mở đầu trong hệ thống giáo dục quốc dân Việt Nam, khâu đầu tiên của quá trình giáo dục thường xuyên cho mọi người. Lứa tuổi mầm non cũng là thời kỳ mà nhân cách bắt đầu được hình thành, tuy chưa hoàn toàn được định hình nhưng đã có cơ sở tương đối ổn định cho việc tiếp tục hoàn thiện và phát triển. Các công trình nghiên cứu về Tâm lý học cho thấy những nét tính cách cơ bản trong nhân phẩm trẻ được hình thành chính trong thời kỳ này và thường ảnh hưởng đến đạo đức mai sau của trẻ. Giáo dục mầm non còn góp phần chuẩn bị cho việc vào trường tiểu học.
Trong thời gian ở trường mầm non, trẻ được chuẩn bị về mọi mặt, thể lực, đạo đức, trí tuệ… đặc biệt được chuẩn bị về các kỹ năng, thói quen cần thiết cho hoạt động học tập là loại hoạt động chủ đạo ở trường phổ thông. Thực tế đã 13 chứng minh những trẻ được qua trường mẫu giáo thì khi vào lớp một tiếp thu nhanh hơn, có những kỹ năng và thói quen học tập cao hơn so với những trẻ không qua học mẫu giáo. Phát triển CTĐT ngành GDMN là quá trình xác định và tổ chức toàn bộ các hoạt động được liệt kê để khẳng định sự đạt được mục tiêu và mong muốn dựa trên một thiết kế hoặc một mô hình hiện hành. Phát triển CTĐT ngành GDMN là một quy trình khép kín, không có bước kết thúc.
Điều quan trọng là mỗi bước phải được giám sát và đánh giá ngay từ đầu. Tuy nhiên trong mỗi bối cảnh khác nhau lại có các bên liên quan khác nhau tham gia phát triển CT như sự tham gia của GV, CBQL, SV, nhà tuyển dụng và chuyên gia phát triển CT. Xuất phát từ khái niệm quản lí và những đặc trưng của vấn đề phát triển CTĐT, tác giả luận văn cho rằng: Quản lí phát triển CTĐT ngành GDMN là sự tác động có ý thức, có chủ đích, có kế hoạch và hợp quy luật của chủ thể quản lí đến việc tổ chức phát triển CTĐT nhằm huy động, điều phối và sử dụng hiệu quả mọi nguồn lực để phát triển CTĐT đáp ứng yêu cầu ngày càng cao về chất lượng ĐT trong môi trường luôn thay đổi. Để đáp ứng yêu cầu nâng cao chất lượng ĐT, quản lí phát triển CTĐT ngành GDMN luôn phải tìm kiếm, nhìn nhận các thông tin phản hồi ở tất cả các khâu về CTĐT để kịp thời điều chỉnh từng khâu của quá trình xây dựng và hoàn thiện CT nhằm không ngừng đáp ứng tốt hơn với yêu cầu ngày càng cao về chất lượng ĐT của xã hội.
Với quan điểm phát triển, yêu cầu quan trọng của công tác xây dựng, phát triển CT cần phải có cái nhìn tổng thể, tiếp cận đặc trưng của phương thức ĐT theo HCTC, thể hiện tính hiện đại, tính mở, bao quát toàn bộ quá trình ĐT, đảm bảo độ mềm dẻo cao khi soạn thảo, thực hiện, đánh giá và điều chỉnh thường xuyên CTĐT. Như vậy: Quản lý hoạt động phát triển chương trình đào tạo ngành Giáo dục Mầm non là những tác động quản lý của chủ thể quản lý đến toàn bộ hoạt động phát triển chương trình đào tạo nhằm huy động tối đa các nguồn lực để 14 thường xuyên hoàn thiện chương trình đào tạo theo hướng cập nhật đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục mầm non và đạt chuẩn đầu ra của chương trình. Quản lý hoạt động phát triển chương trình ngành Giáo dục Mầm non bao gồm các hoạt động quản lý: Quản lý hoạt động làm mới chương trình theo hướng hiện đại, cập nhật đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục mầm non: - Xây dựng và hoàn thiện chuẩn đầu ra. - Thiết kế chương trình hoặc bổ sung các môn học mới.
