Luận văn ThS. Tạ Công Khiết: Quản lý rừng cộng đồng bền vững ở Ba Tơ, Quảng Ngãi

Luận văn đánh giá thực trạng và đề xuất các giải pháp hiệu quả cho mô hình quản lý rừng cộng đồng bền vững tại huyện Ba Tơ, tỉnh Quảng Ngãi.

Chuyên ngành

Quản Lý Rừng

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn

2018

130
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Quản lý rừng cộng đồng Ba Tơ Tổng quan mô hình tiên phong

Quản lý rừng cộng đồng (QLRCĐ) là một phương thức quản lý tài nguyên rừng tiên tiến, được Đảng và Nhà nước Việt Nam xác định là chủ trương chiến lược nhằm phân cấp, phân quyền cho người dân địa phương. Tại huyện Ba Tơ, Quảng Ngãi, một huyện miền núi với hơn 80% dân số là đồng bào dân tộc thiểu số Ba Tơ (chủ yếu là dân tộc Hrê), mô hình này mang ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Đời sống của người dân nơi đây gắn liền và phụ thuộc sâu sắc vào rừng. Việc triển khai giao rừng cho cộng đồng không chỉ nhằm mục tiêu bảo vệ và phát triển vốn rừng mà còn hướng tới phát triển sinh kế bền vững, cải thiện đời sống kinh tế - xã hội. Nghiên cứu tại xã Ba Bích cho thấy, từ năm 2015, thông qua các dự án như WB3, UBND huyện Ba Tơ đã giao 9.139,26 ha rừng và đất rừng cho 38 cộng đồng dân cư thôn quản lý. Riêng tại xã Ba Bích, 4 cộng đồng đã nhận quản lý 906,55 ha. Đây là bước đi cụ thể hóa chính sách lâm nghiệp của nhà nước, công nhận vai trò của người dân địa phương là những chủ rừng thực sự, góp phần vào công cuộc bảo tồn đa dạng sinh học và phát triển lâm nghiệp tại một trong những huyện nghèo của cả nước.

1.1. Khái niệm và vai trò của lâm nghiệp cộng đồng

Lâm nghiệp cộng đồng là một thuật ngữ bao trùm các hoạt động gắn kết người dân nông thôn với tài nguyên rừng, từ trồng cây, bảo vệ rừng tự nhiên đến khai thác sản phẩm để cải thiện đời sống. Theo FAO (2000), đây là phương thức giúp tăng cường quản lý và sử dụng các sản phẩm lâm nghiệp một cách bền vững. Tại Việt Nam, QLRCĐ được luật hóa trong Luật Bảo vệ và Phát triển rừng năm 2004, xác định cộng đồng dân cư thôn là một chủ thể quản lý rừng hợp pháp. Vai trò của mô hình này là trao quyền tự chủ cho cộng đồng, phát huy kiến thức bản địa và tinh thần trách nhiệm trong việc bảo vệ tài nguyên quý giá, đồng thời đảm bảo lợi ích kinh tế trực tiếp cho người dân sống gần rừng.

1.2. Tình hình giao rừng cho cộng đồng tại Ba Tơ Quảng Ngãi

Công tác giao rừng cho cộng đồng tại huyện Ba Tơ được đẩy mạnh thông qua hai dự án chính: Dự án Phát triển ngành Lâm nghiệp (WB3) và Phương án giao rừng, cho thuê rừng huyện giai đoạn 2012-2015. Tính đến cuối năm 2016, toàn huyện đã giao 9.139,26 ha cho 38 cộng đồng, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Tại xã Ba Bích, cộng đồng thôn Nước Đang và Đồng Vào là những mô hình thí điểm đầu tiên, nhận quản lý tổng cộng 302,09 ha rừng tự nhiên sản xuất. Quá trình này thể hiện sự nỗ lực của chính quyền địa phương trong việc thực hiện chủ trương xã hội hóa nghề rừng, đảm bảo mỗi khu rừng đều có chủ thể quản lý rõ ràng, tạo cơ sở pháp lý vững chắc cho cộng đồng thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình.

