Tổng quan nghiên cứu

Cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đang thúc đẩy mạnh mẽ quá trình chuyển đổi số trong giáo dục đại học trên quy mô toàn cầu. Theo báo cáo của Liên minh Châu Âu về Kế hoạch hành động giáo dục số giai đoạn 2021 - 2027, việc hình thành hệ sinh thái học tập số và nâng cao năng lực công nghệ cho người học là điều kiện tiên quyết để thích ứng với thị trường lao động hiện đại. Đáng chú ý, các báo cáo phân tích của khối ASEAN chỉ ra rằng Việt Nam chịu tác động việc làm mạnh mẽ từ tự động hóa và công nghệ số, với khoảng 70% người lao động ở các ngành nghề cơ bản phải đối mặt với nguy cơ thay đổi phương thức làm việc. Trước bối cảnh đó, Nghị quyết số 52-NQ/TW năm 2019 của Bộ Chính trị và Chiến lược quốc gia phát triển Chính phủ số giai đoạn 2021 - 2025 định hướng đến năm 2030 đã đặt ra yêu cầu cấp thiết về việc phổ cập kỹ năng số và đổi mới căn bản phương thức đào tạo đại học.

Tại các cơ sở đào tạo vùng miền núi phía Bắc, việc chuẩn bị kỹ năng số cho sinh viên ngành sư phạm mang ý nghĩa chiến lược đối với việc nâng cao chất lượng giáo dục vùng cao. Phân hiệu Đại học Thái Nguyên tại tỉnh Hà Giang đã chủ động đầu tư nâng cấp hạ tầng mạng và tích hợp công nghệ vào giảng dạy. Tuy nhiên, năng lực số của sinh viên tại đây vẫn bộc lộ nhiều điểm hạn chế, đặc biệt là kỹ năng xử lý thông tin học thuật chuyên sâu và khả năng bảo đảm an toàn trên không gian mạng.

Đề tài luận văn thạc sĩ chuyên ngành Quản lý giáo dục của tác giả Cự Minh Sơn tập trung giải quyết bài toán: Làm thế nào để quản lý và tổ chức phát triển năng lực số cho sinh viên một cách đồng bộ và hiệu quả trong điều kiện đặc thù của một phân hiệu vùng cao. Nghiên cứu xác định rõ mục tiêu hệ thống hóa cơ sở lý luận, khảo sát thực trạng năng lực số của 225 sinh viên sư phạm cùng 32 cán bộ quản lý và giảng viên, từ đó đề xuất 6 biện pháp quản lý khoa học. Phạm vi nghiên cứu được thực hiện từ tháng 2/2025 đến tháng 9/2025 tại tỉnh Hà Giang. Kết quả nghiên cứu góp phần cung cấp hệ thống giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý đào tạo, hướng tới mục tiêu gia tăng tối thiểu 25% chỉ số thành thạo công nghệ số của sinh viên trước khi tốt nghiệp.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng dựa trên sự tích hợp có chọn lọc của ba mô hình lý thuyết quốc tế và văn bản quy phạm pháp luật trong nước:

Thứ nhất là Khung năng lực số châu Âu DigComp phiên bản 2.2 do Ủy ban Châu Âu phát triển, kết hợp cùng Khung năng lực số toàn cầu của UNESCO năm 2018. Mô hình này chuẩn hóa năng lực số qua các lĩnh vực then chốt: thông tin dữ liệu, giao tiếp hợp tác, sáng tạo nội dung, an toàn số và giải quyết vấn đề kỹ thuật.

Thứ hai là mô hình kiến thức sư phạm công nghệ nội dung TPACK của Koehler và Mishra năm 2009. Mô hình này làm sáng tỏ mối liên hệ biện chứng giữa năng lực công nghệ của giảng viên với việc thiết kế môi trường học tập tương tác nhằm phát triển kỹ năng cho người học.

Thứ ba là Khung năng lực số cho người học ban hành kèm theo Thông tư số 02/2025/TT-BGDĐT của Bộ Giáo dục và Đào tạo, phân định 6 miền năng lực và 24 năng lực thành phần tương ứng với 8 bậc thành thạo.

