Quản lý thiết bị dạy học tại các trường THCS quận Hải Châu, Đà Nẵng (CTGDPT 2018)

Nghiên cứu thực trạng và đề xuất biện pháp quản lý thiết bị dạy học tại các trường THCS quận Hải Châu, Đà Nẵng theo chương trình GDPT 2018.

Chuyên ngành

Quản lý giáo dục

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2024

135
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Khái niệm và tầm quan trọng của quản lý thiết bị dạy học THCS

Quản lý thiết bị dạy học là một trong những nhiệm vụ quan trọng của các trường THCS Hải Châu trong việc đáp ứng yêu cầu Chương trình giáo dục phổ thông 2018. Thiết bị dạy học không chỉ là những công cụ hỗ trợ giảng dạy mà còn là yếu tố quyết định chất lượng giáo dục. Việc quản lý hiệu quả thiết bị dạy học giúp các trường tối ưu hóa nguồn lực, nâng cao hiệu suất sử dụng và kéo dài tuổi thọ của các thiết bị. Đặc biệt, trong bối cảnh đổi mới giáo dục, thiết bị dạy học THCS phải đáp ứng các yêu cầu về tính năng, chất lượng và khả năng ứng dụng công nghệ thông tin. Tầm quan trọng của quản lý TBDH được thể hiện qua việc nó trực tiếp ảnh hưởng đến kết quả học tập của học sinh và chất lượng dạy học của giáo viên.

1.1. Định nghĩa thiết bị dạy học và vai trò trong giáo dục

Thiết bị dạy học (TBDH) bao gồm tất cả các công cụ, máy móc, tài liệu được sử dụng trong quá trình dạy và học. Chúng đóng vai trò thiết yếu trong việc minh họa, làm cụ thể hóa kiến thức trừu tượng, giúp học sinh dễ dàng tiếp thu bài học. Vai trò của TBDH THCS là tạo điều kiện thuận lợi cho việc triển khai chương trình GDPT 2018, hỗ trợ các phương pháp dạy học hiện đại, phát triển kỹ năng thực hành và tư duy sáng tạo của học sinh.

1.2. Yêu cầu của chương trình giáo dục phổ thông 2018 đối với thiết bị

Chương trình GDPT 2018 đòi hỏi các trường THCS Hải Châu phải đầu tư vào thiết bị dạy học hiện đại, phù hợp với nội dung chương trình. Các yêu cầu bao gồm: trang bị đủ phòng học thực hành, thiết bị thí nghiệm cho các môn khoa học, công nghệ; trang bị máy tính, phần mềm giáo dục; nâng cấp cơ sở vật chất để hỗ trợ quản lý TBDH hiệu quả, đảm bảo an toàn lao động và vệ sinh.

II. Thực trạng quản lý thiết bị dạy học tại các trường THCS Hải Châu

Thực tế cho thấy, các trường THCS quận Hải Châu, Đà Nẵng đang đối mặt với nhiều thách thức trong quản lý thiết bị dạy học. Mặc dù có những cố gắng trong việc đầu tư cơ sở vật chất, nhưng vẫn còn tồn tại những hạn chế về nguồn lực tài chính, nhân lực và nhận thức. Nhiều trường chưa có kế hoạch đầu tư dài hạn phù hợp, công tác bảo dưỡng, sửa chữa TBDH chưa được thực hiện thường xuyên. Ngoài ra, mức độ sử dụng thiết bị dạy học trong giảng dạy thực tế vẫn còn thấp so với tiềm năng có sẵn. Các phòng chức năng, phòng thực hành tại một số trường chưa được tận dụng triệt để để đáp ứng yêu cầu chương trình GDPT 2018.

2.1. Tình hình đầu tư và mua sắm thiết bị dạy học

Hiện nay, việc đầu tư TBDH tại các trường THCS Hải Châu phụ thuộc chủ yếu vào ngân sách nhà nước và nguồn hỗ trợ từ địa phương. Tuy nhiên, ngân sách thường hạn chế và không đảm bảo để mua sắm TBDH đủ, kịp thời. Một số trường không có kế hoạch chi tiết về nhu cầu thiết bị THCS, dẫn đến việc mua sắm lộn xộn, không theo hệ thống. Cần phải lập kế hoạch đầu tư TBDH rõ ràng, dài hạn để quản lý hiệu quả thiết bị dạy học ở các trường.

