Tổng quan nghiên cứu

Quản lý rừng cộng đồng đóng vai trò then chốt trong chiến lược phân cấp quản lý tài nguyên và phát triển sinh kế bền vững tại khu vực miền núi Việt Nam. Tại huyện Ba Tơ, tỉnh Quảng Ngãi, nơi có 103.109,06 ha đất lâm nghiệp và hơn 80% dân số là đồng bào dân tộc thiểu số Hrê, công tác giao đất giao rừng đã đạt được những bước tiến đáng kể với 9.139,26 ha rừng được giao cho 38 cộng đồng thôn quản lý. Tuy nhiên, việc vận hành các mô hình này sau giai đoạn bàn giao đang đối mặt với nhiều rào cản về cơ chế sinh kế và năng lực tự quản.

Nghiên cứu tập trung đánh giá toàn diện mô hình quản lý rừng cộng đồng tại xã Ba Bích, huyện Ba Tơ, tỉnh Quảng Ngãi trong giai đoạn từ tháng 7/2017 đến tháng 01/2018. Xã Ba Bích có tổng diện tích tự nhiên 5.874,28 ha, trong đó đất lâm nghiệp chiếm 83,31% tương đương 4.893,94 ha. Địa bàn xã đã tiến hành giao 906,55 ha đất lâm nghiệp cho 4 cộng đồng thôn quản lý, bao gồm 896,89 ha rừng tự nhiên và 9,66 ha đất không có rừng. Trọng tâm nghiên cứu là mô hình thí điểm thuộc Dự án Phát triển ngành Lâm nghiệp với quy mô 302,09 ha rừng tự nhiên sản xuất tại hai thôn Nước Đang và Đồng Vào.

Nghiên cứu mang ý nghĩa thực tiễn sâu sắc khi độ che phủ rừng tại xã Ba Bích năm 2016 suy giảm mạnh xuống mức 47,93%, giảm 27,40% so với mức 75,33% của năm 2015. Trong khi đó, toàn xã có 177 hộ nghèo chiếm 28,50% và 147 hộ cận nghèo chiếm 23,55%, với mức thu nhập bình quân chỉ đạt 9.500.000 đồng/người/năm. Đề tài cung cấp cơ sở khoa học giúp tháo gỡ điểm nghẽn giữa mục tiêu bảo tồn hệ sinh thái rừng tự nhiên và nhu cầu gia tăng thu nhập của 621 hộ gia đình địa phương.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng trên nền tảng lý thuyết phát triển bền vững do Ủy ban Môi trường và Phát triển Thế giới đề xuất năm 1987 và Liên minh Bảo tồn Thiên nhiên Quốc tế công bố năm 1980. Khung phân tích này tích hợp hài hòa 3 trụ cột cơ bản: hiệu quả kinh tế, công bằng xã hội và bảo vệ môi trường sinh thái. Đối với lĩnh vực lâm nghiệp, nghiên cứu ứng dụng định nghĩa của Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên Hiệp Quốc năm 1978 và Tổ chức Bảo tồn Rừng năm 2005 về quản lý rừng cộng đồng, xác định đây là tiến trình bảo vệ và phát triển rừng dựa trên cấu trúc truyền thống, kiến thức bản địa và hương ước của người dân địa phương.

Khung pháp lý được viện dẫn chặt chẽ từ Luật Bảo vệ và Phát triển rừng năm 2004, Luật Đất đai năm 2013, Nghị định số 23/2006/NĐ-CP, Quyết định số 178/2001/QĐ-TTg về quyền hưởng lợi và nghĩa vụ của hộ gia đình nhận khoán rừng, cùng Quyết định số 07/2012/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường công tác bảo vệ rừng. Hệ thống khái niệm trọng tâm bao gồm: rừng cộng đồng, lâm nghiệp xã hội, quyền hưởng dụng tài nguyên và thể chế quản trị rừng bản địa.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng phương pháp chọn mẫu phân tầng ngẫu nhiên nhằm đảm bảo tính đại diện cao cho các nhóm thu nhập khác nhau tại cộng đồng người Hrê. Tổng cỡ mẫu khảo sát trực tiếp là 60 hộ gia đình tại hai thôn nghiên cứu, chia đều mỗi thôn 30 hộ. Cụ thể:

  • Thôn Nước Đang khảo sát 30 hộ, gồm 5 hộ nghèo, 10 hộ cận nghèo và 15 hộ khá.
  • Thôn Đồng Vào khảo sát 30 hộ, gồm 10 hộ nghèo, 10 hộ cận nghèo và 10 hộ khá.

Đồng thời, phương pháp phỏng vấn bán cấu trúc được thực hiện với 8 cán bộ chuyên trách, gồm 2 cán bộ Hạt Kiểm lâm, 1 cán bộ Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện Ba Tơ, cùng 5 cán bộ chủ chốt của Ủy ban nhân dân xã Ba Bích phụ trách địa chính, lâm nghiệp và lãnh đạo xã.

Nghiên cứu áp dụng bộ công cụ đánh giá nhanh nông thôn có sự tham gia bao gồm phân tích kinh tế hộ, sơ đồ Venn để xác định vị trí và mối quan hệ giữa các bên liên quan, ma trận SWOT để làm rõ điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức của mô hình. Phương pháp phân tích định lượng được xử lý qua phần mềm Microsoft Excel, giúp phân tách các biến động về cơ cấu thu nhập, tần suất tuần tra và mức độ tuân thủ quy ước bảo vệ rừng. Toàn bộ tiến trình thu thập dữ liệu sơ cấp và thứ cấp được triển khai liên tục từ tháng 7/2017 đến tháng 01/2018.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, về hiện trạng và chất lượng tài nguyên rừng, trong tổng số 302,09 ha rừng tự nhiên giao cho hai thôn, chất lượng rừng phân bố không đồng đều và phần lớn thuộc trạng thái trữ lượng thấp. Thôn Nước Đang quản lý 168,70 ha với 85,1% diện tích là rừng tự nhiên trung bình (143,60 ha) và 14,9% là rừng nghèo (25,10 ha). Ngược lại, thôn Đồng Vào quản lý 133,39 ha thì diện tích rừng nghèo chiếm ưu thế với 54,7% (72,99 ha), còn lại 45,3% là rừng trung bình (60,40 ha). Thành phần loài cây gỗ có giá trị thương phẩm cao hầu như không còn, chủ yếu là các loài cây thuộc nhóm gỗ từ nhóm IV đến nhóm VII.

Thứ hai, về hiệu quả kinh tế và đóng góp sinh kế, quản lý rừng cộng đồng chưa tạo ra nguồn thu nhập đáng kể cho người dân. Cơ cấu kinh tế toàn xã Ba Bích năm 2016 vẫn phụ thuộc 82,7% vào nông lâm ngư nghiệp, nhưng nguồn thu từ 302,09 ha rừng giao gần như bằng không. Các hộ dân chỉ thu hái lâm sản ngoài gỗ nhỏ lẻ như mây tre, nấm lim, mật ong và đót phục vụ tiêu dùng gia đình hoặc bán với giá trị thấp. Thu nhập bình quân đầu người toàn xã chỉ đạt khoảng 9.500.000 đồng/năm, khiến người dân chưa có động lực kinh tế để gắn bó lâu dài với việc bảo vệ rừng tự nhiên.

Thứ ba, về mặt xã hội và sự tham gia của cộng đồng, tỷ lệ người dân tham gia các cuộc họp thông qua quy ước bảo vệ rừng đạt mức cao trên 85%, nhưng hoạt động tuần tra thực địa diễn ra rời rạc. Tình trạng phá rừng tự nhiên để lấy đất trồng cây keo nguyên liệu có xu hướng gia tăng. Áp lực kinh tế từ 846 ha rừng trồng khai thác hàng năm đem lại gần 70.000 m3 gỗ keo trên địa bàn xã đã kích thích các hành vi xâm lấn trái phép vào diện tích rừng tự nhiên được giao.