Luận văn làm rõ 5 khái niệm cốt lõi: sinh viên đại học, năng lực số, năng lực số của sinh viên, phát triển năng lực số và quản lý phát triển năng lực số. Trên cơ sở đó, tác giả thiết lập khung năng lực số chuyên biệt cho sinh viên sư phạm gồm 6 tiêu chuẩn và 36 tiêu chí định lượng: năng lực tra cứu, đánh giá và xử lý thông tin số; năng lực tư duy phản biện và giải quyết vấn đề với công nghệ số; năng lực giao tiếp, hợp tác học thuật trong môi trường số; năng lực sáng tạo nội dung học thuật số; năng lực đảm bảo an toàn, đạo đức và bản quyền số; năng lực học tập suốt đời và thích nghi công nghệ số.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu kết hợp chặt chẽ giữa phương pháp nghiên cứu lý luận và phương pháp nghiên cứu thực tiễn nhằm bảo đảm độ tin cậy khoa học:

Về quy mô và kỹ thuật chọn mẫu: Tác giả áp dụng phương pháp chọn mẫu phân tầng có chủ đích. Quá trình khảo sát thử nghiệm được tiến hành trên 30 khách thể gồm 10 cán bộ quản lý, giảng viên và 20 sinh viên. Khảo sát thực tiễn chính thức được triển khai trên tổng số 257 khách thể tại Khoa Sư phạm, bao gồm 4 cán bộ quản lý, 28 giảng viên cùng chuyên viên và 225 sinh viên đại học chính quy. Ngoài ra, tác giả thực hiện phỏng vấn sâu đối với 33 cá nhân tiêu biểu gồm 6 cán bộ quản lý, 10 giảng viên, 2 chuyên viên kỹ thuật và 15 sinh viên nhằm thu thập dữ liệu định tính.

Về phương pháp phân tích: Dữ liệu điều tra bằng bảng hỏi được làm sạch và xử lý trên phần mềm SPSS phiên bản 27. Lý do lựa chọn hệ thống phân tích này là nhằm kiểm định tính nhất quán nội tại thông qua hệ số Cronbach's Alpha, đo lường các giá trị thống kê mô tả như điểm trung bình và độ lệch chuẩn, đồng thời phân tích tương quan phi tham số Spearman giữa tính cấp thiết và tính khả thi của các giải pháp. Các hệ số Cronbach's Alpha của các thang đo trong luận văn đều đạt giá trị trên 0.82, khẳng định công cụ đo lường đạt độ tin cậy rất cao. Toàn bộ tiến trình khảo sát và thu thập dữ liệu được hoàn thành trong khung thời gian từ tháng 2/2025 đến tháng 9/2025.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Kết quả phân tích thống kê định lượng và đối sánh định tính mang lại 4 phát hiện thực tiễn quan trọng:

Thứ nhất, mức độ thành thạo năng lực số tổng thể của sinh viên sư phạm tại phân hiệu còn ở ngưỡng trung bình, với điểm đánh giá trung bình chung đạt 3.12 trên thang điểm 5.00. Trong đó, tiêu chuẩn tra cứu và khai thác thông tin số đạt điểm cao nhất với mức 3.65, thể hiện qua việc 78.2% sinh viên sử dụng thành thạo Google Scholar để tìm kiếm tài liệu. Ngược lại, tiêu chuẩn sáng tạo nội dung học thuật số và lập trình, bảo vệ bản quyền đạt mức thấp nhất, chỉ dừng lại ở 2.68 điểm. Có tới 61.3% sinh viên thừa nhận gặp lúng túng khi xử lý số liệu nghiên cứu bằng phần mềm SPSS hoặc trích dẫn khoa học tự động bằng phần mềm Mendeley.

Thứ hai, tồn tại độ lệch đáng kể giữa nhận thức và mức độ thể chế hóa trong quản lý đào tạo. Dữ liệu khảo sát ghi nhận 88.5% cán bộ quản lý và giảng viên đánh giá việc nâng cao năng lực số là mục tiêu mang tính sống còn. Dù vậy, chỉ có 32.4% đề cương học phần chuyên ngành thực sự tích hợp chuẩn đầu ra về công nghệ số, và nhà trường chưa thiết lập được môn học độc lập về năng lực số dành riêng cho khối sư phạm.

Thứ ba, rào cản kỹ thuật và hạ tầng công nghệ tạo ra thách thức lớn tại địa bàn nghiên cứu. Có 64.2% sinh viên và 53.6% giảng viên phản ánh rằng chất lượng đường truyền internet không ổn định và sự thiếu hụt tài khoản truy cập vào các cơ sở dữ liệu học thuật quốc tế bản quyền là rào cản lớn nhất đối với việc triển khai mô hình học tập trực tuyến.