- Thiết kế đề cương môn học. - Tổ chức hoạt động đào tạo theo chuẩn đầu ra và nội dung chương trình đã xây dựng. - Đánh giá kết quả đào tạo. - Đánh giá chương trình đào tạo và hoàn thiện chương trình.
Một số vấn đề cơ bản về phát triển CTĐT ngành Giáo dục mầm non 1. Một vài nét về CTĐT ngành GDMN ở trường đại học 1.1 Mục tiêu của chương trình đào tạo ngành GDMN Mục tiêu chương trình GDMN là căn cứ để thực hiện quá trình dạy học trong nhà trường, nhằm cung cấp cho học sinh sinh viên những kiến thức cơ bản về việc triển khai và chỉ đạo công tác chăm sóc giáo dục trẻ trong các cơ sở giáo dục mầm non, đồng thời là căn cứ để đào tạo bồi dưỡng giáo viên mầm non, tăng cường cơ sở vật chất và đảm bảo các điều kiện thực hiện Chương trình Giáo dục mầm non có chất lượng. Khi xác định mục tiêu chương trình GDMN, nhà trường cần lưu ý đến khối lượng kiến thức cơ bản, kiến thức cơ sở, chuyên ngành cho học sinh sinh viên, đảm bảo chất lượng đầu ra cho sinh viên, cung cấp các kiến thức cơ bản về sự phát triển thể chất, nhận thức, ngôn ngữ, tình cảm, thẩm mĩ. giúp các em biết vận dụng kiến thức của mình vào quá trình dạy học vào việc chăm sóc, dạy dỗ trẻ.
15 Xác định mục tiêu đào tạo cũng phải phù hợp với nhu cầu phát triển của xã hội nhằm đào tạo nguồn nhân lực có tri thức, có kỹ năng nghề nghiệp và thái độ đúng đắn đối với ngành GDMN. Nội dung chương trình đào tạo ngành Giáo dục mầm non Nội dung chương trình ngành Giáo dục Mầm non gồm các khối kiến thức: - Khối kiến thức giáo dục đại cương. - Khối kiến thức cơ sở ngành. - Khối kiến thức chuyên ngành.
- Thực tập và khóa luận tốt nghiệp hoặc khối kiến thức thay thế khóa luận tốt nghiệp. Trong mỗi nội dung các khối kiến thức trên đều có hai phần: Khối kiến thức bắt buộc và khối kiến thức tự chọn. Yêu cầu giữa các khối kiến thức phải có tỷ lệ cân đối hợp lý theo quy định về chương trình. Các điều kiện thực hiện chương trình đào tạo ngành GDMN Chương trình đào tạo ngành GDMN phải đảm bảo chất lượng ĐT: Đảm bảo các yêu cầu khoa học, cập nhật, thực tiễn, phù hợp yêu cầu người học.
Đáp ứng các quy định về khối lượng kiến thức tối thiểu, yêu cầu về năng lực của người học sau tốt nghiệp, đảm bảo đúng quy trình xây dựng, thẩm định và ban hành; đảm bảo tính thống nhất kiến thức giữa các môn học trong toàn bộ CTĐT; được tổ chức đánh giá định kì, điều chỉnh, cập nhật cho phù hợp với thực tiễn, sự phát triển của ngành và đáp ứng yêu cầu của thị trường lao động. Chương trình đào tạo ngành GDMN phải đảm bảo hiệu quả ĐT: Học phần có tính kế thừa cao, tránh trùng lặp. CT gồm các môn bắt buộc, tự chọn tăng cơ hội lựa chọn cho SV. Xây dựng các học phần tương đương giữa các hệ 16 cùng khối ngành để tạo điều kiện thuận lợi cho người học liên thông giữa các CT, bậc học.
