Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG PHÁT TRIỂN NGÔN NGỮ CHO TRẺ MẪU GIÁO 5-6 TUỔI THEO HƯỚNG GIÁO DỤC LẤY TRẺ LÀM TRUNG TÂM Ở TRƯỜNG MẦM NON 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề Ngôn ngữ là chức năng tâm lý cấp cao của con người, là công cụ để tư duy, để giao tiếp, là chìa khoá để con người nhận thức và chiếm lĩnh kho tàng tri thức của dân tộc và nhân loại. Với mỗi cá nhân, sự phát triển ngôn ngữ diễn ra cực kỳ nhanh ở giai đoạn từ 0 - 6 tuổi (lứa tuổi mầm non). Từ chỗ sinh ra chưa có ngôn ngữ, đến cuối 6 tuổi - chỉ một khoảng thời gian rất ngắn so với cả một đời người, trẻ đã có thể sử dụng thành thạo tiếng mẹ đẻ trong sinh hoạt hàng ngày.
Đây chính là giai đoạn phát cảm về ngôn ngữ. Ở giai đoạn này nếu không có những điều kiện thuận lợi cho sự phát triển ngôn ngữ thì sau này khó có thể phát triển tốt được. Chính vì vậy ngôn ngữ nói chung và ngôn ngữ của trẻ trước tuổi học là vấn đề được nhiều nhà khoa học trên thế giới và trong nước quan tâm nghiên cứu. Trên thế giới Vấn đề ngôn ngữ đã được đề cập đến ngay từ thời cổ đại.
Nhưng thời cổ đại người ta nghiên cứu ngôn ngữ không tách khỏi triết học và lôgíc học. Các nhà triết học cổ đại đã coi ngôn ngữ như là một hình thức biểu hiện bề ngoài của cái bên trong là "logos", tinh thần, trí tuệ của con người. Trong cuốn "Triết học DESCARTES”, Descartes đã chỉ ra những đặc tính chủ yếu của ngôn ngữ và lấy đó làm tiêu chí phân biệt con người, khác với động vật. Ông đã nhấn mạnh tính chất của ngôn ngữ, cái tín hiệu duy nhất ấy chắc chắn là của một tư duy tiềm tàng trong cơ thể và kết luận rằng "Có thể lấy ngôn ngữ làm chỗ khác nhau thực sự giữa con người và con vật” [7].
Chỉ đến giữa thế kỷ 19 khuynh hướng tâm lý học mới nảy sinh trong ngôn ngữ học. Người đầu tiên sáng lập ra trường phái ngôn ngữ học tâm lý là Shteintal (1823 - 1899). Ông đã đưa ra học thuyết ngôn ngữ là sự hoạt động của cá nhân và sự phản ánh tâm lý dân tộc. Theo ông, ngôn ngữ học phải dựa vào tâm lý cá nhân trong khi nghiên cứu ngôn ngữ cá nhân, phải dựa vào tâm lý dân tộc trong khi nghiên cứu ngôn ngữ của dân tộc.
6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Sau cách mạng tháng Mười Nga 1917, các nhà ngôn ngữ học, tâm lý học Xô Viết đã vận dụng quan điểm của Mác - Lênin vào hoạt động nghiên cứu ngôn ngữ đó là: xem xét ngôn ngữ với tư cách là một hiện tượng xã hội. Ngôn ngữ thể hiện các mối quan hệ giữa con người với con người được quy định bởi những điều kiện cụ thể của thời kỳ lịch sử nhất định. Ngôn ngữ là hiện thực trực tiếp của tư duy và là phương tiện giao tiếp chủ yếu của con người [23]. Với quan điểm này có thể kể đến: L.
