Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG PHÂN LUỒNG HỌC SINH TRUNG HỌC CƠ SỞ 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu 1. Nghiên cứu trên thế giới Nhật Bản là một trong số các quốc gia phát triển trên thế giới với tỉ lệ người mù chữ thực tế gần như bằng không, số lượng HS (74,1% vào năm 2010) theo học lên đến bậc đại học, cao đẳng và trung cấp đã tạo động lực cho Nhật Bản phát triển thành một nước công nghiệp hiện đại. “Hệ thống giáo dục Nhật Bản hiện nay gồm 9 năm giáo dục bắt buộc (6 năm tiểu học và 3 năm THCS), tiếp theo đó là 3 năm THPT không bắt buộc và 4 năm đại học.
Sau THCS, khoảng 70% HS học tiếp lên THPT để vào đại học, cao đẳng; khoảng 30% HS còn lại đi theo hướng đào tạo nghề” [dẫn theo 13]. Như vậy, nghiên cứu này chỉ ra những trường trung học kỹ thuật bậc cao được Chính phủ Nhật Bản tạo điều kiện về chính sách phát triển, đó là việc thành lập loại hình trường cao đẳng công nghệ đào tạo 5 năm với đối tượng là HS tốt nghiệp THCS. Với chương trình này, HS Nhật Bản được đào tạo qua các khóa đào tạo nghề thông qua liên kết giữa nhà trường và các nhà tuyển dụng địa phương. Hệ thống giáo dục của Trung Quốc bao gồm 3 cấp bậc: bậc tiểu học, bậc trung học và bậc cao (Cao đẳng, đại học và sau đại học), trong đó bậc trung học: gồm THPT và trung học dạy nghề.
Giai đoạn sơ trung và cao trung ở cấp THPT kéo dài 6 năm. Trung học dạy nghề kéo dài 3 năm do 3 loại trường đảm nhiệm là: Trung cấp chuyên nghiệp, công nhân kĩ thuật và dạy nghề. Hiện nay, Trung Quốc đã hình thành thể chế phân luồng giáo dục theo 3 tầng bậc là: phân luồng sau tốt nghiệp tiểu học, phân luồng sau tốt nghiệp sơ trung (THCS) và phân luồng sau tốt nghiệp cao trung (THPT), trong đó phân luồng sau sơ trung là chủ yếu. Với hệ thống giáo dục này, mục tiêu phân luồng sau giáo dục bắt buộc ở Trung Quốc là hai luồng giáo dục phổ thông và GDNN đạt tỉ lệ 1:1 và 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com phát triển theo hướng quy mô GDNN trung cấp lớn hơn giáo dục phổ thông; GDNN và giáo dục phổ thông liên thông với nhau và phát triển hài hòa, đây là hướng phân luồng hoàn toàn phù hợp và thực tiễn cho thấy, phân luồng THCS lên luồng giáo dục phổ thông đã được giảm tải, HS THCS lựa chọn luồng giáo dục nghề nghiệp vào các trường Trung cấp chuyên nghiệp, công nhân kĩ thuật và dạy nghề [dẫn theo 13].
Singapore với hệ thống giáo dục nhằm phát triển cho HS sở thích đặc biệt và năng khiếu đặc biệt, giúp HS thể hiện hết tài năng của bản thân một cách toàn diện nhất. Giáo dục phổ thông và đại học Singapore có rút ngắn thời gian chỉ có 2 năm, trong đó, Singapore chú trọng GDHN [dẫn theo 13]. Như vậy, GDHN được lồng ghép và tích hợp trong các hoạt động giáo dục phù hợp với lứa tuổi từ bậc trung học đến cả bậc học sau phổ thông. GDHN gồm 3 giai đoạn: Nhận thức nghề nghiệp; khám phá nghề nghiệp; kế hoạch thực thi nghề nghiệp nhằm hướng tới xây dựng năng lực tình cảm xã hội giúp HS trở thành chủ động, linh hoạt và dễ thích nghi với môi trường sống.
