạn vì sự không chắc chắn về kinh phí hàng năm.

2.2. Yếu tố nhận thức và tổ chức

Một số lãnh đạo trường chưa coi trọng công tác quản lý thiết bị dạy học như một bộ phận quan trọng. Cơ cấu tổ chức quản lý còn lỏng lẻo. Thiếu quy định cụ thể về trách nhiệm của từng bộ phận trong quản lý cơ sở vật chất.

III. Các giải pháp nâng cao quản lý thiết bị dạy học

Để khắc phục các tồn tại, cần triển khai những giải pháp quản lý thiết bị dạy học toàn diện và hiệu quả. Thứ nhất, tổ chức nâng cao nhận thức cho cán bộ, giáo viên về vai trò của thiết bị dạy học trong nâng cao chất lượng giáo dục. Thứ hai, tăng cường mua sắm thiết bị đủ số lượng và đảm bảo chất lượng theo chương trình giáo dục. Thứ ba, lập kế hoạch bồi dưỡng nghiệp vụ khai thác sử dụng thiết bị cho nhân viên chuyên trách. Thứ tư, nâng cao công tác bảo quản, bảo dưỡng sửa chữa thiết bị định kỳ. Thứ năm, đổi mới công tác kiểm tra, đánh giá thiết bị một cách khoa học và thường xuyên.

3.1. Nâng cao nhận thức và đào tạo cán bộ

Cần tổ chức các buổi tập huấn, hội thảo để nâng cao nhận thức về quản lý thiết bị dạy học. Đào tạo chuyên môn cho nhân viên về kỹ thuật sử dụng, bảo dưỡng thiết bị. Xây dựng đội ngũ quản lý chuyên biệt có trình độ cao.

3.2. Cải thiện cơ sở vật chất và quy định quản lý

Xây dựng quy chế quản lý thiết bị dạy học chi tiết và cụ thể. Lập kế hoạch nâng cấp cơ sở vật chất dài hạn. Thiết lập hệ thống kiểm kê, bảo quản thiết bị hiệu quả. Tăng kinh phí cho mua sắm và bảo trì thiết bị định kỳ.

IV. Kết luận và hướng phát triển tương lai

Quản lý thiết bị dạy học THCS Quận 4 là vấn đề cấp thiết cần được quan tâm đặc biệt. Những khó khăn hiện nay không phải là bất khả vượt qua nếu chúng ta có giải pháp tổng thể và sự cam kết từ các cấp lãnh đạo. Tương lai, công tác quản lý thiết bị cần được xây dựng theo hướng chuyên nghiệp, hệ thống và bền vững. Các trường cần nhận thức rằng thiết bị dạy học chất lượng là nền tảng để nâng cao hiệu quả giáo dục. Sự phối hợp giữa nhà trường, phòng giáo dục và các bên liên quan sẽ tạo ra synergy trong quản lý cơ sở vật chất. Khi đó, mục tiêu cung cấp môi trường học tập tốt cho học sinh sẽ được đạt thành công.

4.1. Những thành quả cần đạt được

Xây dựng hệ thống quản lý thiết bị dạy học hiện đại, phù hợp với tiêu chuẩn quốc tế. Đảm bảo mỗi trường THCS có đủ thiết bị dạy học để thực hiện chương trình. Nâng cao hiệu suất sử dụng thiết bị từ 60% lên 80-90%. Giảm tỷ lệ thiết bị hỏng hóc thông qua bảo trì tốt.

4.2. Định hướng phát triển bền vững

Tiếp tục nghiên cứu và cập nhật quy chuẩn quản lý thiết bị dạy học. Ứng dụng công nghệ số vào quản lý cơ sở vật chất. Xây dựng mô hình quản lý chia sẻ thiết bị giữa các trường để tối ưu hóa nguồn lực.