Thứ tư, kết quả khảo nghiệm tính cấp thiết và tính khả thi của 6 biện pháp quản lý cho thấy sự đồng thuận rất cao từ các chuyên gia. Hệ số tương quan Spearman đạt mức r = 0.86 với mức ý nghĩa thống kê p < 0.01, chứng minh tính tương thích chặt chẽ giữa nhu cầu thực tiễn và khả năng hiện thực hóa các giải pháp.

Thảo luận kết quả

Thực trạng năng lực số của sinh viên tại Phân hiệu Hà Giang phản ánh trung thực bối cảnh giáo dục vùng cao. Sự chênh lệch giữa kỹ năng khai thác thông tin cơ bản và kỹ năng sáng tạo số chuyên sâu bắt nguồn từ việc sinh viên chủ yếu tiếp cận công nghệ thông qua các thiết bị di động cá nhân cho mục đích giải trí và giao tiếp xã hội, thay vì được đào tạo bài bản về các ứng dụng học thuật.

Dữ liệu nghiên cứu có thể được trực quan hóa rất hiệu quả thông qua một biểu đồ cột nhóm thể hiện sự so sánh giữa nhận thức của cán bộ quản lý và năng lực thực tế của sinh viên qua 6 tiêu chuẩn, kết hợp cùng một bảng ma trận thể hiện tương quan Pearson giữa mức độ đầu tư cơ sở hạ tầng với kết quả học tập số.

Khi so sánh với các nghiên cứu trước đây tại Việt Nam, kết quả này hoàn toàn tương đồng với phát hiện của Mai Anh Thơ năm 2023 tại các trường đại học ở Thành phố Hồ Chí Minh và nghiên cứu của Nguyễn Ngọc Nam năm 2023 tại Đại học Huế. Cả hai công trình đều chỉ ra rằng sinh viên đại học thường yếu ở kỹ năng tạo lập nội dung số, hiểu biết bản quyền và an toàn thông tin mạng. Tuy nhiên, điểm khác biệt mang tính đặc thù tại Phân hiệu Hà Giang là mức độ ảnh hưởng của điều kiện kinh tế - xã hội vùng sâu vùng xa, nơi hạ tầng mạng nội bộ và số lượng phòng thực hành công nghệ còn thiếu thốn khoảng 35% so với nhu cầu thực tế. Phát hiện này khẳng định công tác quản lý không thể chỉ dừng lại ở các chỉ thị hành chính mà phải đi đôi với việc đầu tư nguồn lực vật chất và đổi mới phương thức kiểm tra đánh giá.

Đề xuất và khuyến nghị

Trên cơ sở phân tích thực trạng và kiểm định tương quan thống kê, luận văn đề xuất 4 nhóm giải pháp quản lý đồng bộ:

Thứ nhất, tổ chức bồi dưỡng năng lực số chuyên sâu cho 100% cán bộ quản lý, giảng viên và chuyên viên. Mục tiêu cụ thể là đến quý 2/2026, toàn bộ giảng viên đạt chuẩn năng lực ứng dụng mô hình TPACK và thành thạo việc khai thác các nền tảng trí tuệ nhân tạo tạo sinh trong thiết kế bài giảng. Ban Giám đốc Phân hiệu giữ vai trò chỉ đạo trực tiếp, Trung tâm Công nghệ thông tin chủ trì xây dựng 3 chuyên đề tập huấn định kỳ mỗi học kỳ.

Thứ hai, chỉ đạo tái cấu trúc chương trình đào tạo và bổ sung các học phần chuyên biệt về công nghệ giáo dục. Mục tiêu trong năm học 2025 - 2026, Phòng Quản lý đào tạo phối hợp với Khoa Sư phạm hoàn thành việc tích hợp chuẩn đầu ra năng lực số vào 100% đề cương chi tiết học phần, đồng thời đưa học phần Ứng dụng công nghệ số trong dạy học với thời lượng 2 tín chỉ vào khung chương trình bắt buộc.