II. Top thách thức trong quản lý rừng cộng đồng tại Ba Tơ

Mặc dù chủ trương giao rừng cho cộng đồng là đúng đắn, quá trình triển khai tại Ba Tơ vẫn đối mặt với nhiều tồn tại và bất cập. Các thách thức trong quản lý rừng không chỉ đến từ yếu tố tự nhiên mà còn xuất phát từ các vấn đề kinh tế, xã hội và năng lực quản lý. Nghiên cứu thực tế tại xã Ba Bích chỉ ra rằng, phần lớn diện tích rừng được giao là rừng tự nhiên nghèo, trữ lượng gỗ thấp, chủ yếu là các nhóm gỗ IV đến VII. Điều này làm hạn chế tiềm năng khai thác và hưởng lợi kinh tế trực tiếp của người dân, dẫn đến hiệu quả kinh tế chưa đáng kể. Bên cạnh đó, sự tham gia của cộng đồng tuy có nhưng chưa thực sự chủ động và “mặn mà”. Tình trạng phá rừng trái pháp luật vẫn diễn biến phức tạp, cho thấy hiệu quả quản lý rừng còn nhiều hạn chế. Sự kết thúc của các dự án hỗ trợ cũng để lại một khoảng trống về nguồn lực và kỹ thuật cho các cộng đồng.

2.1. Hạn chế về hiệu quả kinh tế và phát triển sinh kế

Một trong những thách thức lớn nhất là hiệu quả kinh tế mang lại cho người dân còn rất thấp. Tài liệu nghiên cứu tại thôn Nước Đang và Đồng Vào cho thấy thu nhập từ rừng sau khi được giao là không đáng kể. Nguyên nhân chính là chất lượng rừng nghèo, chưa đủ điều kiện khai thác gỗ. Người dân chủ yếu chỉ được hưởng lợi từ lâm sản ngoài gỗ với giá trị thấp. Điều này chưa tạo ra động lực đủ mạnh để cộng đồng tích cực tham gia bảo vệ rừng. Mục tiêu phát triển sinh kế bền vững từ rừng vẫn còn xa vời, khiến người dân vẫn phải phụ thuộc vào các hoạt động nông nghiệp khác hoặc khai thác tài nguyên rừng trái phép để mưu sinh, tạo ra áp lực lớn lên công tác quản lý.

2.2. Bất cập trong cơ chế và sự tham gia của người dân địa phương

Sự tham gia của cộng đồng vào tiến trình QLRCĐ được đánh giá là “tương đối”. Dù tỷ lệ hộ dân tham gia các cuộc họp triển khai khá cao, nhưng sự tự nguyện và chủ động trong công tác tuần tra, bảo vệ rừng còn hạn chế. Vai trò của người dân địa phương chưa được phát huy tối đa. Cơ chế chia sẻ lợi ích chưa rõ ràng và hấp dẫn. Cách thức tố giác các hành vi vi phạm còn e dè, chưa hiệu quả. Các mâu thuẫn nội bộ trong cộng đồng liên quan đến quyền lợi và trách nhiệm cũng là một rào cản. Tình trạng một số cá nhân “cố ý” vi phạm pháp luật vì lợi ích riêng cho thấy sự gắn kết và tính kỷ luật của cộng đồng chưa thực sự vững chắc.