Hệ thống giáo dục của Hồng Kông được thực hiện với 3 năm mẫu giáo không bắt buộc, sau đó là 6 năm phổ thông cơ sở và 3 năm phổ thông trung học bắt buộc và 2 năm phổ thông cao cấp không bắt buộc để được cấp bằng trung học. Hồng Kông đưa ra 9 lĩnh vực hướng nghiệp là: Khoa học ứng dụng, Quản trị kinh doanh, Dệt may, Du lịch và Dịch vụ khách sạn, Công nghệ thông tin, Điện và Điện tử, Cơ khí,… Thông thường ở cuối cấp THCS, HS thường quyết định chọn theo học 1 chương trình chính khóa và 2 chương trình nghề. GDHN cấp THCS diễn ra đồng thời với chương trình chính khóa trong 4 năm. Nhiều HS đăng ký học chương trình dạy nghề sau tốt nghiệp THCS ở các cơ sở đào tạo có cấp chứng chỉ nghề mặc dù có thể học chương trình này ở các cấp học tiếp theo [dẫn theo18].
Như vậy, kinh nghiệm của Hồng Kông đã chỉ ra: GDHN giúp cho HS hiểu sâu sắc cũng như tự tìm kiếm, khám phá, khai thác và đàm phán các vấn đề liên quan đến nghề nghiệp tương lai; khuyến khích tự tạo việc làm. 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com New Zealand với hệ thống giáo dục trung học được chia thành 4 chương trình khung cấp quốc gia và định hướng nghề nghiệp ở 13 lĩnh vực khác nhau [dẫn theo 21]. Chính định hướng này giúp cho việc phân luồng HS được thực hiện ngay sau cấp THCS; công tác GDHN được thực hiện trong chương trình giáo dục trong nhà trường ngay từ cấp Tiểu học; các GV đều tham gia quá trình hướng nghiệp và đồng thời có đội ngũ chuyên gia được đào tạo bài bản về tư vấn hướng nghiệp cho HS; nhà nước có chính sách khuyến khích và tạo điều kiện cho sự phân luồng; các cơ sở đào tạo nghề, doanh nghiệp tham gia sâu vào hoạt động GDHN trong nhà trường. Ở Cộng hoà Liên bang Đức có mô hình GDNN công - tư kết hợp hay còn gọi tắt là mô hình đào tạo “kép” [dẫn theo 1].
Đây chính là cơ sở tạo nên mô hình phân luồng có hiệu quả. Đây là hệ thống mở và linh hoạt cho tất cả mọi người hoàn thành chương trình giáo dục bắt buộc và dễ dàng chuyển đổi giữa các loại trường và có nhiều lựa chọn để bước vào thế giới nghề nghiệp, tạo cơ hội học tập suốt đời cho người dân. Hơn nữa, hệ thống đào tạo nghề kép này còn thu hút sự tham gia quản lý của tất cả các bên liên quan (Chính phủ, đại diện người lao động, chủ sử dụng lao động và các cơ quan việc làm…). Tổng hợp kết quả nghiên cứu cho thấy: Các nước Châu Á đều chú trọng đến việc tổ chức giáo dục nghề sau THCS, hầu hết các nước phân luồng HS theo hai hướng chính là một bộ phận tiếp tục học lên THPT, một bộ phận chuyển sang 11 học nghề, đó là trung cấp chuyên nghiệp và trung cấp nghề (Nhật Bản, Trung Quốc, Hàn Quốc); Tích hợp các môn hướng nghiệp và giáo dục phổ thông, các môn văn hóa, khoa học kĩ thuật, lao động (Trung Quốc, Philippine); Chú trọng đến năng lực thực hành và nghiên cứu thực tiễn trong hoạt động GDHN (Philippine, Malaysia); Chú trọng đến năng lực thực hành và nghiên cứu thực tiễn trong hoạt động GDHN (Philippine, Malaysia); Quan tâm đến môn học tự chọn sau bậc học THCS (Nhật, Hàn) [dẫn theo 18].