18/12/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ THIẾT BỊ DẠY HỌC TẠI CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ 1. Tổng quan vấn đề nghiên cứu 1. Các nghiên cứu ở nước ngoài Quá trình phát triển của khoa học giáo dục, hoạt động giáo dục và dạy học đã được nghiên cứu có hệ thống từ thời sơ khai cho đến ngày nay.Xukhomlinxki, Nhà sư phạm nổi tiếng của nước Nga trong tác phẩm “Trường Trung học Pavlưsh” (tổng kết kinh nghiệm công tác giảng dạy – giáo dục trong nhà trường trung học) mới đề cập đến vị trí, vai trò của TBDH trong trường học.[41] Tác phẩm “Những vấn đề quản lý trường học” của các tác giả P. Saxer Dotop đã đề cập các phương tiện cơ sở vật chất của trường học, đồng thời cũng nêu ra yêu cầu khái quát về phương pháp quản lý các phương tiện [40] Komensky(1592 – 1670), nhà giáo dục Công hòa Séc được coi là một trọng những ông tổ ngành sư phạm ở Châu Âu và trên thế giới.

Ông chủ trương giảng dạy bằng hoạt động, bằng sự quan sát trực tiếp, bằng sự tiếp xúc với sự vật trong đời sống hằng ngày.việc dạy học phải bằng sự vật, hiện tượng. Vì sự vật là thân thể, lời nói là cái ảo,. lời nói mà không có sự vật là vỏ không có nhân, bao không có kiếm, bóng không có hình, thân không có hồn. Mác, yếu tố quyết định trình độ hoạt động không phải là tạo ra cái gì, mà là tạo ra cái đó bằng cách nào và bằng phương tiện nào.

Theo nhà giáo dục học, viện sĩ Xukhomlinxki: “Nghệ thuật giáo dục là chỗ không chỉ giáo dục bằng các quan hệ giữa người với người, bằng gương sáng và lời nói của nhà giáo dục, bằng những truyền thông được trân trọng giữ gìn trong tổ chức mà còn giáo dục bằng môi trường và cảnh trí do chính học sinh xây dựng nên, đó là cách làm phong phú cuộc sống tâm hồn cho học sinh”. Bên cạnh đó, tổ chức lao động quốc tế ADB/ILO(Evaluation Rating criteria for the VTE Íntitution, ADB/ILO – BangKok 1997) đưa ra 9 tiêu chuẩn và điểm đánh giá cơ sở vật chất – kỹ thuật và thư viện chiếm 125/5000 tổng điểm chung. 6 Nhà giáo dục học người Thụy Sĩ J.Pestalogie (1746 – 1827) đã phát triển nguyên tắc dạy học trực quan của Komenski với tư tưởng chỉ rõ mối quan hệ hữu cơ giữa tri giác cảm tính với sự phát triển tư duy. Pestalogie đã đưa ra yêu cầu tổ chức quan sát sự vật, hiện tượng trong quá trình dạy học xuất phát từ tâm lý của trẻ em.

Nhà hoạt động giáo dục, văn hóa nổi tiếng người Nga Belinski (1811 – 1848) lại đi tìm sự gắn kết của việc dạy học trực quan với các đặc điểm sinh lý thần kinh của con người. Dựa trên các đặc điểm duy vật, ông xem “các giác quan và bộ não của con người là hai lực lượng cần thiết cho nhau”. Ông nói: Nhà sư phạm trong quá trình dạy học cần phải dựa trên những biểu tượng của trẻ đã thu nhận được trong quá trình quan sát thế giới hiện thực. Nhà giáo dục học người Nga Usinski (1824 – 1870) tiếp tục phát triển nguyên tắc dạy học trực quan dựa trên các thành tựu mới về tâm lý học và sinh lý học.

