mở đầu và cũng là khâu kết thúc cho quá trình sản xuất. Giao thông nông thôn như là một chiếc cầu nối chuyển nguyên vật liệu đến nơi sản xuất và cũng là chiếc cầu nối để chuyển các sản phẩm đã sơ chế từ nơi sản xuất đến nơi tiêu dùng. Nếu các con đường vận chuyển này tốt thì quá trình chu chuyển hàng hoá diễn ra nhanh chóng khi đó thúc đẩy quá trình sản xuất từ đó thúc đẩy phát triển kinh tế ngành, vùng (Nguyễn Ngọc Đông, 2014). Quản lý sử dụng đường GTNT tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển nông thôn và thúc đẩy CNH-HĐH ở nông thôn một cách nhanh chóng.
Ở các vùng nông thôn sản phẩm họ làm ra chủ yếu là các sản phẩm thô phục vụ cho ngành công nghiệp chế biến như gỗ, hoa quả, ngũ cốc, tôm, cua, cá,. Một số mặt hàng cần tươi sống khi đến nơi sản xuất và tiêu dùng. Nếu như hệ thống giao thông không tốt, nó sẽ ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm như vậy sẽ kìm hãm quá trình sản xuất. Còn nếu hệ thống giao thông tốt nó sẽ thúc đẩy sự lưu chuyển này từ đó thúc đẩy sản xuất của người dân và của nhà máy.
Vì vậy mà đời sống của các vùng nông thôn được cải thiện (Nguyễn Ngọc Đông, 2014). Quản lý sử dụng đường GTNT là cơ sở tạo tiền đề cho quá trình phát triển kinh tế và thực hiện nhiệm vụ xã hội. Quá trình quản lý sẽ đảm bảo tính liên tục của quá trình sản xuất trong phạm vi lưu thông, là khâu kết thúc cho quá trình sản xuất. GTNT như là một chiếc cầu nối để chuyển nguyên vật liệu đến nơi sản xuất và cũng là chiếc cầu nối để chuyển các sản phẩm đã sơ chế từ nơi sản xuất đến nơi tiêu dùng.
Nếu các con đường vận chuyển này tốt thì quá trình chu chuyển 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com hàng hóa diễn ra nhanh chóng khi đó thúc đẩy quá trình sản xuất từ đó thúc đẩy phát triển kinh tế ngành, vùng. Hệ thống đường giao thông nông thôn hoàn chỉnh nó sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển nông thôn và thúc đẩy CNH – HĐH ở nông thôn một cách nhanh chóng (Nguyễn Ngọc Đông, 2014). Vai trò của quản lý sử dụng đường GTNT đối với phát triển xã hội Quản lý sử dụng đường GTNT đảm bảo cho các hoạt động đi lại của người dân vùng đó được thuận lợi hơn. Từ đó sẽ thúc đẩy việc giao lưu văn hóa giữa các vùng, các khu vực, giữa thành phố với nông thôn, giữa đồng bằng với miền núi.
Quản lý sử dụng đường GTNT còn tạo công ăn việc làm cho người dân nông thôn lúc nông nhàn. Vì các công trình giao thông này được xây dựng ngay tại địa phương và phải cần đến một lượng lao động lớn. Do đó có thể huy động một số lao động của địa phương, giải quyết thất nghiệp cho người dân dẫn theo (Đỗ Hoàng Tùng, 2012). Ngoài ra, giao thông nông thôn phát triển còn để phục vụ cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc trên bước đường hội nhập kinh tế trên thế giới và trong khu vực (Nguyễn Phương Anh, 2010).
