mở đầu; kết luận và khuyến nghị, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn gồm 3 chƣơng. Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về quản lý phát triển năng lực giao tiếp và hợp tác cho học sinh trung học phổ thông. Chƣơng 2: Thực trạng quản lý phát triển năng lực giao tiếp và hợp tác cho học sinh các trƣờng trung học phổ thông thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh. Chƣơng 3: Các biện pháp quản lý phát triển năng lực giao tiếp và hợp tác cho học sinh các trƣờng trung học phổ thông thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh.
5 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC GIAO TIẾP VÀ HỢP TÁC CHO HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Các nghiên cứu ở nước ngoài Giáo dục là một trong những nhân tố đảm bảo cho sự tồn tại và phát triển bền vững của xã hội, bên cạnh đó giáo dục cũng luôn chịu sự chi phối và tác động lớn của trình độ phát triển xã hội. Sự phát triển của xã hội đã đặt ra yêu cầu lớn cho giáo dục, đòi hỏi từ việc con ngƣời chỉ học tập tri thức đơn thuần đến việc phát triển năng lực toàn diện mà năng lực giao tiếp và hợp tác đƣợc xem là một trong những năng lực quan trọng nhất của con ngƣời trong xã hội hiện đại.
Giao tiếp và hợp tác chính là sự kết nối, tạo ra sự tƣơng tác giữa ngƣời với ngƣời từ đó tạo cơ hội trao đổi và phản ánh về ý tƣởng. Trên thế giới, mỗi một nền giáo dục sẽ có những cách tiếp cận và phát triển năng lực cho học sinh khác nhau, thể hiện trên nhiều góc độ. Song rõ ràng nhất chính là sự thể hiện ở nội dung chƣơng trình học của mỗi quốc gia. Mỗi hệ thống giáo dục có cách tiếp cận khác nhau để nuôi dƣỡng và phát triển tiềm năng của trẻ.
Theo các nghiên cứu thời gian gần đây để phục vụ cho công cuộc đổi mới giáo dục, một số tác giả đã phân tích và đánh giá các chƣơng trình giáo dục và giảng dạy tại các quốc gia lớn trên thế giới nhƣ sau. Ở Mỹ, theo từng cấp học sẽ có những môn học bắt buộc và tự chọn tăng dần. Song đều có hoạt động ngoại khóa và môn học tự chọn rất đa dạng để học sinh có thể lựa chọn nhƣ gồm diễn xuất, cơ thể học, thống kê, khoa học máy tính, gồm tâm lý học, khoa học pháp y, báo chí, hùng biện,… Thông qua đó phát triển năng lực toàn diện cho học sinh. Trong chƣơng trình học cũng yêu cầu phải có sự liên kết và tƣơng tác giữa các học sinh và giữa những môn học với nhau.
Ở Israel, với cấp trung học phổ thông, học sinh tự chọn hƣớng giáo dục cho mình. Để phát triển tối đa năng lực, Các em có thể chọn học ngoại ngữ, hóa 6 học, vật lý, sinh học, âm nhạc, công nghệ sinh học, thiết kế, kịch, tội phạm học, tâm lý học, kinh tế, chế biến rƣợu. Việc tự đƣa ra định hƣớng cho bản thân tạo cho các em một môi trƣờng học tập chuyên biệt và tạo một hệ sinh thái hợp tác với các bạn có cùng đam mê. Ngoài ra, học sinh cũng có thể nhận chứng chỉ kế toán hoặc dịch vụ du lịch song song với bằng tốt nghiệp.