2.2. Nhân lực quản lý và sử dụng thiết bị dạy học

Đội ngũ quản lý TBDH tại các trường THCS Hải Châu còn tồn tại những hạn chế về trình độ chuyên môn, kỹ năng quản lý. Nhiều giáo viên, nhân viên chưa được tập huấn nâng cao kỹ năng sử dụng và quản lý thiết bị dạy học hiệu quả. Thiếu cán bộ chuyên trách hoặc bán chuyên trách phụ trách công tác bảo quản, sửa chữa TBDH. Điều này ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng quản lý TBDH và khả năng đáp ứng yêu cầu GDPT 2018.

III. Biện pháp nâng cao hiệu quả quản lý thiết bị dạy học THCS

Để khắc phục những tồn tại và nâng cao hiệu quả quản lý thiết bị dạy học tại các trường THCS Hải Châu, cần triển khai một số biện pháp quản lý TBDH toàn diện. Trước tiên, phải nâng cao nhận thức của cán bộ quản lý, giáo viên, học sinh về tầm quan trọng của TBDH trong giáo dục THCS. Thứ hai, tăng cường đầu tư nâng cấp TBDH để đáp ứng đầy đủ yêu cầu của chương trình GDPT 2018. Thứ ba, đẩy mạnh tập huấn kỹ năng quản lý cho đội ngũ cán bộ phụ trách. Cuối cùng, ứng dụng công nghệ thông tin vào quản lý TBDH nhằm đơn giản hóa quy trình, nâng cao hiệu suất công tác.

3.1. Tổ chức nâng cao nhận thức về vai trò thiết bị dạy học

Nâng cao nhận thức về tầm quan trọng TBDH cần được thực hiện thường xuyên qua các buổi họp tập thể, seminar, workshop. Cần quảng bá, giới thiệu các mô hình tốt trong sử dụng TBDH THCS để học hỏi kinh nghiệm. Vai trò của hiệu trưởng là hết sức quan trọng trong việc lãnh đạo, chỉ đạo công tác này. Các trường nên tổ chức thăm quan, học tập tại những trường có quản lý TBDH tốt để cải tiến chính mình.

3.2. Tăng cường đầu tư và ứng dụng công nghệ thông tin

Cần tăng cường đầu tư TBDH đặc biệt là các thiết bị công nghệ thông tin để đáp ứng yêu cầu chương trình GDPT 2018. Các trường phải ứng dụng CNTT vào quản lý TBDH, sử dụng phần mềm quản lý để lập kế hoạch, theo dõi, đánh giá tình hình sử dụng, bảo quản TBDH. Cần lập kế hoạch đầu tư dài hạn rõ ràng, ưu tiên mua sắm những TBDH thiết yếu phục vụ giảng dạy trực tiếp.

IV. Chiến lược quản lý thiết bị dạy học bền vững cho các trường THCS

Quản lý TBDH bền vững tại các trường THCS Hải Châu đòi hỏi phải xây dựng một chiến lược toàn diện, dài hạn. Một là, hoàn thiện chế độ quản lý TBDH, bao gồm việc lập kế hoạch, đầu tư, sử dụng, bảo dưỡng, đánh giá. Hai là, nâng cấp đội ngũ quản lý TBDH thông qua tập huấn chuyên sâu, nâng cao kỹ năng. Ba là, thiết lập hệ thống theo dõi hiệu suất sử dụng TBDH, định kỳ đánh giá, rà soát tính hiệu quả. Bốn là, tăng cường liên kết, chia sẻ tài nguyên TBDH giữa các trường trong quận. Năm là, xây dựng văn hóa sử dụng TBDH hiệu quả, bền vững trong cộng đồng giáo dục.

4.1. Hoàn thiện quy chế quản lý và sử dụng thiết bị dạy học

Các trường THCS Hải Châu cần xây dựng, hoàn thiện quy chế quản lý TBDH chi tiết, rõ ràng, phù hợp với điều kiện thực tế của từng trường. Quy chế TBDH phải bao gồm: nguyên tắc, trách nhiệm của từng bộ phận; quy trình lập kế hoạch mua sắm TBDH; hướng dẫn sử dụng, bảo quản, sửa chữa TBDH; hệ thống theo dõi, kiểm tra tình hình sử dụng TBDH. Cần công bố rộng rãi quy chế này để đảm bảo thực hiện nhất quán trên toàn trường.

