CHƯƠNG I NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ QUẢN LÝ TÀI CHÍNH TẠI CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG LẬP VIỆT NAM I. KHÁI QUÁT VỀ CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG LẬP VIỆT NAM 1. Khái quát về sự phát triển của các trường Đại học công lập Việt Nam Giáo dục đại học Việt Nam có lịch sử hình thành và phát triển lâu đời. Có thể chia làm năm giai đoạn chính sau: ♦♦♦ Giáo dục đại học Việt Nam dưới chế độ phong kiến (1075 - 1919) Nền giáo dục phong kiến ở nước ta chỉ thực sự hình thành từ Mếu Ly (1009- 1225), nhà nước bắt đầu chăm lo tổ chức nền giáo dục.
Các trường công được tổ chức ở Kinh đô, tỉnh, phủ, huyện. Trường tư có thể mở ở nhà dân, xóm, làng, thôn quê. ♦♦♦Giáo dục đại học Việt Nam dưới thời Pháp thuộc (1919 -1945) Thay thế nền giáo dục phong kiến, một hệ thống giáo dục tiến bộ hơn, được xây dựng phỏng theo hệ thống giáo dục ở Pháp, tuy yếu ớt những đã được hình thành ở Việt Nam thời Pháp thuộc. Trong vòng 27 năm đã chuyển dần các trường trung học chuyên nghiệp ở Hà Nội thành cao đẳng hoặc đại học và tập hợp lại thành Viện Đại học Đông Dương với gần 600 sinh viên.
♦♦♦ Giáo dục đại học Việt Nam sau Cách mạng Tháng Tám 1945 (1945 - 1954) Kháng chiến toàn quốc bùng nổ. Các trường đại học và cao đẳng ở Hà Nội đều lên Việt Bắc. Có sự sắp xếp lại để hình thành 4 trường đại học: 2 trường Sư phạm cao cấp, trường Khoa học cơ bản, trường ĐH Y. Năm 1950, tiến hành cuộc cải cách giáo dục lần 1.
Ở vùng bị tạm chiếm, các trường ĐH hợp lại thành Viện Đại học Hà Nội, do người Pháp quản lý. Viện có hai trung tâm, một tại Hà Nội và một tại Sài Gòn. ♦♦♦ Giáo dục đại học Việt Nam trong thời kỳ xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và kháng chiến chống mỹ ở miền Nam (1954 -1975) Tháng 10/1954, Thủ đô Hà Nội được giải phóng, giáo dục đại học (GDĐH) chuyển sang thời kỳ mới. Năm 1958 cuộc cải cách giáo dục lần 2 được tiến hành ở miền Bắc nhằm xây dựng nhà trường xã hội chủ nghĩa.
Mạng lưới các trường đại học được mở rộng hơn. Tính đến năm học 1974-1975, ở miền Bắc đã có 41 cơ sở đào tạo đại học với 100 ngành đào tạo, 55.700 sinh viên và 8. Hệ thống GDĐH được tổ chức theo mô hình của GDĐH Liên Xô (cũ). Tại miền Nam, hệ thống GDĐH được tổ chức thành Viện đại học theo mô hình đại học của Pháp, Mỹ.
Có 4 viện đại học công với gần 130. ♦♦♦ Giáo dục đại học Việt Nam trong thời kỳ xây dựng chủ nghĩa xã hội trên cả nước (sau nam 1975). Thời kỳ này có thể chia làm hai giai đoạn: trước đổi mới (1975 - 1986) và đổi mới (1986 đến nay) > Giai đoạn trước đổi mới (1975 -1986) Đây là giai đoạn tiếp quản, sắp xếp lại các trường đại học phía Nam theo mô hình các trường đại học của miền Bắc, hình thành một mạng lưới đào tạo đại học thống nhất trong cả nước. Trong giai đoạn này, các trường đại học bắt đầu đào tạo sau đại học.