2.3. Suy giảm tài nguyên và khó khăn trong bảo tồn đa dạng sinh học

Về mặt môi trường, hiệu quả quản lý rừng chưa thực sự rõ nét. Tại thôn Nước Đang, diện tích rừng thậm chí có chiều hướng giảm xuống do tình trạng phá rừng trái pháp luật. Mặc dù chất lượng rừng ở một số khu vực có cải thiện nhẹ, nhưng nhìn chung, các hoạt động quản lý chưa đủ mạnh để ngăn chặn suy thoái. Công tác bảo tồn đa dạng sinh học đối mặt với nhiều khó khăn khi các loài động thực vật quý hiếm vẫn bị săn bắt, khai thác. Áp lực từ việc chuyển đổi đất rừng tự nhiên sang trồng cây nguyên liệu (keo) cũng là một mối đe dọa lớn, ảnh hưởng đến hệ sinh thái và tính bền vững của tài nguyên rừng được giao.

III. Hướng dẫn hoàn thiện chính sách lâm nghiệp cho cộng đồng

Để giải quyết các thách thức hiện hữu, việc đề xuất các giải pháp đồng bộ về chính sách lâm nghiệp là yêu cầu cấp thiết. Các giải pháp này cần tập trung vào việc tạo ra một khung pháp lý và cơ chế hỗ trợ rõ ràng, minh bạch và thực tiễn, giúp cộng đồng thực sự trở thành người chủ của khu rừng. Cần có sự điều chỉnh trong cơ chế hưởng lợi, không chỉ dựa vào khai thác gỗ mà cần đa dạng hóa các nguồn thu. Việc tích hợp các chính sách mới như chi trả dịch vụ môi trường rừng (PFES) sẽ tạo ra nguồn tài chính bền vững cho công tác bảo vệ rừng. Đồng thời, cần trao quyền nhiều hơn cho cộng đồng trong việc xây dựng và thực thi các quy ước bảo vệ rừng, đảm bảo các quy định này phù hợp với văn hóa, tập quán địa phương và có tính khả thi cao. Sự hỗ trợ từ nhà nước và các tổ chức liên quan không nên dừng lại sau khi giao rừng mà cần tiếp tục đồng hành cùng cộng đồng.

3.1. Cải thiện cơ chế hưởng lợi từ việc giao rừng cho cộng đồng

Cần xây dựng một cơ chế hưởng lợi linh hoạt và công bằng hơn. Đối với những khu rừng nghèo chưa thể khai thác gỗ, chính sách nên tập trung hỗ trợ cộng đồng phát triển kinh tế dưới tán rừng, trồng cây dược liệu, hoặc các mô hình nông lâm kết hợp. Cần đơn giản hóa thủ tục cho phép cộng đồng tận thu, tận dụng lâm sản ngoài gỗ và khai thác tỉa thưa hợp lý để cải thiện chất lượng rừng. Đặc biệt, chương trình chi trả dịch vụ môi trường rừng (PFES) cần được triển khai mạnh mẽ tại Ba Tơ. Nguồn kinh phí từ PFES sẽ là nguồn thu nhập ổn định, trực tiếp cho các hộ gia đình tham gia bảo vệ rừng dựa vào cộng đồng, tạo động lực tài chính rõ ràng và bền vững.

3.2. Cách xây dựng hương ước quy ước bảo vệ rừng hiệu quả

Hương ước bảo vệ rừngquy ước bảo vệ rừng là công cụ quản lý cấp cơ sở quan trọng. Để phát huy hiệu quả, quá trình xây dựng quy ước phải có sự tham gia thực chất của mọi thành viên trong cộng đồng, đặc biệt là già làng, trưởng bản và người có uy tín. Nội dung quy ước cần cụ thể, rõ ràng về quyền lợi, nghĩa vụ, các hành vi bị cấm và hình thức xử lý vi phạm. Quan trọng hơn, các quy định này phải dựa trên luật tục truyền thống của đồng bào dân tộc thiểu số Ba Tơ nhưng không trái với pháp luật nhà nước. Việc công nhận và hỗ trợ thực thi các quy ước này từ chính quyền địa phương sẽ nâng cao tính pháp lý và hiệu lực của chúng trong thực tiễn.