Đặc điểm của quản lý sử dụng đường giao thông nông thôn Đặc điểm của quản lý sử dụng đường giao thông nông thôn có phạm vi quản lý rộng, bao gồm nhiều công tác quản lý khác nhau đòi hỏi phải phối hợp một cách chặt chẽ giữa các cơ quan khác nhau trong cùng hệ thống quản lý nhà nước, nhằm phát huy hiệu quả cao nhất phục vụ phát triển kinh tế - xã hội cho đất nước nói chung và cho khu vực nông thôn nói riêng, đảm bảo hài hòa lợi ích của cộng đồng. Đặc điểm của quản lý sử dụng đường GTNT dựa trên những khung pháp lý của nhà nước đã thiết lập, đó là cơ sở hoạt động thôn (Phạm Văn Hùng, 2013). Bộ máy quản lý có tính đa cấp và bị chi phối bởi quan hệ kinh tế đối ngoại, bởi hệ thống giao thông nông thôn là một hệ thống cấu trúc phức tạp phân bố trên toàn lãnh thổ, trong đó có những bộ phận có mức độ và phạm vi ảnh hưởng cao thấp khác nhau tới sự phát triển kinh tế - xã hội của toàn bộ nông thôn, của vùng và của làng, xã. Tuy vậy, các bộ phận này có mối liên hệ gắn kết với nhau trong quá trình hoạt động, khai thác và sử dụng.
10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Đường giao thông nông thôn được thiết kế nhằm đảm bảo cho các phương tiện cơ giới loại trung, nhẹ và xe thô sơ qua lại, do đó kết cấu mặt đường được thiết kế không phức tạp, sử dụng vật liệu sẵn có tại địa phương do đó loại đường này dễ bị xuống cấp. Có nhiều nguyên nhân gây nên tình trạng xuống cấp của các con đường giao thông nông thôn (Phạm Văn Hùng, 2013). Đường nông thôn thường là đường đất hoặc nền đường không được xử lý tốt nên rất dễ bị lầy lội, sụt lún do nước mưa, nước lũ, mương máng chảy cạnh đường hoặc bắc qua đường, nước ngầm mao dẫn từ dưới lên hoặc hai bên vào làm đường bị hỏng. Ngoài ra còn có các nguyên nhân khác như: - Tác động môi trường như: Các điều kiện thời tiết ẩm ướt, khô hanh, mưa nắng, lũ lụt.
- Các tác nhân khác: cây đổ, đá lăn, sụt lở, thiên tai. - Yếu tố con người: việc sử dụng mặt đường, vai đường, rãnh thoát nước để chất đống vật liệu và nông sản của địa phương, gây cản trở thoát nước, làm hỏng kết cấu mặt và rãnh. Người dân chưa có ý thức trong việc sử dụng đường giao thông vào các mục đích khác dẫn theo (Phạm Văn Hùng, 2013). Cuối cùng, quản lý sử dụng đường giao thông nông thôn mang tính đa mục tiêu: Phúc lợi, an sinh xã hội, giữ gìn cơ sở hạ tầng, góp phần tăng trưởng kinh tế, văn hoá, môi trường… và vì lợi ích của cộng đồng.
Nội dung của quản lý sử dụng đường giao thông nông thôn 2. Tiếp nhận đường giao thông nông thôn hoàn thành đầu tư xây dựng đưa vào sử dụng Trước khi đưa đường GTNT vào vận hành khai thác, Chủ đầu tư có trách nhiệm: - Hoàn thành các thủ tục về quản lý đầu tư xây dựng công trình theo quy định; - Lắp đặt đầy đủ biển báo đường bộ, bảng hướng dẫn quản lý, vận hành khai thác các công trình và hệ thống an toàn giao thông; Khi bàn giao đường GTNT, Chủ đầu tư, nhà thầu thi công xây dựng, tổ chức giám sát thi công xây dựng và các tổ chức, cá nhân có liên quan đến giai 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com đoạn xây dựng, Chủ quản lý sử dụng đường GTNT tiến hành kiểm tra, rà soát các hạng mục, bộ phận công trình đường. Trường hợp có khiếm khuyết, tồn tại về chất lượng thì phải khắc phục đảm bảo quy định thiết kế mới được tổ chức bàn giao (Chính phủ, 2013). Sau khi nhận bàn giao đường GTNT đưa vào vận hành khai thác, Chủ quản lý sử dụng đường GTNT phải thông báo bằng văn bản đến Sở Giao thông vận tải, Ủy ban nhân dân cấp huyện, Ủy ban nhân dân cấp xã, chính quyền thôn về thời gian đưa đường GTNT vào vận hành khai thác, tải trọng khai thác, tốc độ cho phép, khổ giới hạn cho phép tham gia giao thông trên đường GTNT và các nội dung cần thiết khác (Chính phủ, 2013).
