Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý thiết bị dạy học ở trường tiểu học - Chương 2: Thực trạng quản lý thiết bị dạy học ở các trường tiểu học trên địa bàn thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định - Chương 3: Biện pháp quản lý thiết bị dạy học ở các trường tiểu học 6 trên địa bàn thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định Phần thứ ba: Kết luận và khuyến nghị Ngoài ra còn có các phần: - Danh mục tài liệu tham khảo - Phụ lục 7 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ THIẾT BỊ DẠY HỌC Ở TRƢỜNG TIỂU HỌC 1. Tổng quan vấn đề nghiên cứu 1. Nghiên cứu ở nước ngoài Dạy học trực quan là một trong những nguyên tắc lý luận dạy học. Cùng với sự phát triển của các tư tưởng trong lĩnh vực giáo dục học, tâm lý học, lý thuyết về dạy học trực quan đã có bước tiến mới.
Tính trực quan trong dạy học đóng vai trò minh họa trong bài giảng của GV, giúp HS không chỉ nhận biết được hiện tượng mà còn nắm rõ bản chất của hiện tượng. Vì vậy, người Ấn Độ đã từng tổng kết: “Tôi nghe - tôi quên; tôi nhìn - tôi nhớ; tôi làm - tôi hiểu” [20]. Theo Lê nin, quy luật nhận thức của con người là “Từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng và từ tư duy trừu tượng đến thực tiễn” [dẫn theo 20]. Thiết bị dạy học góp phần nâng cao tính trực quan trong quá trình dạy học.
Sử dụng hiệu quả TBDH giúp học sinh nhận ra những sự việc, hiện tượng, khái niệm một cách cụ thể hơn, dễ dàng hơn. Vì vậy, TBDH có một vai trò rất quan trọng góp phần nâng cao chất lượng giáo dục. Hiện nay đổi mới PPDH là vấn đề đang được ngành giáo dục và xã hội rất quan tâm. Trong đổi mới PPDH thì TBDH ở các trường tiểu học là yếu tố đặc biệt quan trọng.
Đã có nhiều công trình nghiên cứu về TBDH của nhà giáo dục Komenski (Tiệp Khắc); nhà giáo dục học lỗi lạc người Thụy Sĩ J. Cuộc họp lần thứ 39 tại Hội nghị Quốc tế về giáo dục ở Giơ-ne-vơ (Thụy Sỹ) đã khẳng định: “Ngành giáo dục cần phải được đổi mới thường xuyên về mục đích, cấu trúc, nội dung, TBDH và phương pháp để tạo cho tất cả các HS có những cơ hội học tập.” 8 Usinxki (1824-1870), nhà sư phạm người Nga và các học trò của ông tiếp tục phát triển nguyên tắc dạy học trực quan dựa trên các thành tựu mới về tâm lý học và sinh lý học. Usinxki khẳng định trực quan là nguồn gốc, là cái ban đầu của cảm giác, tri thức cung cấp tài liệu cho hoạt động trí tuệ. Ông viết: “Không có cái gì có thể giúp anh san bằng bức tường ngăn cách giữa giáo viên và học sinh như là việc anh đưa cho học sinh xem một bức tranh và giải thích nó, đứa trẻ suy nghĩ bằng hình dạng, bằng màu sắc, âm thanh và bằng cảm giác nói chung” [20].
Theo các học giả người Colombia: Nhấn mạnh về thiết bị dạy học ở tiểu học “Những kỹ năng về sáng tạo và giải quyết vấn đề, cùng với giá trị của sự chia sẻ và cộng đồng, cần phải được nuôi dưỡng từ sớm ". Ông Suhas Parandekar, chuyên gia kinh tế, ban Phát triển Con người, Ngân hàng Thế giới, chia sẻ: "Dự án sẽ giúp các giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục Việt Nam học tập và áp dụng phương pháp giảng dạy và học tập mới. Việc sử dụng thiết bị dạy học sẽ giúp trẻ thu nhận được những kỹ năng và giá trị mà các em cần để thành công trong một thế giới phức tạp và năng động hiện nay" [26]. Qua nghiên cứu, các nhà giáo dục học đã chứng minh được rằng việc khuyến khích, động viên HS nhận thức thế giới xung quanh thông qua chính những giác quan của mình về hình ảnh trực quan sống động phù hợp với sự phát triển tâm sinh lý của trẻ.