IV. Bí quyết nâng cao năng lực cộng đồng để quản lý rừng hiệu quả

Con người là yếu tố cốt lõi quyết định sự thành công của mô hình lâm nghiệp cộng đồng. Do đó, các giải pháp nâng cao năng lực cộng đồng phải được đặt lên hàng đầu. Hoạt động này không chỉ dừng lại ở việc tập huấn kiến thức pháp luật mà cần trang bị cho người dân các kỹ năng thực tiễn về quản lý, kỹ thuật lâm sinh, phòng cháy chữa cháy rừng, và giám sát tài nguyên. Cần xây dựng các mô hình phát triển kinh tế lâm nghiệp thí điểm ngay tại cộng đồng để người dân có thể học hỏi và nhân rộng. Tăng cường vai trò của ban quản lý rừng thôn, tổ bảo vệ rừng thông qua các chương trình đào tạo chuyên sâu và cơ chế đãi ngộ hợp lý. Sự hỗ trợ kỹ thuật từ các cơ quan chuyên môn như Hạt Kiểm lâm, Phòng Nông nghiệp cần được duy trì thường xuyên, giúp cộng đồng giải quyết các vấn đề phát sinh trong quá trình quản lý.

4.1. Tăng cường vai trò người dân và đồng bào dân tộc thiểu số

Để vai trò của người dân địa phương thực sự được phát huy, cần trao cho họ quyền ra quyết định nhiều hơn trong việc lập kế hoạch quản lý và sử dụng rừng. Các hoạt động tuyên truyền, tập huấn cần được thiết kế phù hợp với văn hóa và ngôn ngữ của đồng bào dân tộc thiểu số Ba Tơ. Cần khơi dậy niềm tự hào và ý thức trách nhiệm truyền thống của người Hrê đối với rừng. Việc công nhận và tích hợp kiến thức bản địa vào các kế hoạch quản lý hiện đại sẽ giúp các hoạt động bảo vệ rừng dựa vào cộng đồng trở nên hiệu quả và bền vững hơn.

4.2. Hướng dẫn phát triển kinh tế lâm nghiệp bền vững

Giải pháp căn cơ để giảm áp lực lên rừng là tạo ra sinh kế thay thế. Cần hỗ trợ cộng đồng xây dựng các mô hình phát triển kinh tế lâm nghiệp bền vững như: trồng cây dược liệu dưới tán rừng (sa nhân, nấm lim), chăn nuôi gia súc (dê, bò) theo hình thức bán chăn thả có kiểm soát, hoặc phát triển du lịch sinh thái cộng đồng. Các dự án cần cung cấp vốn vay ưu đãi, hỗ trợ kỹ thuật và kết nối thị trường tiêu thụ sản phẩm cho người dân. Khi sinh kế được đảm bảo, người dân sẽ có thêm nguồn lực và động lực để bảo vệ khu rừng được giao một cách tốt hơn.