Thứ ba, đa dạng hóa phương thức dạy học theo mô hình kết hợp Blended Learning và lớp học đảo ngược. Mục tiêu đạt tối thiểu 35% thời lượng các môn học được vận hành trên hệ thống quản lý học tập số LMS, yêu cầu 100% sinh viên nộp sản phẩm học tập định dạng số như bài giảng điện tử, infographic và video học thuật. Giảng viên các bộ môn chịu trách nhiệm trực tiếp thiết kế các nhiệm vụ học tập trực tuyến này từ học kỳ 1 năm học 2025 - 2026.

Thứ tư, đẩy mạnh huy động nguồn lực nâng cấp hạ tầng công nghệ và không gian số. Mục tiêu hoàn thành trước tháng 12/2025 việc nâng cấp hệ thống wifi phủ sóng toàn khuôn viên với băng thông tối thiểu 300 Mbps, đồng thời xây dựng mới 2 phòng học thông minh đa phương tiện phục vụ rèn luyện nghiệp vụ sư phạm số. Phòng Quản trị thiết bị chủ trì triển khai, kết hợp cùng nguồn vốn đối tác xã hội hóa từ các tập đoàn viễn thông.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nội dung và khung giải pháp của luận văn mang lại giá trị ứng dụng cụ thể cho 4 nhóm đối tượng:

Nhóm thứ nhất là cán bộ quản lý giáo dục đại học và lãnh đạo các phân hiệu vùng khó khăn. Luận văn cung cấp quy trình 4 giai đoạn bao gồm lập kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra đánh giá, giúp lãnh đạo nhà trường xây dựng chiến lược chuyển đổi số đồng bộ, định lượng hóa các mục tiêu quản trị và tối ưu hóa nguồn lực tài chính hạn hẹp.

Nhóm thứ hai là giảng viên giảng dạy tại các trường đại học sư phạm. Công trình gợi mở phương pháp thiết kế học liệu số, quy trình áp dụng mô hình lớp học đảo ngược và cách thức xây dựng tiêu chí đánh giá sản phẩm học thuật số của sinh viên thông qua các công cụ trực tuyến như Google Workspace, Miro và LMS.

Nhóm thứ ba là cán bộ Đoàn Thanh niên và Hội Sinh viên trong các cơ sở giáo dục đại học. Đây là cẩm nang hữu ích để thiết kế các phong trào sinh viên gắn với công nghệ, chẳng hạn như tổ chức cuộc thi thiết kế ấn phẩm truyền thông qua Canva, sáng tạo video giáo dục qua CapCut và quản trị sự kiện bằng bảng tính số Notion.

Nhóm thứ tư là học viên cao học và nghiên cứu sinh thuộc ngành Quản lý giáo dục. Luận văn cung cấp bộ công cụ khảo sát chuẩn hóa với thang đo 36 tiêu chí hành vi, phương pháp luận nghiên cứu trường hợp điển hình và quy trình kiểm định độ tin cậy bằng phần mềm SPSS 27 để kế thừa cho các công trình nghiên cứu cùng chủ đề.

Câu hỏi thường gặp

Khung năng lực số trong luận văn có điểm gì khác biệt so với quy định tại Thông tư số 02/2025/TT-BGDĐT? Khung năng lực của luận văn kế thừa 6 miền năng lực của Thông tư số 02/2025/TT-BGDĐT nhưng được cụ thể hóa thành 36 tiêu chí gắn liền với đặc thù nghiệp vụ sư phạm. Điểm khác biệt lớn nhất là luận văn bổ sung các chỉ số đo lường việc ứng dụng công nghệ để giải quyết bài toán giảng dạy thực tế, như thiết kế bài giảng điện tử và phân tích dữ liệu học sinh, thay vì chỉ đo lường kỹ năng tin học văn phòng thông thường.

Quy mô mẫu khảo sát 257 khách thể có bảo đảm tính đại diện khoa học cho Phân hiệu Hà Giang không? Cỡ mẫu 257 khách thể hoàn toàn bảo đảm độ tin cậy thống kê cao. Mẫu bao quát toàn bộ 32 cán bộ quản lý, giảng viên và 225 sinh viên thuộc Khoa Sư phạm, chiếm trên 85% tổng số sinh viên sư phạm đang theo học tại thời điểm khảo sát. Hơn nữa, việc phỏng vấn sâu bổ sung 33 đối tượng giúp kiểm chứng chéo và bảo đảm tính vững chắc của các kết luận nghiên cứu.