Ở Australia, chú trọng năng lực giao tiếp và hợp tác đƣợc thể hiện rất rõ nét, bắt đầu từ cấp tiểu học, ngoài các môn học cơ bản nhƣ số học, ngôn ngữ bản xứ, giáo dục thể chất, môi trƣờng, sáng tạo, trẻ đƣợc dạy cách phát biểu trƣớc đám đông. Đến trung học phổ thông học sinh đƣợc nghiên cứu những thứ căn bản về nghề nghiệp tƣơng lai, đƣợc giới thiệu các môn nhƣ kế toán, IT, kinh tế. Thời gian học có thể rút ngắn lại, học sinh lớp 11-12 đã đi thực tập ở các công ty để làm quen với công việc, phát triển năng lực hợp tác bằng cách rèn luyện trong môi trƣờng làm việc chuyên nghiệp ở các công ty. Qua một số đất nƣớc có nền giáo dục phát triển nhất có thể thấy, từ chƣơng trình học sẽ giúp cho giáo viên và học sinh quốc gia đó định hình đƣợc phƣơng thức dạy và học phù hợp với yêu cầu phát triển của nền giáo dục và phát triển con ngƣời.
Các nƣớc trên thế giới đặc biệt chú trọng đến năng lực học sinh, hoàn thiện con ngƣời một cách toàn diện nhất. Đội ngũ quản lý đƣợc xây dựng bài bản, nhằm nâng cao chất lƣợng giáo dục theo hƣớng phát triển toàn diện con ngƣời. Các nghiên cứu ở Việt Nam Theo sự phát triển của xã hội, nền giáo dục Việt Nam đã có những bƣớc chuyển mình nhanh chóng và tích cực. Giáo dục trong giai đoạn này đã đáp ứng đƣợc cơ bản nhu cầu học tập ngày càng tăng của nhân dân, đáp ứng đƣợc sự phát triển của xã hội.
Qua những phong trào thi đua, những lần đổi mới chƣơng trình, Việt Nam đã và đang thực hiện đƣợc các mục tiêu lớn trong Chiến lƣợc phát triển giáo dục: nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dƣỡng 7 nhân tài, đặc biệt là sự ban hành của chƣơng trình giáo dục phổ thông tổng thể năm 2018. Với một nội dung chi tiết, cụ thể, hƣớng dẫn cho giáo viên thực hiện hoạt động dạy học chú trọng song song hai vấn đề là đào tạo kiến thức nền và chú ý nâng cao năng lực học sinh. Trong Nghị quyết 88/2014/QH13 của Quốc hội đã nêu rõ: “Đổi mới chương trình, sách giáo khoa giáo dục phổ thông nhằm tạo chuyển biến căn bản, toàn diện về chất lượng và hiệu quả giáo dục phổ thông; kết hợp dạy chữ, dạy người và định hướng nghề nghiệp; góp phần chuyển nền giáo dục nặng về truyền thụ kiến thức sang nền giáo dục phát triển toàn diện cả về phẩm chất và năng lực, hài hoà đức, trí, thể, mĩ và phát huy tốt nhất tiềm năng của mỗi học sinh. Bên cạnh việc định hƣớng đúng thì việc quản lý thực hiện cũng là một yêu cầu quan trọng, là bài toán đặt ra cho các cấp quản lý để làm sao đào tạo năng lực học sinh một cách toàn diện, mà một trong số những năng lực cần có hiện nay của xã hội 4.0 chính là năng lực giao tiếp và hợp tác.