7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Như vậy, các công trình nghiên cứu ở nước ngoài cho thấy, các nước đã nhận thức được tầm quan trọng của phân luồng HS theo hướng học lên THPT và hướng học nghề, trong đó chú trọng đến GDNN cho HS để tạo điều kiện cho phân luồng và phát huy năng lực của HS. Nghiên cứu ở Việt Nam Hồ Văn Thống trong bài viết “Biện pháp phân luồng HS sau tốt nghiệp THCS và trung học phổ thông trên địa bàn tỉnh Đồng Tháp” đã đề xuất một số biện pháp rất cần thiết như: Nâng cao nhận thức về phân luồng HS cho cán bộ quản lý giáo dục và GV, cha mẹ HS và cộng đồng; Đổi mới công tác hướng nghiệp và dạy nghề phổ thông trong các trường THCS và THPT; Nâng cao chất lượng công tác tư vấn hướng nghiệp cho HS; Nâng cao năng lực cho những người làm công tác hướng nghiệp trong nhà trường [22]. Đây là cơ sở để tác giả kế thừa đề xuất các biện pháp trong luận văn. Đặng Danh Ánh trong báo cáo tại Hội thảo về Tư vấn nghề do Đại học quốc gia Hà Nội tổ chức, với bài viết “Tư vấn nghề và phân luồng HS phổ thông sau trung học” [2] đã nhấn mạnh quan hệ giữa hướng nghiệp HS và phân luồng HS theo tinh thần Văn kiện Đại hội IX của Đảng.
Hướng nghiệp và phân luồng HS chính là cầu nối giữa giáo dục phổ thông và GDNN, với giáo dục đại học và việc làm. Nghiên cứu của tác giả đã khẳng định, hướng nghiệp và phân luồng HS và cầu nối giữa người học với thị trường đào tạo và thị trường lao động. Nếu làm tốt công tác hướng nghiệp và phân luồng HS ta sẽ có cơ cấu đào tạo cân đối, dẫn tới cơ cấu nguồn nhân lực hợp lý đủ các cấp trình độ, nền kinh tế phát triển nhanh. Ngô Quang Sơn, Nguyễn Thị Kim Thành trong bài viết “Phân luồng HS ở các trường dân tộc nội trú” đã phân tích những ưu điểm và nhược điểm của việc phân luồng HS, nhận thấy các cấp chính quyền địa phương chưa quan tâm đến tạo điều kiện sử dụng HS tốt nghiệp, việc theo dõi hiệu quả đào tạo chưa sát sao và chưa có thống kê đầy đủ số lượng HS đã tốt nghiệp tại các trường 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com chuyên nghiệp về phục vụ tại địa phương [18].
Đây là cơ sở để tác giả kế thừa đề xuất các biện pháp trong luận văn. Phạm Văn Khanh trong bài viết “Những giải pháp hướng nghiệp và phân luồng HS sau THCS ở đồng bằng sông Cửu Long” đã đưa ra quan điểm về phân luồng HS trong giáo dục, nghiên cứu thực trạng phân luồng HS sau THCS ở đồng bằng sông Cửu Long, từ đó đề xuất các biện pháp như: nhóm giải pháp tác động nhận thức (Huy động phát huy vai trò của nhiều chủ thể tham gia như cơ quan nhà nước, nhà trường, gia đình, doanh nghiệp…); Nhóm giải pháp đầu tư: Tăng kinh phí đầu tư bằng nhiều nguồn khác nhau cho các trường trung cấp, trường cao đẳng nghề…để các trường tạo ra các luồng cân đối, hiệu quả. Đây là cơ sở để tác giả kế thừa đề xuất các biện pháp trong luận văn. Nguyễn Ngọc Thảo (2016), Quản lý hoạt động tư vấn hướng nghiệp theo hướng phân luồng HS sau THCS ở thành phố Việt Trì tỉnh Phú Thọ, đã đề xuất các biện pháp như: Nâng cao nhận thức cho cán bộ, GV, HS, cha mẹ HS và các lực lượng xã hội về vai trò tầm quan trọng của công tác tư vấn hướng nghiệp cho HS THCS; Đổi mới hình thức và phương pháp tư vấn hướng nghiệp… [23].
Đây là cơ sở để tác giả kế thừa đề xuất các biện pháp trong luận văn.