Thứ tư, tồn tại sự tương phản rõ rệt giữa hai thể chế quản lý rừng trên địa bàn. Toàn huyện Ba Tơ hiện có gần 100 ha rừng tự nhiên do cộng đồng quản lý theo luật tục tâm linh của người Hrê (rừng ma). Diện tích rừng này được bảo vệ nguyên vẹn 100%, không xảy ra tình trạng xâm hại dù không có sự can thiệp của pháp luật nhà nước. Trong khi đó, rừng tự nhiên được nhà nước giao quyền quản lý lại thường xuyên đối mặt với nguy cơ bị phá hoại.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân căn bản của thực trạng trên xuất phát từ sự đứt gãy về nguồn lực tài chính sau khi Dự án Phát triển ngành Lâm nghiệp kết thúc vào năm 2015. Khi dự án rút đi, các hoạt động tập huấn nâng cao năng lực và hỗ trợ phụ cấp cho đội tuần tra rừng thôn bản bị dừng hoàn toàn. Cơ chế hưởng lợi theo Quyết định số 178/2001/QĐ-TTg quy định người dân chỉ được hưởng lợi từ lượng tăng trưởng sau chu kỳ 10 đến 15 năm, đây là khoảng thời gian quá dài và không đáp ứng được nhu cầu sinh kế trước mắt của 324 hộ dân nghèo và cận nghèo tại địa phương.

Dữ liệu nghiên cứu phản ánh sự mất cân đối thể chế qua biểu đồ so sánh cơ cấu thu nhập hộ gia đình và ma trận phân tích các bên liên quan. Biểu đồ cho thấy nguồn thu từ kinh tế nương rẫy và rừng trồng keo lai chiếm hơn 70% tổng thu nhập, trong khi rừng tự nhiên cộng đồng chiếm tỷ trọng dưới 2%. Bảng ma trận SWOT chỉ ra rằng điểm yếu lớn nhất của mô hình là Ban Quản lý rừng thôn thiếu tư cách pháp nhân độc lập và không có ngân sách hoạt động thường xuyên. So sánh với các mô hình lâm nghiệp cộng đồng thành công tại Nepal và Ấn Độ, nơi người dân được trao quyền khai thác bền vững và hưởng lợi tức thì từ quỹ lâm nghiệp thôn bản, mô hình tại Ba Bích bộc lộ khoảng trống lớn về việc dung hòa giữa quyền lợi kinh tế và nghĩa vụ bảo tồn.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, hoàn thiện chính sách tài chính và cơ chế chia sẻ lợi ích từ rừng. Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Ngãi và Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cần tích hợp diện tích 906,55 ha rừng cộng đồng xã Ba Bích vào hệ thống chi trả dịch vụ môi trường rừng giai đoạn 2018-2020. Mục tiêu đặt ra là giải ngân tối thiểu 15% đến 20% nguồn kinh phí dịch vụ môi trường rừng hàng năm trực tiếp cho Quỹ bảo vệ rừng cấp thôn, đảm bảo chi trả thù lao tuần tra định kỳ cho các thành viên.

Thứ hai, kiện toàn cơ cấu và nâng cao năng lực cho Tổ bảo vệ rừng cộng đồng. Ủy ban nhân dân xã Ba Bích phối hợp cùng Hạt Kiểm lâm huyện Ba Tơ tổ chức 4 đợt tập huấn kỹ thuật lâm sinh và kỹ năng tuần tra mỗi năm cho 60 hộ nhận khoán. Trang bị đồng bộ công cụ hỗ trợ, thiết bị định vị GPS và sổ nhật ký tuần tra, duy trì tần suất kiểm tra thực địa tối thiểu 2 lần mỗi tháng trên toàn bộ 302,09 ha rừng giao cho hai thôn Nước Đang và Đồng Vào bắt đầu từ quý 3/2018.