04/10/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Cơ sở lý luận - Luật Đất đai năm 2013 ngày 29/11/2013; - Luật Bảo vệ và phát triển rừng ngày 03/12/2004; - Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ về quy định chi tiết thi hành một số điều của luật Đất đai; - Nghị định số 23/2006/NĐ-CP ngày 03/3/2006 của Chính phủ về thi hành luật Bảo vệ và phát triển rừng; - Quyết định số 07/2012/QĐ-TTg ngày 08/02/2012 của Thủ tướng Chính phủ về ban hành một số chính sách tăng cường công tác bảo vệ rừng. - Quyết định 49/2016/QĐ-TTg ngày 01/11/2016 của Thủ tướng chính phủ ban hành Quy chế quản lý rừng sản xuất; - Quyết định 178/2001/QĐ-TTg ngày 12/11/2001 của Thủ tướng chính phủ về quyền hưởng lợi, nghĩa vụ của gia đình, cá nhân được giao, được thuê nhận khoán rừng và đất Lâm nghiêp; - Thông tư số 23/2014/TT-BTNMT ngày 19/5/2014 của Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định về Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất; - Thông tư số 24/2014/TT-BTNMT ngày 19/5/2014 của Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định về hồ sơ địa chính; - Thông tư số 25/2014/TT-BTNMT ngày 19/5/2014 của Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định về thành lập bản đồ; - Thông tư số 34/2009/TT-BNNPTNT ngày 10/6/2009 quy định tiêu chí xác định và phân loại rừng của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn; - Thông tư số 38/2007/TT-BNN ngày 25/4/2007 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn về Hướng dẫn trình tự, thủ tục giao rừng, cho thuê rừng, thu hồi rừng cho tổ chức, hộ gia đình, cá nhân và cộng đồng dân cư thôn; - Thông tư số 25/2011/TT-BNNPTNT ngày 06/4/2011 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn về sửa đổi bổ sung một số điều Thông tư 38/2007/TT- BNNPTNT ngày 25/4/2007 của Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn về việc hướng dẫn trình tự, thủ tục giao rừng, cho thê rừng, thu hồi rừng cho tổ chức, hộ gia đình, cá nhân và công đồng dân cư thôn; PDF Watermark Remover DEMO : Purchase from www.com to remove the waterma 4 - Thông tư số 21/2016/TT-BNNPTNT ngày 28/6/2016 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn quy định về khai thác chính và tận dụng, tân thụ lâm sản; - Thông tư liên tịch số 07/2011/TTLT-BNNPTNT-BTNMT ngày 29/01/2011 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn và Bộ Tài Nguyên Môi trường về hướng dẫn một số nội dung về giao rừng, thuê rừng gắn liền với giao đất, thuê đất lâm nghiệp; - Văn bản hợp nhất số 21/2014/VBHN-BNNPTNT ngày 06/5/2014 của Bộ Nông Nghiệp và Phát triển Nông thôn về việc ban hành thông tư hướng dẫn trình tự, thủ tục giao rừng cho thuê rừng, thu hồi rừng cho tổ chức, hộ gia đình, cá nhân và cộng đồng dân cư thôn; - Quyết định 138/2004/QĐ-UBND ngày 20/5/2014 của UBND tỉnh Quảng Ngãi về ban hành khung hưởng lợi và nghĩa vụ của hộ gia đình cá nhân được giao, cho thuê, nhận khoán rừng và đất lâm nghiệp tỉnh Quảng Ngãi; - Quyết định số 2480/QĐ-UBND ngày 31/12/2015 của Chủ tịch UBND tỉnh Quảng Ngãi về việc phê duyệt kết quả rà soát, điều chỉnh, bổ sung quy hoạch 03 loại rừng trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi; - Quyết định số 225/QĐ-UBND ngày 26/3/2015 của UBND huyện Ba Tơ về việc giao rừng cho cộng đồng dân cư thôn Nước Đang, xã Ba Bích.

- Quyết định số 229/QĐ-UBND ngày 27/3/2015 của UBND huyện Ba Tơ về việc giao rừng cho cộng đồng dân cư thôn Đồng Vào, xã Ba Bích; - Quyết định số 13/QĐ-UBND ngày 06/01/2012 của Chủ tịch UBND tỉnh Quảng Ngãi về việc phê duyệt Phương án giao rừng, cho thuê rừng huyện Ba Tơ giai đoạn 2012-2013; - Quyết định số 1049/QĐ-UBND ngày 25/7/2014 của Chủ tịch UBND tỉnh Quảng Ngãi về việc phê duyệt điều chỉnh nguồn kinh phí và thời gian thực hiện Phương án giao rừng, cho thuê rừng huyện Ba Tơ; - Quyết định số 1377/QĐ-UBND ngày 12/8/2015 của Chủ tịch UBND tỉnh Quảng Ngãi về việc điều chỉnh đối tượng, loại rừng, diện tích rừng, hạn mức giao cho thuê rừng và tổng dự toán thực hiện Phương án giao rừng, cho thuê rừng huyện Ba Tơ giai đoạn 2012-2015. Cơ sở thực tiễn 1. Các khái niệm liên quan đến quản lý rừng cộng đồng 1. Khái niệm về rừng Rừng là sự hình thành phức tạp của tự nhiên, là thành phần cơ bản của sinh quyển địa cầu.

