phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, tài liệu tham khảo và phụ lục còn gồm 03 chương sau: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về quản lý phối hợp giữa Đoàn TNCS Hồ Chí Minh với nhà trường trong giáo dục đạo đức cho học sinh THPT. Chƣơng 2: Thực trạng công tác quản lý phối hợp giữa Đoàn TNCS Hồ Chí Minh với nhà trường trong giáo dục đạo đức cho học sinh tại trường THPT Nguyễn Khuyến TP.Hải Phòng. Chƣơng 3: Biện pháp quản lý phối hợp giữa Đoàn TNCS Hồ Chí Minh với nhà trường trong giáo dục đạo đức cho học sinh trường THPT Nguyễn Khuyến thành phố Hải Phòng trong giai đoạn hiện nay. 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ PHỐI HỢP GIỮA ĐOÀN THANH NIÊN CỘNG SẢN HỒ CHÍ MINH VỚI NHÀ TRƢỜNG TRONG GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 1.
Sơ lƣợc lịch sử nghiên cứu vấn đề Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội, xuất hiện từ buổi bình minh của lịch sử loài người. Nó được hoàn thiện, phát triển trên cơ sở các chế độ kinh tế - xã hội nối tiếp nhau từ thấp đến cao, đỉnh cao của nó là đạo đức XHCN, đạo đức cộng sản, điều mà chúng ta đang phấn đấu thực hiện. Vai trò động lực tinh thần to lớn của đạo đức đối với sự phát triển, tiến bộ xã hội được nhiều nhà khoa học hiện nay thừa nhận và được các quốc gia quan tâm sâu sắc. Các nghiên cứu ở nƣớc ngoài Ở phương Tây, nhà triết học Socrate (469 – 399 TCN) cho rằng cái gốc của đạo đức là tính thiện, bản tính con người vốn thiện, nếu tính thiện ấy được nuôi dưỡng, phát triển thì con người sẽ có hạnh phúc.
Theo ông, chuẩn mực đạo đức phải được nhận thức bằng lý tính kết hợp với phương pháp nhận thức khoa học. Đối với nền văn minh phương Đông thì vấn đề GDĐĐ đã được quan tâm từ rất sớm. Khổng Tử (551-479 TCN) mà tư tưởng của ông đã trở thành một “Đạo” có ảnh hưởng sâu rộng không chỉ ở Trung Quốc mà ở nhiều quốc gia. Ông đề cao đường lối “đức trị” để trị quốc an dân, phát triển đất nước.
Theo quan điểm “ Ngũ thường” của ông thì yếu tố đạo đức được đặt lên hàng đầu “ Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín”. Ông coi Nhân là gốc rễ của các đức khác, và xây dựng học thuyết “Nhân - Lễ - Chính danh”. Ông được người đời tôn làm “Vạn thế sư biểu”. Aristoste (384-322-TCN) cho rằng không phải hy vọng vào Thượng đế áp đặt để có người công dân hoàn thiện về đạo đức, mà việc phát hiện nhu cầu trên trái đất mới tạo nên được con người hoàn thiện trong quan hệ đạo đức.
Nhiều nhà tâm lý học và GD học trên thế giới cũng đã đề cập và nghiên cứu về GDĐĐ. Trong số đó tiêu biểu là nhà GD học và tâm lý học Liên Xô A. 15 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Makarenco, ông nêu lên nguyên tắc GDĐĐ trong tập thể và thông qua tập thể. Nguyên tắc đó của ông đã trở thành một trong bốn con đường GD được sử dụng rộng rãi hiện nay [1] 1.