Tuy nhiên, không khó để nhận ra những bất cập trong quá trình thực hiện chƣơng trình giáo dục phổ thông tổng thể - nền tảng cốt lõi cho việc phát triển toàn diện năng lực học sinh với chƣơng trình giáo dục phổ thông hiện hành là chƣơng trình giáo dục 2006. Đổi mới giáo dục đang đƣợc toàn xã hội quan tâm, đƣợc coi là trọng tâm cho sự phát triển của xã hội. Trong đó, việc đổi mới phƣơng pháp dạy học là một trong những nội dung quan trọng nhất trong đổi mới giáo dục phổ thông theo hƣớng hiện đại; điều đó giúp phát huy tính tích cực, chủ động của ngƣời học, giúp ngƣời học đặc biệt là các em học sinh sẽ có nhiều sự sáng tạo và vận dụng kiến thức hơn; cùng với đó sẽ tập trung dạy cách học, cách nghĩ, từ đó khuyến khích nhu cầu tự học, tạo cơ sở để ngƣời học cập nhật và đổi mới tri thức, kĩ năng mềm, phát triển năng lực. 8 Sau khi triển khai thực hiện Nghị quyết số 29-NQ/TW, có thể thấy trong bối cảnh đất nƣớc còn nhiều khó khăn, nguồn lực cả về vật chất nhƣ cơ sở hạ tầng hay về tinh thần nhƣ năng lực của đội ngũ giảng dạy và cán bộ quản lý còn hạn hẹp, song với sự quan tâm, chỉ đạo sát sao của Đảng, Nhà nƣớc, sự nỗ lực của Bộ Giáo dục và Đào tạo đồng hành cùng đội ngũ nhà giáo, cán bộ quản lý, giáo viên và học sinh cả nƣớc cho thấy sự thay đổi trong việc phát triển chƣơng trình chú trọng phát triển năng lực ở nƣớc ta đã có những chuyển biến căn bản cả về chất lƣợng và hiệu quả, đƣợc các tổ chức giáo dục thế giới ghi nhận, đánh giá cao.
Hiện nay, việc triển khai chƣơng trình, sách giáo khoa mới đã và đang đƣợc đƣa vào thực hiện; giáo viên và học sinh có những chuyển biến tích cực khi thực hiện tốt việc đổi mới phƣơng pháp và hình thức dạy học, tăng cƣờng khả năng sáng tạo. Bên cạnh đó là việc đổi mới kiểm tra, đánh giá học sinh theo hƣớng phát triển phẩm chất và năng lực. Song thực tế cho thấy, hiện nay giáo viên còn gặp nhiều lúng túng trong công tác tổ chức dạy học, do nhiều yếu tố, một trong số đó chính là cơ sở vật chất chƣa hoàn thiện và phù hợp với yêu cầu dạy và học phát triển năng lực học sinh, sự liên kết các môn học với nhau còn chƣa chặt chẽ. Điều đó đã đặt ra thách thức cho hoạt động quản lý, làm sao để có thể định hƣớng và phát triển đúng đắn năng lực của học sinh, đặc biệt là năng lực giao tiếp và hợp tác.
Các khái niệm cơ bản của đề tài 1. Quản lý và quản lý giáo dục 1. Quản lý Quản lý là hoạt động xuất hiện từ rất lâu đời, cùng với sự phát triển của xã hội loài ngƣời, hình thành cùng với sự phân công lao động trong xã hội. Hoạt động chỉ huy, điều khiển, kiểm tra, đánh giá chính là hoạt động đặc biệt đƣợc hình thành theo sự phân công lao động và phân hóa xã hội.
Hoạt động đó là hoạt động không thể thiếu trong xã hội kể từ xã hội nguyên thủy, đƣợc 9 gọi chung là hoạt động quản lý. Quản lý ra đời một cách tất yếu khách quan do nhu cầu ổn định trật tự của mọi tổ chức, mọi chế độ xã hội, mọi quốc gia và mọi thời đại. Có thể thấy quản lý gắn liền với tiến trình phát triển của xã hội loài ngƣời, là hoạt động mang tính lịch sử, tính giai cấp, tính dân tộc và tính thời đại. Có rất nhiều quan điểm và cách lý giải khác nhau về quản lý, do đƣợc tiếp cận theo những cách nhất định và thể hiện ở một số quan niệm sau.Taylo (1856 - 1915) “Quản lý là biết được chính xác điều mình muốn người khác làm và sau đó biết được họ làm việc đó có tốt hay không, có rẻ nhất không” [8, tr.” Theo Henri Fayol (1841 - 1925): “Quản lý là quá trình đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng cách vận dụng các hoạt động (chức năng) kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra” [8, tr.
Đây là một quan điểm đƣa ra theo các loại hình quản lý.