Như vậy, điểm qua sự phát triển của lý thuyết về tăng cường sử dụng TBDH trong lịch sử giáo dục thế giới, có thể thấy rằng vai trò của TBDH đã được phát hiện và phát triển từ rất sớm. Nghiên cứu ở Việt Nam Đối với công tác dạy học, TBDH là công cụ lao động sư phạm của GV và HS, là yếu tố không thể thiếu được trong quá trình dạy học. Tục ngữ Việt Nam ta có câu: “Trăm nghe không bằng một thấy, trăm thấy không bằng một làm”. 9 Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng căn dặn: - “ Vì lợi ích mười năm thì phải trồng cây, vì lợi ích trăm năm thì phải trồng người”; - “ Học phải đi đôi với hành”.
Qua những vấn đề nêu trên cho thấy, đối với công tác dạy học, TBDH là công cụ lao động sư phạm của GV và HS, là một trong những yếu tố không thể thiếu được trong quá trình dạy học. Chính vì vậy, công tác quản lý cơ sở vật chất trường học nói chung và công tác quản lý TBDH nói riêng đã được nhiều tổ chức và cá nhân nghiên cứu. Các nhà khoa học đã phát triển và truyền bá lý luận về nguyên tắc dạy học trực quan, nghiên cứu về TBDH và quản lý việc sử dụng TBDH. Các tác giả cho ta thấy được những yêu cầu sư phạm khi lựa chọn và sử dụng TBDH, vai trò của TBDH trong hoạt động dạy học ở các trường tiểu học.
Đó là các nhà khoa học như: Ngô Quang Sơn, Vũ Trọng Rỹ, Trần Khánh Đức, Tô Xuân Giáp, Phạm Minh Hạc,. Việc đầu tư cơ sở vật chất trường học nói chung và thiết bị dạy học nói riêng đã được Đảng và Nhà nước quan rất tâm. Các tác giả: Đặng Quốc Bảo, Nguyễn Đức Chính, Nguyễn Thị Mỹ Lộc, Nguyễn Quốc Chí,. đã xây dựng hệ thống lý luận cốt lõi cho việc vận dụng khoa học quản lý vào nhà trường, trong đó bàn nhiều về quản lý TBDH trong hoạt động dạy học và giáo dục.
Tác giả Tô Xuân Giáp với công trình: “Phương tiện dạy học - Hướng dẫn chế tạo và sử dụng”, tác giả đã đưa ra cơ sở phân loại và phân loại phương tiện dạy học, cách thức lựa chọn, thiết kế, chế tạo, sử dụng phương tiện dạy học và các điều kiện để đảm bảo sử dụng có hiệu quả phương tiện dạy học. Theo tác giả, “Phương tiện dạy học được sử dụng đúng, có tác dụng làm tăng hiệu quả sư phạm của nội dung và phương pháp dạy học lên rất nhiều” [8]. 10 Trong cuốn: “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn của việc xây dựng, sử dụng cơ sở vật chất và thiết bị dạy - học ở trường phổ thông Việt Nam”, của Trần Quốc Đắc chủ biên, tác giả đã đưa ra các quan điểm làm cơ sở cho việc sử dụng TBDH, xác định vị trí, vai trò của TBDH ở trường phổ thông. Tác giả nhận định: “Thiết bị dạy học phải được sử dụng, hiệu quả sử dụng là mục tiêu cơ bản nhất và là mục tiêu duy nhất của toàn bộ công tác thiết bị trường học.