Những bất hợp lý trong đào tạo đại học bắt đầu bộc lộ, đó là sự chia cắt, manh mún và kém hiệu quả. Một số biện pháp tổ chức sắp xếp lại đã hình thành nhưng mới dừng lại ở mức độ chủ trương. Cách quản lý theo kiểu kế hoạch hóa tập trung, bao cấp không còn phù hợp với thời bình và trở thành một lực cản to lớn làm triệt tiêu động lực phát triển. > Giai đoạn đổi mới (1986 đến nay) Sau Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam năm 1986, những thắng lợi trong việc chuyển sang nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa đã dẫn đến sự tăng trưởng mạnh trong qui mô đào tạo.
Từ năm 1995 đến năm 2004 số lượng sinh viên trong các trường đại học, cao đẳng tăng lên gấp 4 lần so với giai đoạn năm 1975-1986. Quá trình sắp xếp lại mạng lưới các cơ sở đào tạo đã được thực hiện nhằm khắc phục sự manh mún và nâng cao hiệu quả đào tạo. Bên cạnh các cơ sở đào tạo công lập, mạng lưới các trường ngoài công lập cũng đã hình thành và phát triển. Năm 1998 Luật giáo dục ra đời đã tạo lập một khung pháp lý cho việc phát triển mạng lưới cơ sở đào tạo của Việt Nam.
Mạng lưới đại học ở Việt Nam hiện nay có thể được phân loại: theo vùng, lãnh thổ (gồm viện đại học, đại học quốc gia, đại học khu vực, đại học cộng đồng, đại học Bộ, ngành); theo lĩnh vực đào tạo (đại học đa ngành, đơn ngành); theo sở hữu (đại học công lập, dân lập, bán công, phân hiệu đại học quốc tế hay hỗn hợp); theo loại hình đào tạo (đại học truyền thông, đại học mở). Theo số liệu thống kê giáo dục của Vụ Kế hoạch Tài chính (năm 2004), tính đến nay thì cả nước có khoảng 222 trường (không kể trường thuộc khối An ninh, quốc phòng), với 1. Nếu phân chia theo loại hình thì có 63 trường đại học công lập, với 993. Kinh phí hoạt động của các cơ sở đào tạo dựa vào các nguồn ngân sách cấp, nguồn thu học phí, lệ phí, tài trợ, các nguồn thu từ các dịch vụ liên quan đến đào tạo, nghiên cứu khoa học, chuyển giao công nghệ.
Riêng các cơ sở đào tạo ngoài công lập thì không có phần kinh phí ngân sách cấp. Tuy nhiên mục đích hoạt động của hai hệ thống giáo dục trên đều phục vụ cho cộng đồng xã hội. Khái niệm về đơn vị dự toán Đơn vị sự nghiệp xét về phương diện tài chính còn gọi là đơn vị dự toán - tên gọi chung cho các cơ quan, đơn vị. hoạt động bằng nguồn kinh phí do NSNN cấp và các nguồn kinh phí khác thu từ cung cấp các dịch vụ cho xã hội.
Các đơn vị dự toán chia làm 3 cấp: Đơn vị dự toán cấp 1: quan hệ trực tiếp với cơ quan tài chính ở cấp Bộ hoặc Sở. Đơn vị dự toán cấp 2: quan hệ tài chính với đơn vị dự toán cấp 1. Đơn vị dự toán cấp 3: quan hệ tài chính với đơn vị dự toán cấp 2 hoặc cấp 1 trực thuộc. Các trường đại học thường là đơn vị dự toán cấp 2 và đơn vị dự toán cấp trên của trường là đơn vị dự toán cấp 1 (là Bộ Giáo dục và Đào tạo hoặc ĐH Quốc gia).
Và đơn vị cấp dưới của trường làm nhiệm vụ dự toán cấp 3 (các Trung tâm, Viện, Trường trung học. ) Công tác quản lý tại các đơn vị dự toán phân theo các cấp quản lý, gồm: đơn vị dự toán cấp chủ quản và đơn vị dự toán cấp cơ sở. Đơn vị dự toán cấp chủ quản: là đơn vị dự toán chủ quản và phân bổ kinh phí hoạt động cho các đơn vị cấp dưới, giám đốc việc cấp dưới chấp hành dự toán cấp 1 và các đơn vị dự toán cấp 2 thực hiện chức năng của đơn vị cấp trung gian (các trường đại học). Đơn vị dự toán cấp cơ sở: là đơn vị trực tiếp thu, chi NSNN.