Trong thời gian bảo hành theo quy định, Chủ đầu tư và nhà thầu thi công xây dựng chịu trách nhiệm thực hiện sửa chữa các hư hỏng, khiếm khuyết, thay thế bộ phận, hạng mục bị hư hỏng và thực hiện các nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật về xây dựng (Chính phủ, 2013). Phân cấp quản lý sử dụng đường giao thông nông thôn Hệ thống tổ chức quản lý và phân cấp quản lý sử dụng GTNT: Theo Luật Giao thông đường bộ được Quốc hội ban hành ngày 13/11/2008 và Nghị định số 11/2010/NĐ-CP ngày 24/2/2010 của Chính phủ Quy định về quản lý và bảo vệ kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ, việc quản lý sử dụng đường GTNT (gồm đường huyện, đường xã) được xác định do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quy định; thẩm quyền phân loại và điều chỉnh hệ thống đường GTNT (đường huyện, đường xã) do Chủ tịch ủy ban nhân dân cấp huyện quyết định sau khi được Chủ tịch ủy ban nhân dân cấp tỉnh đồng ý; như vậy theo quy định hiện hành, quản lý dử dụng GTNT do UBND tỉnh quản lý. Các cấp tham gia quản lý sử dụng GTNT trên thực tế gồm 4 cấp sau: - Khách quan bao gồm: + Cấp trung ương: Bộ GTVT (Tổng Cục đường bộ Việt Nam, Cục Đường thủy nội địa). + Cấp tỉnh: UBND tỉnh (Sở GTVT) (Chính phủ, 2010).
- Chủ quan bao gồm: + Cấp huyện: UBND huyện (Phòng Công Thương huyện). Phòng Công Thương được giao giúp UBND hyện quản lý GTNT trên địa bàn Huyện 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com + Cấp xã: UBND xã. Nội dung quản lý đường GTNT ở các cấp: - Cấp trung ương: Bộ GTVT (Tổng cục ĐBVN, Cục Đường thủy nội địa) có trách nhiệm quản lý nhà nước đối với hệ thống đường GTNT bao gồm xây dựng chiến lược, hoạch định chính sách, xây dựng tiêu chuẩn kỹ thuật, các văn bản quy phạm pháp luật, hướng dẫn kỹ thuật quản lý, xây dựng và bảo trì hệ thống đường GTNT. Hệ thống tổ chức quản lý các cấp về giao thông nông thôn Nguồn: Chính phủ (2010) Các Bộ KHĐT, Tài chính, Xây dựng có trách nhiệm đối với việc lập kế hoạch, xây dựng tiêu chí, tiêu chuẩn quy hoạch xây dựng nông thôn, phân bổ các nguồn vốn cho các địa phương đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng nông thôn trong đó có GTNT, xây dựng các chính sách và cơ chế quản lý đầu tư xây dựng GTNT, ban hành hệ thống định mức và đơn giá, cơ chế hoạt động quản lý của Ban quản lý xây dựng GTNT ở địa phương cũng như hướng dẫn các quy chế đầu tư-xây dựng và đấu thầu cho các cấp các ngành và địa phương thực hiện.
13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - Cấp tỉnh: Sở GTVT là cơ quan trực tiếp được Uỷ ban nhân dân tỉnh giao quản lý sử dụng GTNT trên địa bàn, xây dựng quy hoạch phát triển GTNT (Chính phủ, 2010). - Cấp huyện: UBND Huyện là cơ quan quản lý sử dụng đường huyện, đường xã. Hiện tại cấp huyện đã tham gia là chủ đầu tư, thực hiện quản lý các dự án đầu tư xây dựng, cải tạo, nâng cấp đường giao thông nông thôn trên địa bàn theo quy định của luật xây dựng.