Thứ ba, thể chế hóa hương ước thôn bản gắn liền với văn hóa truyền thống người Hrê. Ban Quản lý thôn Nước Đang và Đồng Vào cần rà soát, bổ sung quy ước quản lý bảo vệ rừng dựa trên việc tiếp thu các giá trị kiêng cữ tích cực từ mô hình tự quản 100 ha rừng ma truyền thống. Hoàn thành việc ký cam kết không phá rừng trồng keo với 100% hộ gia đình trong xã trước tháng 12/2018.

Thứ tư, triển khai các mô hình phát triển sinh kế nông lâm kết hợp dưới tán rừng. Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện Ba Tơ cần xây dựng dự án thí điểm trồng 10 ha mây nếp, sa nhân tím, nấm lim xanh và chăn nuôi dê bán thâm canh tại hai thôn trong giai đoạn 2019-2021. Mục tiêu nâng mức thu nhập bình quân của các hộ tham gia quản lý rừng lên trên 15.000.000 đồng/người/năm, giảm tỷ lệ hộ nghèo của xã xuống dưới 20%.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Thứ nhất, các cơ quan quản lý nhà nước về lâm nghiệp bao gồm Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Chi cục Kiểm lâm tỉnh Quảng Ngãi và Phòng Nông nghiệp các huyện miền núi. Luận văn cung cấp số liệu thực chứng về những rào cản chính sách tại 62 huyện nghèo trên cả nước theo Nghị quyết số 30a/2008/NQ-CP, hỗ trợ việc điều chỉnh quy trình giao đất giao rừng phù hợp với thực tiễn.

Thứ hai, ban quản lý các chương trình, dự án phát triển nông thôn và các tổ chức phi chính phủ đang hoạt động trong lĩnh vực bảo tồn tài nguyên thiên nhiên. Tài liệu là tài liệu tham khảo giá trị trong việc thiết kế các dự án can thiệp sinh kế sau giao rừng, tránh tình trạng dự án kết thúc thì hoạt động bảo vệ rừng bị đình trệ.

Thứ ba, học viên cao học, nghiên cứu sinh và sinh viên các chuyên ngành Quản lý tài nguyên rừng, Lâm học, Lâm nghiệp xã hội và Phát triển nông thôn. Luận văn cung cấp khung phương pháp luận hoàn chỉnh về ứng dụng các công cụ đánh giá nông thôn có sự tham gia, phân tích sơ đồ Venn và ma trận SWOT trong nghiên cứu lâm nghiệp.

Thứ tư, chính quyền cơ sở cấp xã và ban quản lý thôn bản vùng đồng bào dân tộc thiểu số tại 16 xã, thị trấn của huyện Ba Tơ và các vùng lân cận. Bản nghiên cứu cung cấp giải pháp cụ thể giúp lồng ghép luật tục truyền thống vào quy ước thôn bản nhằm quản lý bền vững tài nguyên rừng tự nhiên tại địa phương.

Câu hỏi thường gặp

Nguyên nhân chính khiến hiệu quả kinh tế từ rừng cộng đồng tại xã Ba Bích còn thấp là gì? Phần lớn diện tích 302,09 ha rừng giao cho hai thôn là rừng nghèo và rừng trung bình với các nhóm gỗ giá trị thấp từ nhóm IV đến nhóm VII. Theo chính sách hiện hành, việc khai thác gỗ thương phẩm bị đóng cửa và chu kỳ hưởng lợi kéo dài từ 10 đến 15 năm, trong khi nguồn thu từ lâm sản ngoài gỗ chỉ chiếm dưới 2% tổng thu nhập của các hộ dân.