Biện pháp quản lý nào được xác định là then chốt nhất cần ưu tiên thực hiện ngay? Biện pháp bồi dưỡng năng lực số cho đội ngũ giảng viên và nâng cấp hạ tầng mạng được xác định là then chốt nhất, với điểm đánh giá tính cấp thiết đạt 4.58 trên 5.00. Giảng viên đóng vai trò hạt nhân định hướng và tổ chức hoạt động học tập, do đó nếu giảng viên chưa thành thạo công nghệ thì việc đổi mới chương trình đào tạo của sinh viên sẽ không thể đạt hiệu quả.

Làm thế nào để nhà trường giải quyết bài toán kinh phí đầu tư hạ tầng số trong điều kiện ngân sách hạn chế? Luận văn đề xuất cơ chế đẩy mạnh liên kết đào tạo và xã hội hóa giáo dục thông qua việc ký kết hợp tác chiến lược với các doanh nghiệp công nghệ viễn thông lớn. Nhà trường có thể tận dụng các gói tài trợ phần mềm giáo dục miễn phí, thuê dịch vụ hạ tầng đám mây và khai thác hệ thống học liệu mở quốc tế nhằm tiết kiệm tối đa chi phí đầu tư phần cứng ban đầu.

Sinh viên sư phạm vùng cao có thể tự rèn luyện năng lực số bằng những phương thức nào ngoài giờ học chính khóa? Sinh viên có thể chủ động tham gia các khóa học trực tuyến mở như Coursera hay edX, tham gia các câu lạc bộ sáng tạo truyền thông của Đoàn Thanh niên, và tích cực thực hành làm việc nhóm qua Google Docs hoặc Trello. Thống kê thực tế cho thấy những sinh viên thường xuyên nộp sản phẩm học tập dạng video hoặc infographic đạt điểm đánh giá kỹ năng số cao hơn 28% so với nhóm chỉ học lý thuyết.

Kết luận

  • Luận văn đã hệ thống hóa cơ sở lý luận vững chắc về quản lý phát triển năng lực số cho sinh viên đại học dựa trên các khung tham chiếu chuẩn quốc tế và chủ trương chuyển đổi số quốc gia.
  • Nghiên cứu đo lường chính xác thực trạng năng lực số của 225 sinh viên và năng lực quản lý của 32 cán bộ, giảng viên tại Phân hiệu Đại học Thái Nguyên tại tỉnh Hà Giang, chỉ ra điểm nghẽn chính nằm ở khâu sáng tạo nội dung số và tích hợp chương trình đào tạo.
  • Tác giả đã thiết lập bộ công cụ đo lường gồm 6 tiêu chuẩn và 36 tiêu chí với độ tin cậy Cronbach's Alpha đạt trên 0.82, phản ánh chuẩn xác các biểu hiện hành vi công nghệ của người học.
  • Hệ thống 6 biện pháp quản lý được đề xuất có mối tương quan rất cao giữa tính cấp thiết và tính khả thi với hệ số Spearman đạt r = 0.86, bảo đảm tính ứng dụng thực tiễn trong nhà trường.
  • Đề tài đóng góp một mô hình quản lý giáo dục thích ứng, mở ra hướng tiếp cận khoa học cho các cơ sở giáo dục đại học vùng trung du và miền núi trong kỷ nguyên số.

Đóng góp lớn nhất của công trình là cung cấp giải pháp đồng bộ kết hợp giữa nâng cao năng lực sư phạm công nghệ của đội ngũ giảng viên với việc đổi mới phương thức kiểm tra đánh giá sinh viên trên nền tảng số.

Lộ trình triển khai tiếp theo cần được phân kỳ rõ ràng: giai đoạn cuối năm 2025 tập trung hoàn thiện cơ sở hạ tầng kỹ thuật và bồi dưỡng chuyên môn cho đội ngũ cán bộ giảng viên; giai đoạn 2026 - 2027 tiến hành chuẩn hóa 100% chương trình đào tạo tích hợp năng lực số và triển khai đánh giá chuẩn đầu ra diện rộng.

Các nhà quản lý giáo dục, cơ sở đào tạo và giảng viên cần khẩn trương áp dụng ngay hệ thống biện pháp này vào thực tiễn quản lý đào tạo, nhằm chuẩn bị hành trang vững chắc cho thế hệ giáo viên tương lai, góp phần thúc đẩy sự nghiệp đổi mới giáo dục toàn diện tại các địa phương vùng cao.