Các nghiên cứu ở trong nƣớc Đất nước Việt Nam trải qua hàng nghìn năm văn hiến đã xây dựng mô hình GD kế thừa những tinh hoa của nhân loại, đạo đức và tài năng là hai yếu tố căn bản của nhân cách con người, trong đó cha ông ta lựa chọn đạo đức là gốc rễ, “Tiên học Lễ, hậu học Văn”. Những nguyên tắc, quy tắc, chuẩn mực, phẩm chất đạo đức cá nhân và đạo đức xã hội hiện thực đang tác động mạnh mẽ, thường xuyên đến các quan hệ ứng xử giữa người và người, cá nhân và xã hội nhằm hướng con người tới cái chân, thiện, mỹ, chống cái ác, cái xấu, cái giả, đưa XH ta đạt mục tiêu cao cả: Dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ , văn minh. Chủ Tịch Hồ Chí Minh đã nói: “Có tài mà không có đức thì là người vô dụng”. Người coi trọng mục tiêu, nội dung GDĐĐ trong các nhà trường như: “Đoàn kết tốt”, “Kỷ luật tốt”,“Khiêm tốn, thật thà dũng cảm”,“Con người cần có bốn đức: cần - kiệm - liêm - chính, mà nếu thiếu một đức thì không thành người”.
Kế thừa tư tưởng của Người, từ lâu đã có nhiều giáo trình đạo đức học được biên soạn, góp phần đáng kể cho việc định hướng GDĐĐ cho HS. GDĐĐ cho HS, đặc biệt là học sinh THPT là một nội dung được quan tâm và nghiên cứu của nhiều tác giả. Các tác giả như GS. Đào Duy Anh, GS.
Cao Xuân Huy, GS. đều có những điểm chung khi nghiên cứu về con người Việt Nam và GDĐĐ ở nhà trường chúng ta hiện nay. Đặc biệt, chương trình khoa học cấp nhà nước KX – 07 thuộc nhóm nghiên cứu của GS.TS Nguyễn Quang Uẩn, GS.VS Phạm Minh Hạc đã tập trung nghiên cứu về con người Việt Nam trong bối cảnh xã hội chuyển sang nền kinh tế thị trường, mở cửa, đổi mới đã xác định đặc trưng nhân cách con người Việt Nam dựa trên quy mô khảo sát lớn; Các tác giả như GS. Hoàng Đức Nhuận, PGS.TS Phạm Khắc Chương đã có nhiều đóng góp về lý luận đạo đức và GDĐĐ trong nhà trường hiện nay.
Cũng nghiên cứu về công tác GDĐĐ cho HS, tác giả Lê Trung Trấn, Nguyễn Dục Quang đề nghị cần phải đổi 16 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com mới hoạt động GDĐĐ theo nguyên tắc phù hợp với sự phát triển mới của xã hội, có hệ thống, tiếp cận phức hợp xuất phát từ học sinh. Công cuộc đổi mới ở nước ta hiện nay đòi hỏi phải coi trọng nhân tố con người, coi trọng tài năng, sức khoẻ và phẩm chất đạo đức, chăm lo GD thế hệ trẻ, nhất là HS, SV đáp ứng nhu cầu những giai đoạn phát triển mới của đất nước. Đó là nhiệm vụ của toàn xã hội và việc quản lý phối hợp giữa nhà trường với gia đình và xã hội là một nguyên tắc cơ bản đảm bảo sự thành công của công tác GD. Nghiên cứu về QLGD luôn được các học giả trong và ngoài ngành GD quan tâm, các công trình nghiên cứu GD của các nhà khoa học hàng đầu Việt Nam như: “Cơ sở khoa học quản lý giáo dục” của tác giả PGS.
Nguyễn Minh Đạo, “Những khái niệm cơ bản về quản lý giáo dục” của tác giải GS. Nguyễn Ngọc Quang, “Quản lý, quản lý giáo dục tiếp cận từ những mô hình” của tác giả PGS. Đặng Quốc Bảo, “Lý luận quản lý giáo dục” của tác giả GS. Nguyễn Thị Mỹ Lộc.thực sự là những công trình nghiên cứu đầu ngành và căn bản về QLGD, mang lại những hiệu quả nhất định cho công tác QLGD nói chung và công tác trong QL nhà trường nói riêng.