Tại sao mô hình quản lý rừng theo luật tục của người Hrê lại đạt hiệu quả cao hơn rừng được nhà nước giao? Gần 100 ha rừng ma tại huyện Ba Tơ được bảo vệ nguyên vẹn nhờ vào niềm tin tâm linh sâu sắc và các quy định nghiêm ngặt của cộng đồng người Hrê. Người dân tuyệt đối không xâm phạm khu vực này vì sợ vi phạm điều kiêng cữ của làng, trong khi rừng do nhà nước giao thiếu cơ chế giám sát thực địa liên tục và thiếu lợi ích kinh tế trực tiếp.

Sự rút lui của Dự án Phát triển ngành Lâm nghiệp đã để lại những khoảng trống nào? Sau khi dự án kết thúc vào năm 2015, nguồn kinh phí hỗ trợ đào tạo tập huấn và trợ cấp tuần tra cho 2 tổ bảo vệ rừng thôn bị gián đoạn hoàn toàn. Cộng đồng không có kinh phí tự chủ để duy trì hoạt động bảo vệ 302,09 ha rừng, dẫn đến tình trạng suy giảm trách nhiệm và phát sinh các vụ lấn chiếm đất rừng tự nhiên để trồng keo.

Phương pháp chọn mẫu 60 hộ gia đình có đảm bảo tính đại diện khoa học cho đề tài không? Cỡ mẫu 60 hộ tại hai thôn Nước Đang và Đồng Vào được phân tầng ngẫu nhiên theo 3 mức thu nhập đại diện: 15 hộ nghèo, 20 hộ cận nghèo và 25 hộ khá. Tỷ lệ này phản ánh đúng cấu trúc kinh tế của xã Ba Bích với 28,50% hộ nghèo và 23,55% hộ cận nghèo, đảm bảo độ tin cậy cao cho các phân tích thống kê.

Giải pháp nào khả thi nhất để tạo sinh kế tức thì cho người dân nhận quản lý rừng? Giải pháp đột phá nhất là phát triển kinh tế dưới tán rừng thông qua trồng thử nghiệm 10 ha mây tre, cây dược liệu bản địa như sa nhân tím, nấm lim xanh kết hợp chăn nuôi gia súc. Mô hình này kết hợp nguồn chi trả dịch vụ môi trường rừng sẽ tạo dòng tiền ngắn ngày, giúp cải thiện thu nhập cho 324 hộ nghèo và cận nghèo của xã.

Kết luận

  • Luận văn đã đánh giá toàn diện thực trạng quản lý 906,55 ha rừng cộng đồng tại xã Ba Bích, làm rõ hiện trạng 302,09 ha rừng tự nhiên thí điểm tại hai thôn Nước Đang và Đồng Vào.
  • Nghiên cứu chỉ ra nghịch lý giữa sự bảo tồn tuyệt đối của 100 ha rừng ma theo luật tục và nguy cơ suy thoái của rừng giao theo cơ chế quản lý nhà nước khi độ che phủ rừng giảm xuống còn 47,93% năm 2016.
  • Đề tài đóng góp phương pháp luận phân tích thể chế quản lý rừng có sự tham gia thông qua việc kết hợp công cụ đánh giá nông thôn, ma trận SWOT và phân tích kinh tế 60 hộ gia đình.
  • Đề xuất lộ trình 4 nhóm giải pháp đồng bộ về chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng, nâng cao năng lực kiểm lâm cơ sở và phát triển sinh kế dưới tán rừng giai đoạn 2018-2022.
  • Các cấp chính quyền tỉnh Quảng Ngãi và huyện Ba Tơ cần khẩn trương xem xét, phê duyệt quy chế quản lý tài chính và hỗ trợ sinh kế cho các cộng đồng thôn bản, biến quyền quản lý rừng trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thành động lực phát triển kinh tế nông thôn bền vững.