Sử dụng có hiệu quả TBDH là một nhiệm vụ nặng nề, khó khăn của người thầy giáo. Điều này đòi hỏi người thầy giáo phải có trình độ chuyên môn nghiệp vụ cao với yêu cầu sử dụng TBDH. Người GV không những cần hiểu biết về TBDH, về kỹ thuật sử dụng chúng mà còn hiểu sâu về phương pháp dạy học với yêu cầu sử dụng TBDH: sử dụng TBDH với mục đích gì, lúc nào, liều lượng bao nhiêu, đặc điểm tâm lý HS ra sao; HS cần tham gia hoạt động như thế nào khi dạy học có sử dụng TBDH, sử dụng TBDH như thế nào để khơi dậy lòng say mê học tập, phát huy tính tích cực, năng lực sáng tạo và bồi dưỡng nhân cách cho HS” [5]. Trong cuốn: “Quản lý giáo dục” của Bùi Minh Hiền, tác giả đã đề cập đến vai trò quan trọng của TBDH trong sự phát triển hệ thống giáo dục quốc dân, phân loại các nhóm TBDH mà người quản lý cần bao quát và đưa ra một số nguyên tắc cùng giải pháp quản lý TBDH ở trường học trong giai đoạn hiện nay [10].
Nhìn chung, các đề tài nghiên cứu của các tác giả nêu trên và các giáo trình về lý luận dạy học đã làm sáng tỏ lý luận về TBDH. Tuy vậy, trong các hướng nghiên cứu trên, lĩnh vực nghiên cứu quản lý TBDH trong quá trình dạy học nói chung và trong các trường tiểu học trên địa bàn thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định nói riêng chưa được nghiên cứu đầy đủ. Nhận thức sâu sắc về tầm quan trọng vô cùng to lớn của TBDH đem lại cho hoạt động dạy học và giáo dục ở trường tiểu học, vì vậy chúng tôi đi sâu tìm hiểu, nghiên cứu vấn đề này. Một số khái niệm liên quan đến đề tài 1.
Quản lý Quản lý là một trong những hiện tượng xuất hiện rất sớm, là một phạm trù tồn tại khách quan được ra đời từ bản thân nhu cầu của mọi chế độ xã hội, mọi quốc gia, mọi thời đại. Hoạt động QL có bản chất là hoạt động tự giác, như Ph. Ăngghen đã chỉ ra: “Trong lịch sử xã hội, nhân tố hoạt động là con người có ý thức, hành động có suy nghĩ hay dưới ảnh hưởng của nhiệt tình và theo đuổi những mục đích nhất định. Ở đây không có gì được thực hiện mà lại không có ý định tự giác, không có mục đích mong muốn” [dẫn theo 23].Mác coi QL là một đặc điểm vốn có, bất biến về mặt lịch sử của đời sống xã hội.
Ông viết: “Bất cứ lao động xã hội trực tiếp hay lao động chung nào mà tiến hành trên một quy mô khá lớn đều yêu cầu phải có một sự chỉ đạo để điều hoà những hoạt động cá nhân. Sự chỉ đạo đó phải là những chức năng chung, tức là những chức năng phát sinh từ sự khác nhau giữa sự vận động chung của cơ chế sản xuất đó. Một nhạc sĩ độc tấu thì tự điều khiển lấy mình, nhưng một dàn nhạc thì cần phải có một nhạc trưởng” [dẫn theo 16]. Thuật ngữ QL đã trở nên phổ biến nhưng chưa có một định nghĩa thống nhất.
Các nhà khoa học đã đưa ra nhiều định nghĩa QL từ các góc độ khác nhau: Theo tác giả Đặng Quốc Bảo: “Quản lý một tổ chức là nhằm đạt đến sự ổn định và phát triển bền vững các quá trình xã hội, quá trình tồn tại của tổ chức đó” [1].