Chương trình đào tạo ngành GDMN đảm bảo hiệu suất ĐT: CT phải xây dựng thành các học phần có thể lắp ghép xây dựng thành các CTĐT khác nhau. Có nhiều học phần dùng chung, đảm bảo tăng cường học chuyên đề lý thuyết chung cho cả khối. Các cách tiếp cận phát triển CTĐT ngành GDMN 1. Tiếp cận mục tiêu (objective approach) Vào giữa thế kỷ 20, cách tiếp cận mục tiêu được sử dụng ở Mỹ.
Theo cách tiếp cận này, CTĐT phải được xây dựng xuất phát từ mục tiêu đào tạo. Dựa vào mục tiêu đào tạo mà người thiết kế chương trình lựa chọn nội dung, phương pháp và cách thức đánh giá kết quả học tập thích hợp. Cách tiếp cận này chú ý đến đầu ra (out put), chú trọng sản phẩm những thay đổi về hành vi của người học về các lĩnh vực kiến thức, kỹ năng, thái độ.Loom đã xây dựng được mục tiêu về các lĩnh vực kiến thức, kỹ năng, thái độ. Cách tiếp cận này coi đào tạo là công cụ để tạo nên các sản phẩm theo các tiêu chuẩn định sẵn.
Mục tiêu đào tạo phải được xây dựng rõ ràng sao cho có thể định lượng được và dùng nó làm tiêu chí để đánh giá hiệu quả của quá trình đào tạo. Với cách tiếp cận mục tiêu có thể chuẩn hóa quy trình xây dựng CTĐT cũng như quy trình đào tạo theo một công nghệ nhất định. Vì thế, có khái niệm “Công nghệ giáo dục” và CTĐT được xây dựng theo kiểu này gọi là “CTĐT kiểu công nghệ”. - Ưu điểm: Mục tiêu đào tạo cụ thể và chi tiết, thuận lợi cho việc đánh giá hiệu quả và chất lượng CTĐT; người dạy và người học biết rõ mình phải làm gì trong quá trình dạy học để đạt mục tiêu; xác định rõ hình thức và phương pháp kiểm tra, đánh giá kết quả học tập; dễ dàng cho việc quản lý hoạt động dạy học.
- Hạn chế: Sản phẩm đào tạo phải đồng nhất ở đầu ra (out put) trong khi nguyên liệu đầu vào (in put) là những con người rất khác nhau; rèn đúc người 17 học theo một khuôn mẫu nhất định làm người học bị thụ động, thiếu tính sáng tạo…; khả năng tiềm ẩn, nhu cầu, sở thích của cá nhân người học không được quan tâm đúng mức; chỉ dừng lại ở một quá trình học tập mà chưa định hướng rõ ràng phương hướng phấn đấu trong tương lai của người học. Tiếp cận nội dung (content approach) Theo cách tiếp cận này: CTĐT ngành GDMN chỉ là bản phác thảo nội dung đào tạo. Đây là cách tiếp cận kinh điển trong việc xây dựng CTĐT, mục tiêu đào tạo chính là nội dung đào tạo, phương pháp dạy học nhằm truyền đạt nội dung dạy học. Như vậy, bản chất của quá trình dạy học là quá trình truyền thụ nội dung dạy học.
- Ưu điểm: Xác định rõ nội dung dạy học, CTĐT chẳng khác gì mục lục của cuốn sách giáo khoa; dễ dàng truyền thụ tri thức sẵn có của người dạy cho người học. - Hạn chế: Do sự phát triển mạnh mẽ của khoa học, kỹ thuật, sự bùng nổ thông tin như vũ bão, kiến thức gia tăng theo cấp số nhân, cách tiếp cận nội dung CTĐT đào tạo không còn phù hợp vì thiếu thời gian học tập trên lớp, người học trở nên thụ động, khó đánh giá được mức độ nông sâu của kiến thức. Tiếp cận phát triển theo định hướng năng lực (developmental approach) Với quan điểm: Giáo dục là một quá trình, mức độ làm chủ bản thân tiềm ẩn ở mỗi người được phát triển một cách tối đa hay nói cách khác, đào tạo theo hướng phát triển (tiếp cận) năng lực của người học. V (1977), “CTĐT là một quá trình và giáo dục là một sự phát triển”.