Bao gồm đơn vị dự toán cấp 3 và các đơn vị dự toán cấp 2 không có chức năng của đơn vị cấp trung gian. Đặc điểm hoạt động của các trường ĐH công lập Việt Nam 3.1 Các trường ĐH công lập là các đơn vị sự nghiệp có thu Đơn vị sự nghiệp có thu là đơn vị sự nghiệp hoạt động do cơ quan có thẩm quyền của Nhà nước quyết định thành lập. Có hai loại đơn vị sự nghiệp có thu: đơn vị sự nghiệp có thu tự bảo đảm toàn bộ chi phí hoạt động thường xuyên (gọi tắt là đơn vị sự nghiệp tự bảo đảm chi phí) và đơn vị sự nghiệp có thu tự bảo đảm một phần chi phí hoạt động thường xuyên (gọi tắt là đơn vị sự nghiệp tự bảo đảm một phần chi phí). Đơn vị sự nghiệp tự bảo đảm một phần chi phí là đơn vị có nguồn thu chưa trang trải toàn bộ chi phí hoạt động thường xuyên.
Trường đại học công lập do Nhà nước đầu tư xây dựng, cung cấp trang thiết bị dạy học, bố trí cán bộ, công chức quản lý và đội ngũ nhà giáo giảng dạy. và thống nhất quản lý hệ thống giáo dục quốc dân về mục tiêu, chương trình, nội dung, kế hoạch giáo dục, tiêu chuẩn nhà giáo, qui chế thi cử và hệ thống văn bằng. Nhà nước quản lý nguồn đầu tư cho giáo dục. Kinh phí cho các hoạt động thường xuyên của trường đại học công lập chủ yếu do ngân sách Nhà nước cấp, bên cạnh đó, trường có thêm kinh phí từ các nguồn thu khác được giữ lại cho trường theo qui định của Nhà nước.
Các trường đại học công lập là các đơn vị sự nghiệp có thu tự bảo đảm một phần chi phí hoạt động thường xuyên.2 Hoạt động của các trường ĐH công lập nhằm đào tạo con người Đặc điểm hoạt động của các trường đại học công lập không nhằm vào lợi nhuận mà hướng về phục vụ lợi ích cộng đồng và xã hội. Hoạt động giáo dục - đào tạo nhằm mục đích đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện, có đạo đức, tri thức, sức khỏe, thẩm mỹ và nghề nghiệp, trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực, đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Nhà trường của các cơ quan hành chính Nhà nước, của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội có nhiệm vụ đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức cho đất nước. Nhà trường của lực lượng vũ trang nhân dân có nhiệm vụ đào tạo, bồi dưỡng sĩ quan, hạ sĩ quan, quân dân chuyên nghiệp và công nhân quốc phòng; bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo, cán bộ quản lý Nhà nước về nhiệm vụ và kiến thức quốc phòng, an ninh.3 Giáo dục - đào tạo theo nguyên tắc lý luận gắn với thực tiễn Hoạt động giáo dục - đào tạo được thực hiện theo nguyên tắc học đi đối với hành, giáo dục kết hợp với lao động sản xuất, lý luận gắn liền với thực tiễn, giáo dục Nhà trường kết hợp với giáo dục gia đình và giáo dục xã hội.
Cơ chế hoạt động Các trường đại học công lập trong hệ thống giáo dục quốc dân được thành lập theo quy hoạch, kế hoạch của Nhà nước nhằm phát triển sự nghiệp giáo dục. Chịu sự quản lý Nhà nước của cơ quan quản lý giáo dục theo sự phân công, phân cấp của Chính phủ.