Họ đã đi vào nghiên cứu tính chất xã hội của ngôn ngữ, về mối quan hệ giữa ngôn ngữ và tư duy, sự phụ thuộc qua lại giữa các thuộc tính của ngôn ngữ.Vygotxki trong cuốn "Tư duy và ngôn ngữ” đã lập luận rằng hoạt động tinh thần của con người chính là kết quả học tập mang tính xã hội chứ không phải là một học tập chỉ là của cá thể. Theo ông, khi trẻ em gặp phải những khó khăn trong cuộc sống, trẻ tham gia vào sự hợp tác của người lớn và bạn bè có năng lực cao hơn, những người này giúp đỡ trẻ và khuyến khích trẻ. Trong mối quan hệ hợp tác này, quá trình tư duy trong một xã hội nhất định được chuyển giao sang trẻ. Do ngôn ngữ là phương thức đầu tiên mà qua đó, con người trao đổi các giá trị xã hội, L.Vygotxki coi ngôn ngữ là vô cùng quan trọng đối với sự phát triển của tư duy [21].
Leusina đã tiến hành nghiên cứu sự phát triển ngôn ngữ mạch lạc của trẻ mẫu giáo và đi đến kết luận: Không phải là từ mà là câu và ngôn ngữ mạch lạc là đơn vị của ngôn ngữ như một phương tiện giao tiếp. Trẻ càng lớn tính hoàn cảnh của ngôn ngữ càng giảm dần chuyển sang hình thức nói mạch lạc gắn chặt với sự lĩnh hội của vốn từ, lĩnh hội hệ thống ngữ pháp của tiếng mẹ đẻ [28]. Rubinxtêin cho rằng: Điều cơ bản trong phát triển lời nói mạch lạc cho trẻ là chỉnh sửa và hoàn thiện kỹ năng sử dụng lời nói như một phương tiện giao tiếp. Phát triển vốn từ cũng như việc nắm vững các hình thức ngữ pháp đã ảnh hưởng đến lời nói mạch lạc ở từng thời điểm nhất định [28].
Ở Việt Nam Ngành học Mầm non đang ngày càng khẳng định tầm quan trọng và vị trí trong hệ thống giáo dục quốc dân và thu hút được sự quan tâm của Đảng nhà nước trong việc đầu tư chăm lo cho giáo dục mầm non (GDMN). 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Để giáo dục mầm non phát triển một cách vững bền, người hiệu trưởng ở các cơ sở cần có tinh thần trách nhiệm cao, năng lực quản lý và tổ chức các mặt hoạt động phù hợp với điều kiện có được của cơ sở giáo dục do mình phụ trách. Nội dung chăm sóc giáo dục trẻ trong trường mầm non đã được quán triệt trong chương trình Giáo dục mầm non được ban hành theo Thông tư số 01/VBHN- BGDĐT ra ngày 24 tháng 01 năm 2017 của Bộ GD&ĐT ban hành Chương trình giáo dục mầm non gồm 4 yêu cầu: Giáo dục cho trẻ phát triển thể chất, giáo dục cho trẻ phát triển về nhận thức, giáo dục cho trẻ phát triển về ngôn ngữ và giáo dục cho trẻ phát triển tình cảm, kỹ năng xã hội và phát triển thẩm mỹ. Việc giáo dục phát triển cho trẻ về ngôn ngữ là một trong bốn yêu cầu của bậc học để trẻ có thể phát triển hài hòa, do vậy việc nghiên cứu ngôn ngữ của trẻ em lứa tuổi mầm non (0 - 6 tuổi) cũng được rất nhiều tác giả trong nước quan tâm và tiếp cận sâu ở từng góc độ khác nhau trong sự phát triển ngôn ngữ của trẻ.
Có thể kể đến các xu hướng nghiên cứu sau: Vốn từ, khả năng hiểu từ, ngữ pháp của trẻ em ở các độ tuổi khác nhau có các công trình nghiên cứu của Dương Diệu Hoa (1985), Nguyễn Minh Huệ (1989), Hồ Minh Tâm (1989),. Chẳng hạn Lưu Thị Lan (1996) trong công trình nghiên cứu "Những bước phát triển ngôn ngữ trẻ em từ 1 - 6 tuổi” đã chỉ rõ các bước phát triển về ngữ âm của trẻ em Việt nam bắt đầu từ giai đoạn tiền ngôn ngữ (0 - 1 tuổi), giai đoạn ngôn ngữ (1 - 6 tuổi), về mặt ngữ âm có những bước tiến dài đặc biệt là giai đoạn 4 - 6 tuổi. Các bước phát triển về từ vực được tác giả thống kê từng lứa tuổi với số lượng từ tối thiểu và số lượng từ tối đa. Từ 18 tháng tuổi trở đi trẻ có sự nhảy vọt về số lượng từ và yếu tố văn hoá, xã hội ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển vốn từ của trẻ.