PDF Watermark Remover DEMO : Purchase from www.com to remove the waterma 5 Theo Điều 3 của Luật Bảo vệ và phát triển rừng năm 2004: Rừng là một hệ sinh thái bao gồm quần thể thực vật rừng, động vật rừng, vi sinh vật rừng, đất rừng, và các yếu tố môi trường khác, trong đó cây gỗ, tre nứa hoặc hệ thực vật đặc trưng là thành phần chính có độ che phủ của tán rừng từ 0,1 trở lên. Rừng gồm rừng trồng và rừng tự nhiên trên đất rừng sản xuất, đất phòng hộ, đất rừng đặc dụng. Khái niệm về Cộng đồng - Thuật ngữ cộng đồng (community) được định nghĩa: “Một nhóm người sống trên cùng một khu vực và thường cùng nhau chia sẻ các mục tiêu chung, các luật lệ xã hội chung và/ hoặc có quan hệ gia đình/ xã hội với nhau” (Bùi Việt Hải, 2007). - Cộng đồng dân cư gồm cộng đồng người Việt Nam sinh sống trên cùng địa bàn thôn, làng, ấp, bản, buôn, phum, sóc và các điểm dân cư tương tự có cùng phong tục, tập quán hoặc có chung dòng họ (Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam, 2013).

- Cộng đồng dân cư thôn là toàn bộ các hộ gia đình, cá nhân sống trong cùng một thôn, làng, bản, ấp, buôn, phum, sóc hoặc đơn vị tương đương (Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam, 2004). - Làng cổ truyền là đơn vị xã hội cao nhất trong xã hội Chăm, Bana, Thái là cộng đồng của những người có quan hệ huyết thống hay khác huyết thống cùng sinh sống làm ăn trong một phạm vi nhất định (Nguyễn Xuân Hồng và cộng sự, 2000). Khái niệm về Rừng cộng đồng Rừng cộng đồng đã có và tồn tại từ bao đời nay, nhưng về phương diện khoa học thì mới được các nhà khoa học nhận diện đầu tiên vào những năm đầu thập kỷ 70, từ đó khái niệm rừng cộng đồng (community forest_CF) cũng xuất hiện. Rừng cộng đồng là rừng của thôn đã quản lý theo truyền thống trước đây mà khi chuyển đổi hoặc giải thể, hợp tác xã đã giao lại cho xã hoặc các thôn quản lý, sử dụng và hưởng lợi từ khu rừng đó.

Để nhận biết đâu là rừng cộng đồng, ở nơi nào có rừng cộng đồng và xây dựng các khái niệm, phương thức liên quan đến QLRCĐ (community forest managenent_CFM) cần phải có khái niệm rõ ràng về rừng cộng động. Rừng cộng đồng là một khái niệm cần làm rõ nội dung sau: - Về quyền sở hữu: Theo Luật Bảo vệ và phát triển rừng thì các tổ chức và cá nhân được nhà nước giao rừng, cho thuê rừng, giao đất cho thuê đất để phát triển rừng. Nhà nước thống nhất quản lý và định đoạt đối với rừng tự nhiên và rừng được phát triển với vốn nhà nước, rừng do nhà nước nhận chuyển quyền sở hữu rừng sản xuất là rừng trồng từ các chủ rừng, động vật rừng hoang dã, vi sinh vật rừng, cảnh quan môi trường rừng. Rừng trồng thuộc sở hữu của người đã đầu tư công sức để trồng nên khu rừng đó.