4.2. Xây dựng mô hình chia sẻ tài nguyên thiết bị giữa các trường

Để nâng cao hiệu quả sử dụng TBDH, các trường THCS quận Hải Châu nên xây dựng mô hình chia sẻ, kết nối tài nguyên TBDH. Có thể thành lập liên minh, hạt nhân các trường để chia sẻ TBDH đắt tiền, máy móc chuyên dụng. Quản lý TBDH chung giữa các trường giúp tiết kiệm chi phí, nâng cao tỷ lệ sử dụng thiết bị. Đồng thời, cần tạo điều kiện để giáo viên, học sinh có cơ hội sử dụng TBDH từ các trường khác khi cần thiết.

18/12/2025
Quản lý thiết bị dạy học tại các trường thcs quận hải châu thành phố đà nẵng đáp ứng yêu cầu chương trình giáo dục phổ thông 2018

Trích đoạn nội dung tài liệu

mở đầu cho một nền giáo dục mới - nền giáo dục cận đại. Ông viết: “…Không có gì trong trí não nếu như trước đó không có gì trong các cảm giác. Vì thế, tất nhiên bắt đầu dạy học không thể từ sự giải thích bằng lời về các sự vật mà phải từ sự quan sát trực tiếp chúng. Lời nói không bao giờ được đi trước sự vật”.

Comenski đã đề cao một phương pháp dạy học mới, khuyến khích người học tự tiếp thu tri thức bằng chính những giác quan của 6 mình. Bên cạnh đó, ông còn viết tác phẩm “Loan báo về một nhà trường mẫu giáo”, trong đó nêu rõ những phương pháp học tập ở nhà trường mẫu giáo, học mà chơi, chơi mà học, rồi đưa ra những chỉ dẫn về giáo dục thẩm mỹ, đưa âm nhạc, thơ ca, hội hoạ vào giáo dục trẻ em. Đây là những nội dung ở châu Âu hàng mấy thế kỉ sau người ta mới tiếp nhận và phổ biến. Ông còn biên soạn chương trình giáo dục trẻ mẫu giáo thành một bộ sưu tập tranh sắp xếp theo chủ điểm mang tên là “Thế giới bằng tranh”, xuất bản năm 1658.

Đây là quyển sách bằng tranh vẽ ra đời sớm nhất thế giới. Về sau có các nhà nghiên cứu GD như: J.Đ Usinski (1824-1870) đã phát triển quan điểm dạy học trực quan để đạt hiệu quả cao. Nhà giáo dục học người Thụy Sĩ J. Pestalossi (1746-1827) đã phát triển nguyên tắc dạy học trực quan của Komenski với tư tưởng chỉ rõ mối quan hệ hữu cơ giữa tri giác cảm tính với sự phát triển tư duy.

Pestalogie đã đưa ra yêu cầu tổ chức quan sát sự vật, hiện tượng trong quá trình dạy học xuất phát từ tâm lý của trẻ em. Nhà hoạt động giáo dục, văn hóa nổi tiếng người Nga Bêlenxky (1811-1848) đi tìm sự gắn kết của việc dạy học trực quan với các đặc điểm sinh lý thần kinh của con người. Dựa trên các đặc điểm duy vật, ông xem “các giác quan và bộ não của con người là hai lực lượng cần thiết cho nhau”. Theo ông, nhà sư phạm trong quá trình dạy học cần phải dựa trên những biểu tượng của trẻ đã thu nhận được trong quá trình quan sát thế giới hiện thực.

Usinski (1824-1870) cho rằng đối với HS tiểu học, phương pháp dạy học trực quan là phương pháp giảng dạy đặc biệt và quan trọng nhất. Ông chủ trương sử dụng tranh ảnh trong hoạt động giảng dạy. Tri thức trực quan khoa học là kết quả của quá trình nhận thức và phản ánh trực tiếp thế giới khách quan vào bộ não con người. Nội hàm của nó phản ánh các mặt, các bộ phận bên ngoài sự vật, hiện tượng, thông qua các hình thức cảm giác, tri giác, biểu tượng… Tri thức trực quan khoa học không đồng nhất với trực quan “thuần” cảm tính.