Thông báo kết luận 242-TB/TW ngày 15/4/2009 của Ban Chấp hành TW thông báo kết luận của Bộ Chính trị về tiếp tục thực hiện Nghị quyết TW 2 (khoá VIII) và phương hướng phát triển giáo dục đào tạo đến năm 2020 khi nói về vấn đề yếu kém của giáo dục đào tạo đã nêu: “Việc GD tư tưởng đạo đức, lối sống, về truyền thống văn hoá, lịch sử dân tộc, về Đảng, về quyền lợi và nghĩa vụ cho HS, sinh viên chưa được chú ý đúng mức cả về nội dung và phương pháp; GD phổ thông mới chỉ quan tâm nhiều đến “dạy chữ”, chưa quan tâm đúng mức đến “dạy người”, kỹ năng sống và “dạy nghề cho thanh niên”. Thực tế hiện nay, mọi gia đình đều mong muốn con em mình học đến nơi đến chốn, cố gắng tạo điều kiện cho con em học tập. Tuy nhiên, cũng còn tồn tại một bộ phận không nhỏ các gia đình ít quan tâm, thậm chí không quan tâm việc GD con em. Về phía xã hội, mọi người đều mong muốn có những công dân tốt, không vi phạm đạo đức, kỷ luật, sống và làm việc theo hiến pháp và pháp luật.
Bộ GD&ĐT 17 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com có cuộc vận động “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực”. Tuy nhiên việc phối hợp giữa nhà trường – gia đình – xã hội còn nhiều lúng túng, cần phải tiếp tục nghiên cứu. Chính vì vậy, trong những năm qua đã có nhiều tác giả nghiên cứu sự kết hợp giữa nhà trường với gia đình và xã hội nhằm nâng cao chất lượng giáo dục cho HS như đề tài nghiên cứu khoa học của GS.Hà Thế Ngữ, GS. Nguyễn Đức Minh, GS Đặng Vũ Hoạt, PGS Hà Nhật Thăng, GS.
Nguyễn Quang Uẩn đã đề cập đến vai trò hết sức quan trọng của sự phối hợp giữa gia đình và nhà trường với xã hội để nâng cao hiệu quả GD cho HS từ những năm 80 của thế kỷ XX. Vào những năm 90 của thế kỷ XX phải kể đến một công trình nghiên cứu Mô hình liên kết các lực lượng GD của Thành uỷ Hà Nội do tập thể các GS, PGS như Hà Nhật Thăng, Đặng Vũ Hoạt, Nguyễn Quang Uẩn phụ trách tiến hành trong 5 năm (1985 - 1990) với mục tiêu tổ chức, chỉ đạo liên kết các lực lượng nhằm xây dựng môi trường GD ở các cấp từ thành phố xuống cộng đồng dân cư. Những năm gần đây đã có một số công trình nghiên cứu của “Trung tâm nghiên cứu GDĐĐ công dân” của Viện khoa học giáo dục Việt Nam, một số luận văn, luận án.Những công trình trên chủ yếu tập trung phân tích ý nghĩa, yêu cầu của việc liên kết các lực lượng xã hội nhằm thực hiện chương trình hoạt động GD ngoài giờ lên lớp ở trường phổ thông, ở một góc độ nào đó các công trình ấy đã đề cập đến vấn đề quản lý phối hợp, nhưng chưa bàn cụ thể xác định các biện pháp quản lý GDĐĐ cho HS THPT. Trong công tác QL của ngành GD, ngày 23 tháng 12 năm 2008, Bộ trưởng Bộ GD&ĐT đã ban hành Chỉ thị số 71/2008/CT-BGDĐT về tăng cường phối hợp nhà trường với gia đình và xã hội trong công tác giáo dục trẻ em, học sinh, sinh viên.
Để triển khai chỉ thị của Bộ trưởng Bộ GD & ĐT và trước thực tế về tình hình GDĐĐ của HS hiện nay, đã có nhiều hội nghị, hội thảo được tổ chức và đã đưa ra những giải pháp để phối hợp giữa nhà trường với gia đình và xã hội nhằm nâng cao hiệu quả của công tác GDĐĐ cho HS. Ngày 26 tháng 11 năm 2009, Bộ GD & ĐT đã tổ chức Hội thảo khoa học “Về giải pháp nâng cao hiệu quả công tác GDĐĐ, lối sống, phòng chống tội phạm, bạo lực trong học sinh phổ thông”. Hội 18 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.