PDF Watermark Remover DEMO : Purchase from www.com to remove the waterma 6 - Về quyền sử dụng rừng và đất lâm nghiệp: Chủ rừng được đăng ký quyền sử dụng rừng là rừng trồng. Chủ rừng được thực hiện những hành vi nhất định để quản lý, sử dụng, khai thác những lợi ích của rừng và đất lâm nghiệp được giao hay được khoán bảo vệ. - Về quyền định đoạt: Về đất lâm nghiệp tất nhiên thuộc về nhà nước vì đất thuộc sở hữu của nhà nước, nhưng quyền định đoạt rừng cây tùy thuộc vào quyền sở hữu rừng cây của cộng đồng. - Về quyền hưởng lợi: Cộng đồng được hưởng lợi từ rừng và đất lâm nghiệp đúng như quy định của nhà nước.

Đối với rừng do cộng đồng nhận khoán bảo vệ từ các tổ chức thì quyền hưởng lợi của cộng đồng được hưởng theo quy định của hợp đồng khoán. Tóm lại, rừng cộng đồng là những khu rừng mà chủ thể quản lý rừng là cộng đồng có nhiệm vụ, trách nhiệm, quyền hạn rõ ràng như một chủ rừng thực sự. Khái niệm về Lâm nghiệp cộng đồng Lâm nghiệp cộng đồng (LNCĐ) là những hoạt động không chỉ giới hạn trong việc trồng cây rừng ở trang trại, khu nhà ở hay ven đường, mà còn đề cập đến cả tập quán du canh, việc sử dụng và quản lý rừng tự nhiên, cung cấp các sản phẩm lâm sản từ rừng tự nhiên, từ rừng trồng hay nông lâm kết hợp. LNCĐ cũng đề cập đến việc xác định nhu cầu của địa phương, tăng cường quản lý sử dụng các sản phẩm lâm nghiệp để cải thiện mức sống của người dân theo một phương thức bền vững, đặc biệt là cải thiện điều kiện sống cho người nghèo (FAO, 2000).

Theo Arnold 1992, định nghĩa tổng quát về LNCĐ, hiểu một cách chính xác và thiết thực nhất thì LNCĐ là một thuật ngữ bao trùm hàng loạt các hoạt động gắn kết người dân nông thôn với cây và rừng cũng như các sản phẩm và lợi ích thu được từ rừng trồng và rừng tự nhiên. Một số người quan niệm LNCĐ có thể được gọi là một bộ phận của lâm nghiệp xã hội (LNXH). Lâm nghiệp cộng đồng là một quá trình Nhà nước giao rừng và đất rừng cho cộng đồng quản lý, bảo vệ và phát triển rừng, đất rừng theo hướng bền vững và góp phần cải thiện điều kiện sinh kế của cộng đồng ngày một lớn hơn. Ở Việt Nam, khái niệm “cộng đồng” được dùng trong lĩnh vực quản lý tài nguyên rừng có thể khái quát thành 2 loại quan điểm chính sau đây: Thứ nhất, cộng đồng là một tập hợp những người sống gắn bó với nhau thành một xã hội nhỏ có những điểm tương đồng về mặt văn hoá, kinh tế, xã hội truyền thống, phong tục tập quán, có các quan hệ trong sản xuất và đời sống gắn bó với nhau PDF Watermark Remover DEMO : Purchase from www.com to remove the waterma 7 và thường có ranh giới không gian trong một thôn bản.

Theo quan niệm này, cộng đồng chính là “cộng đồng dân cư thôn bản” (sau đây “thôn bản” được gọi chung là “thôn” cho phù hợp với Luật Bảo vệ và Phát triển rừng năm 2004). Thứ hai, cộng đồng được dùng trong quản lý rừng chính là nói đến các nhóm người có mối quan hệ gắn bó với nhau trong sản xuất và đời sống.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