Cảm giác, tri giác, biểu tượng với tư cách thành tố của trực quan khoa học đã vượt qua cái giới hạn “cảm tính thuần túy" để thể hiện một trình độ khoa học của nhận thức. Bởi vậy, như nhận định của Goócki, “không có cơ sở nào để phủ định sự phản ánh cảm tính, coi thường vai trò của nó như là nấc thang đặc thù của nhận thức, mà nó có ý nghĩa cơ bản, trong sự hình thành tư duy khoa học”. Hội nghị Quốc tế về giáo dục lần thứ 39 họp tại Giơ-ne-vơ năm 1984 cũng như nhiều hội nghị về TBDH ở các nước xã hội chủ nghĩa đã khẳng định ngành giáo dục cần phải được đổi mới thường xuyên về mục đích, cấu trúc, nội dung, TBDH và phương pháp để tạo cho tất cả các SV có những cơ hội học tập. Tùy theo hoàn cảnh kinh tế, kỹ thuật và xã hội tất cả các nước trên thế giới đều có khuynh hướng hoàn thiện cơ sở vật chất, trong đó có TBDH nhằm phù hợp với sự hiện đại hóa nội dung, 7 phương pháp và hình thức tổ chức đào tạo.

Các nước có nền kinh tế phát triển đều quan tâm đến việc nghiên cứu, thiết kế, sản xuất các TBDH hiện đại, đạt chất lượng cao, cần thiết cho nhu cầu giáo dục mỗi nước như: Tiệp Khắc, Hungari, Pháp, Mỹ, Đức,… Trong cuốn sách “Phương tiện kỹ thuật dạy học và ứng dụng” (1985) của nhà xuất bản Đại học Minxcơ, các tác giả đã đề cập đến nhiều vị trí, vai trò, chức năng và các loại phương tiện kỹ thuật dạy học. Tài liệu cũng nêu những ứng dụng cụ thể, chi tiết của phương tiện kỹ thuật dạy học trong quá trình dạy học. Tài liệu là cơ sở nghiên cứu cho lĩnh vực TBDH và quản lý, sử dụng thiết bị dạy học ở nước ta. Các nghiên cứu trong nước Ở Việt Nam, Đảng, Nhà nước, Bộ GD&ĐT đã ban hành nhiều văn bản về quản lý CSVC, TBDH trong các cơ sở GD&ĐT nói chung, trong đó có trường THCS nói riêng.

Đồng thời kế thừa và cụ thể hoá các học thuyết về giáo dục trên thế giới, đã có rất nhiều công trình nghiên cứu biện pháp quản lý và sử dụng thiết bị dạy học phục vụ quá trình dạy học ở các nhà trường. Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 4/11/2013 Hội nghị Trung ương 8 khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo đã đánh giá: “Xây dựng được hệ thống giáo dục và đào tạo tương đối hoàn chỉnh từ mầm non đến đại học. Cơ sở vật chất, thiết bị giáo dục, đào tạo được cải thiện rõ rệt và từng bước hiện đại hóa” [1]. Hoạt động quản lý TBDH là một trong những hoạt động giáo dục chung trong nhà trường và diễn ra liên tục trong suốt năm học.

Vì vậy, quản lý TBDH là vấn đề rất được các trường chú trọng để công tác quản lý TBDH trong điều kiện đổi mới chương trình GDPT 2018 đạt được hiệu quả. Trong bài viết “Các biện pháp nâng cao hiệu quả sử dụng thiết bị dạy học phục vụ triển khai chương trình, sách giáo khoa tiểu học và trung học cơ sở”, tác giả Trần Đức Vượng đã đánh giá những ưu điểm và chỉ ra một những hạn chế cần khắc phục để sử dụng tốt thiết bị dạy học như: “…Trình độ sử dụng thiết bị dạy học của giáo viên còn thấp, đội ngũ quản lý giáo dục ở một vài địa phương chưa thật sự chú trọng chỉ đạo việc sử dụng có hiệu quả thiết bị dạy học” [39]. Tác giả Tô Xuân Giáp trong cuốn “Phương tiện dạy học” đã nêu lên tầm quan trọng của phương tiện, thiết bị dạy học. Ngoài ra, tác giả đã chỉ rõ cơ sở để phân tích, phân loại phương tiện dạy học; cách thức lựa chọn, sử dụng, chế tạo thiết bị dạy học nhằm làm tăng hiệu quả sử dụng trong quá trình dạy học [14].