Các bước phát triển về ngữ pháp trong ngôn ngữ của trẻ em Việt Nam được tác giả nghiên cứu rất cụ thể từng lứa tuổi. Nhìn chung vấn đề ngôn ngữ trẻ em được các nhà khoa học quan tâm nghiên cứu ở nhiều mặt, nhiều lứa tuổi khác nhau. Có nghiên cứu về cấu trúc đặc biệt của ngôn ngữ, có nghiên cứu về yếu tố ảnh hưởng tác động đến quá trình hình thành và phát triển ngôn ngữ, một số nghiên cứu khác lại nghiên cứu biện pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ. Tuy nhiên, ở Việt Nam các công trình nghiên cứu đi sâu vào việc nâng cao hiệu quả phát triển ngôn ngữ nhất là cấp 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com học mầm non không nhiều mới tập trung nhiều vào lứa tuổi nhà trẻ, ít đi sâu vào nghiên cứu ngôn ngữ của lứa tuổi 5 - 6 tuổi, ngoài ra vấn đề nâng cao hiệu quả công tác quản lý hoạt động chăm sóc, giáo dục của các trường mầm non, nhất là quản lý hoạt động phát triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi theo quan điểm giáo dục lấy trẻ làm trung tâm cần được quan tâm.
Trong luận văn này, với phạm vi đề tài nghiên cứu biện pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ 5 - 6 tuổi theo quan điểm giáo dục lấy trẻ làm trung tâm với hy vọng góp một phần nhỏ vào việc chuẩn bị tốt cho trẻ vào học ở lớp 1. Một số khái niệm cơ bản 1. Quản lý Quản lý là một chức năng lao động xã hội bắt nguồn từ tính chất xã hội của lao động. Theo Từ điển Giáo dục học: ‘‘Quản lý là tổ chức và điều khiển các hoạt động theo những yêu cầu nhất định’’ [32].
Sự cần thiết của quản lý được C. Mac viết: “Tất cả mọi lao động trực tiếp hay lao động chung nào tiến hành trên qui mô tương đối lớn, thì ít nhiều cũng cần đến một sự chỉ đạo để điều hoà những hoạt động cá nhân…. Một người độc tấu vĩ cầm riêng lẻ tự mình điều khiển lấy mình, còn một dàn nhạc thì cần phải có nhạc trưởng. Mac đã chỉ ra bản chất quản lý là một hoạt động lao động để điều khiển lao động, một hoạt động tất yếu quan trọng trong quá trình phát triển của xã hội loài người.
Quản lý trở thành một hoạt động phổ biến, mọi nơi, mọi lúc, mọi lĩnh vực, mọi cấp độ và có liên quan đến mọi người. Tác giả Harold Koontz cho rằng: “Quản lý là một yếu tố cần thiết để đảm bảo phối hợp những nỗ lực cá nhân”. Do vậy quản lý với tư cách thực hành thì nó là nghệ thuật, còn kiến thức có tổ chức làm cơ sở cho nó có thể coi như là một khoa học [13, Tr. Theo tác giả Đặng Quốc Bảo, “Hoạt động quản lý là hoạt động bao gồm hai quá trình “quản” và “lý” tích hợp vào nhau; trong đó, “quản” có nghĩa là duy trì và ổn định hệ, “lý” có nghĩa là đổi mới hệ” [1, Tr.
Từ những khái niệm trên có thể hiểu một cách khái quát: Quản lý là một quá trình tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý tới khách thể quản lý trong một tổ chức, nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích đã đề ra. 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.