Ông khẳng định: “không có cái gì có thể giúp anh san bằng bức tường ngăn cách giữa giáo viên và học sinh như là việc anh đưa cho học sinh xem và giải thích nó…đứa trẻ suy nghĩ bằng hình dạng, bằng màu sắc, âm thanh và bằng cảm giác nói chung”. Nhà tâm lý học A.Leontiev (1903– 1979), ông là một đại diện xuất sắc thuộc trường phái tâm lý học Xô-Viết hiện đại.Leontiev đã đưa ra quan điểm về cơ sở tâm lý học của nguyên tắc dạy học trực quan. Một phương tiện dạy học sẽ thể hiện vai trò cụ thể gì trong quá trình lĩnh hội tri thức của trẻ? Một phương tiện dạy học và nội dung tri thức mà trẻ nhận thức và lĩnh hội được nằm trong mối quan hệ nào? Theo quan điểm đó, A.Leontiev đã chia phương tiện dạy học thành hai loại: Phương tiện dạy học dùng để mở rộng kinh nghiệm, cảm tính của trẻ và phương tiện dạy học dùng để khám phá bản chất của đối tượng. Ông phân tích: “Phương tiện dạy học làm chỗ dựa bên ngoài cho các hành động bên trong của đứa trẻ dưới sự lãnh đạo của giáo viên trong quá trình đứa trẻ nhận thức” và “chính đứa trẻ nghiên cứu không phải vật nổi hay chìm mà quy luật của sự nổi – Định luật Acsimet.

Nó nghiên cứu không phải sự đốt nóng mà là các định luật về trao đổi nhiệt”. Các nghiên cứu ở Việt Nam Đối với Việt Nam, việc đầu tư CSVC-TBDH đặc biệt được Đảng và Nhà nước quan tâm, từ những năm 1960 Bộ giáo dục và Đào tạo đã chính thức ban hành 7 tiêu chí TBDH từ mẫu giáo đến phổ thông, đến 2000 đã chính thức ban hành quy chế thiết bị giáo dục, đến 2010 chính thức ban hành danh mục thiết bị tối thiểu đối với các nhà trường. Chính vì vậy, đã có nhiều đề tài nghiên cứu về việc sử dụng TBDH, quản lý TBDH nhằm tìm ra những giải pháp quản lý hiệu quả TBDH như : - Năm 2005, chủ nhiệm đề tài Ngô Quang Sơn đã bảo vệ thành công đề tài cấp Bộ về : “Một số biện pháp quản lý nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng thiết bị giáo dục, ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông tại các trung tâm giáo dục thường xuyên và trung tâm học tập cộng đồng”.[33] - Năm 2006, đề tài luận văn thạc sĩ: “Một số biện pháp quản lý CSVC và thiết bị trường học của hiệu trưởng các trường THCS huyện miền núi Sơn Dương- Tuyên Quang” của tác giả Nguyễn Thị Huế. [24] - Năm 2008, đề tài luận văn thạc sĩ: “Biện pháp quản lý phương tiện dạy học của hiệu trưởng các trường THCS quận Đống Đa, thành phố Hà Nội trong giai đoạn hiện nay” của tác giả Phan Kim Anh.

Thông qua việc tìm hiểu thực trạng việc quản lý CSVC và TBTH của hiệu trưởng trường THCS Sóc Sơn Hà Nội trong giai đoạn 1996-2004, đề tài đã đề xuất một số biện pháp xây dựng và quản lý CSVC và TBTH của hiệu trưởng trường THCS Sóc Sơn Hà Nội. Đề tài: “Các biện pháp quản lý CSVC&TBTH ở trường THCS Hồ Chí Minh” của tác giả Vũ Văn Trà…. [37] Tác giả Tô Xuân Giáp với công trình: “Phương tiện dạy học chế tạo và sử dụng”, tác giả đã đưa ra những cơ sở phân loại và phân loại phương tiện dạy học, cách thức lựa chọn, thiết kế, chế tạo, sử dụng phương tiện dạy học và các điều kiện để đảm bảo sử dụng có hiệu quả phương tiện dạy học. Theo tác giả: Phương tiện được sử dụng đúng có tác dụng làm tăng hiệu quả sư phạm của nội dung và phương pháp dạy học lên rất nhiều.