Năm 2015, Chủ nhiệm đề tài Ngô Quang Sơn đã bảo vệ thành công đề tài cấp Bộ về: “Một số biện pháp quản lý nhằm nâng cáo hiệu quả sử dụng thiết bị giáo dục, 8 ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông tại các trung tâm Giáo dục thường xuyên và trung tâm học tập cộng đồng” [34]. Các công trình nghiên cứu đã đề cập đến công tác quản lý, khai thác, sử dụng TBDH như: luận văn Thạc sĩ của tác giả Nguyễn Thị Liễu (2009) với đề tài “Biện pháp nâng cao hiệu quả sử dụng phương tiện dạy học ở Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Hưng Yên”. Trên cơ sở nghiên cứu thực trạng sử dụng phương tiện dạy học ở Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Hưng Yên, tác giả đã phân tích những nguyên nhân của thực trạng và đề xuất các biện pháp nâng cao hiệu quả sử dụng phương tiện dạy học góp phần nâng cao chất lượng dạy học của nhà trường. Luận văn Thạc sĩ của tác giả Trần Thế Vinh (2011) với đề tài “Quản lý TBDH ở các trường Trung học phổ thông của tỉnh Thái Bình trong giai đoạn hiện nay” đã nghiên cứu thực trạng trang bị, bảo quản và sử dụng TBDH trong các trường Trung học phổ thông của tỉnh Thái Bình.

Đồng thời, tác giả phân tích những điểm mạnh, những hạn chế, những nguyên nhân dẫn tới thực trạng và đề xuất những biện pháp quản lý, trang bị, bảo quản và sử dụng hiệu quả TBDH góp phần nâng cao chất lượng dạy học ở các trường Trung học phổ thông của tỉnh Thái Bình. Luận văn Thạc sĩ của tác giả Võ Đăng Chín (2013) với đề tài “Biện pháp quản lý phương tiện dạy học ở các trường Trung học cơ sở huyện Nam Trà My tỉnh Quảng Nam” đã đánh giá thực trạng công tác xây dựng, mua sắm trang bị và quản lý phương tiện dạy học ở các trường Trung học cơ sở huyện Nam Trà My, tỉnh Quảng Nam. Trên cơ sở đó, tác giả đã đề xuất các biện pháp nhằm nâng cao công tác quản lý phương tiện dạy học ở các trường Trung học cơ sở huyện Nam Trà My, tỉnh Quảng Nam. Tác giả Lê Thanh Giang với đề tài: “Thực trạng và giải pháp quản lý việc sử dụng thiết bị dạy học của giáo viên trường Trung học phổ thông tỉnh Cà Mau”, đã khảo sát và phân tích thực trạng quản lý và sử dụng TBDH ở một số trường THPT tỉnh Cà Mau, từ đó đề xuất một số giải pháp quản lý việc sử dụng TBDH của giáo viên nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng TBDH ở các trường THPT tỉnh Cà Mau.

Nhìn chung, từ trước đến nay đã có nhiều công trình nghiên cứu ở trong nước và nước ngoài về quản lý thiết bị dạy học. Tuy nhiên, chưa có công trình nào đi sâu nghiên cứu quản lý TBDH tại các trường THCS quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng đáp ứng yêu cầu chương trình GDPT 2018. Các khái niệm chính của đề tài 1. Quản lý, quản lý giáo dục, quản lý nhà trường 1.

Quản lý Từ trước đến nay, nhiều học giả, nhiều nhà quản lý đã đưa ra nhiều định nghĩa khác nhau về khái niệm quản lý, tùy thuộc vào cách tiếp cận quản lý với những góc độ 9 khác nhau. Những khái niệm về quản lý có thể được tập trung ở một số khía cạnh như sau: - Theo từ điển Tiếng Việt: “Quản lý là tổ chức, điều khiển hoạt động của một đơn vị, một cơ quan”. - Quản lý là sự tác động có mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý đến tập thể những người lao động nhằm thực hiện được những mục tiêu dự kiến [25]. - Quản lý là quá trình tác động có hướng đích của chủ thể quản lý dựa trên nhận thức những quy luật khách quan của hệ thống quản lý đến các quá trình đang diễn ra nhằm đạt mục đích đặt ra một cách tối ưu [3].

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