Trong cuốn: “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn của việc xây dựng sử dụng cơ sở vật chất và thiết bị dạy học ở trường phổ thông Việt Nam” tác giả Trần Quốc Đắc chủ biên, đã đưa ra các quan điểm làm cơ sở cho việc sử dụng thiết bị dạy học, xác định vị trí, vai trò của cơ sở vật chất, thiết bị dạy học ở trường phổ thông. Các tác giả trong công trình nghiên cứu trên đã nhận định: “TBDH phải được sử dụng, hiệu quả sử dụng là mục tiêu cơ bản nhất và là mục tiêu duy nhất của toàn bộ công 8 tác thiết bị trường học. Sử dụng có hiệu quả thiết bị dạy học là một nhiệm vụ nặng nề, khó khăn của người thầy giáo. Điều này đòi hỏi người thầy giáo phải có trình độ chuyên môn nghiệp vụ cao với yêu cầu sử dụng thiết bị dạy học.

Người GV không những cần hiểu biết về thiết bị dạy học, về kỹ thuật sử dụng chúng mà còn hiểu sâu về phương pháp dạy học với yêu cầu sử dụng thiết bị dạy học: sử dụng thiết bị dạy học với mục đích gì, lúc nào, liều lượng bao nhiêu, đặc điểm tâm lí HS ra sao; HS cần tham gia hoạt động như thế nào khi dạy học có sử dụng thiết bị dạy học, sử dụng thiết bị dạy học như thế nào để khơi dậy lòng say mê học tập, phát huy tính tích cực, năng lực sáng tạo và bồi dưỡng nhân cách cho HS” (Trần Quốc Đắc, 2002). Trong cuốn: “Quản lý giáo dục” do Bùi Minh Hiền chủ biên, ở chương 10 đã đề cập đến các vấn đề lí luận về vai trò của thiết bị dạy học trong sự phát triển hệ thống giáo dục quốc dân, phân loại các nhóm thiết bị dạy học mà người quản lý cần bao quát và đưa ra một số nguyên tắc và giải pháp quản lý thiết bị dạy học ở nhà trường THPT trong giai đoạn hiện nay. Bài viết “Nâng cao hiệu quả sử dụng thiết bị dạy học trường Trung học cơ sở” của tác giả Trần Đức Vượng thuộc Viện chiến lược và Chương trình giáo dục. Qua khảo sát việc sử dụng thiết bị dạy học ở nhiều địa phương tác giả đã rút ra một số nguyên nhân dẫn đến sử dụng không hiệu quả thiết bị dạy học như: Trình độ sử dụng thiết bị dạy học của giáo viên còn thấp, đội ngũ quản lý giáo dục ở một vài địa phương chưa thật sự chú trọng chỉ đạo việc sử dụng có hiệu quả sử dụng thiết bị dạy học.

Đồng thời tác giả cũng đã đề ra một số các biện pháp nâng cao hiệu quả sử dụng thiết bị dạy học. Nội dung bài viết nhằm nghiên cứu cơ sở lý luận, làm căn cứ đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp quản lý thiết bị dạy học trong nhà trường góp phần nâng cao chất lượng giáo dục. Bên cạnh đó, bài viết “Thực trạng và một số biện pháp quản lý hoạt động dạy học của Tổ trưởng chuyên môn ở các trường THCS quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ” của tác giả Huỳnh Mộng Tuyền, Nguyễn Thị Việt Thương, Trường Đại học Đồng Tháp, được in trên Tạp chí Giáo dục, Số đặc biệt tháng 7/2019,tr 25-31. Qua khảo sát, đánh giá thực trạng cho thấy, Chất lượng HĐDH ở các trường trung 9 học cơ sở quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ tỉ lệ thuận với chất lượng tác động QL của TTCM.

Thực trạng QL mục tiêu, nội dung, phương pháp, hình thức, sử dụng phương tiện dạy học, kiểm tra, đánh giá chủ yếu đạt mức trung bình, đạt mức khá ở một số nội dung công việc QL, tuy nhiên vẫn còn nhiều hạn chế.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