Tổng quan luận án
Vấn đề phát triển đội ngũ giáo viên tiểu học (GVTH) người dân tộc thiểu số (DTTS) tại vùng Tây Bắc được đặt ra từ yêu cầu thực tiễn của sự nghiệp giáo dục và chủ trương đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục - đào tạo theo tinh thần Nghị quyết số 29-NQ/TW và Nghị quyết số 88/2014/QH13. Vùng Tây Bắc là địa bàn có điều kiện tự nhiên hiểm trở, kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, đồng thời là nơi cư trú của nhiều cộng đồng DTTS. Thực trạng giáo dục tiểu học tại đây đối mặt với rào cản bất đồng ngôn ngữ giữa giáo viên và học sinh, khiến tỷ lệ học sinh yếu kém, bỏ học, nguy cơ mù chữ và tái mù chữ còn ở mức cao. Mặc dù đội ngũ GVTH người DTTS bản địa đã phát triển về số lượng, song thực lực sư phạm còn nhiều bất cập, cơ cấu giữa các tộc người thiếu cân đối, năng lực nghề nghiệp chưa đồng đều và chịu tác động tiêu cực từ điều kiện công tác tại các điểm trường lẻ vùng sâu, vùng xa. Khoảng trống nghiên cứu được xác định là sự thiếu vắng các công trình nghiên cứu hệ thống, chuyên sâu về phát triển đội ngũ GVTH người DTTS vùng Tây Bắc tiếp cận theo lý thuyết phát triển nguồn nhân lực gắn với đặc thù đa văn hóa và chuẩn nghề nghiệp giáo viên tiểu học.
Mục đích nghiên cứu của luận án là khảo cứu cơ sở lý luận theo tiếp cận phát triển nguồn nhân lực và đánh giá thực trạng phát triển đội ngũ GVTH người DTTS bản địa vùng Tây Bắc; từ đó đề xuất hệ thống giải pháp phát triển đội ngũ này nhằm đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục và đào tạo.
Giả thuyết khoa học của đề tài được xác định như sau: Nếu đề xuất các giải pháp theo tiếp cận phát triển nguồn nhân lực, chuẩn nghề nghiệp giáo viên phù hợp với đặc thù riêng (tộc người và vùng miền) và yêu cầu đổi mới giáo dục của từng dân tộc/đa dân tộc và văn hóa/đa văn hóa trong cộng đồng các DTTS theo từng vùng, tiểu vùng, tác động đồng bộ vào các khâu cơ bản của quá trình phát triển đội ngũ GVTH người DTTS (quy hoạch; đào tạo và bồi dưỡng; sử dụng; kiểm tra, đánh giá; môi trường giáo dục đa văn hóa và các chế độ chính sách) thì sẽ góp phần phát triển đội ngũ GVTH người DTTS vùng Tây Bắc, đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục và đào tạo, đồng thời đóng góp kinh nghiệm cho các vùng dân tộc thiểu số có điều kiện kinh tế - xã hội tương ứng.
Nhiệm vụ nghiên cứu bao gồm bốn nội dung cụ thể:
- Nghiên cứu cơ sở lí luận về phát triển đội ngũ GVTH người DTTS theo tiếp cận phát triển nguồn nhân lực trong bối cảnh đổi mới giáo dục và đào tạo.
- Đánh giá thực trạng đội ngũ giáo viên và thực trạng phát triển đội ngũ GVTH người DTTS vùng Tây Bắc.
- Đề xuất một số giải pháp phát triển đội ngũ GVTH người DTTS vùng Tây Bắc đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục và đào tạo.
- Khảo sát, thăm dò tính cần thiết, tính khả thi của các giải pháp đề xuất; thử nghiệm một số nội dung của hai giải pháp.
Khách thể nghiên cứu là giáo viên tiểu học và đội ngũ GVTH vùng Tây Bắc. Đối tượng nghiên cứu là quá trình phát triển đội ngũ GVTH người DTTS bản địa vùng Tây Bắc đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục và đào tạo. Phạm vi nghiên cứu xác định chủ thể quản lý trọng tâm là cấp Sở Giáo dục và Đào tạo; địa bàn khảo sát tập trung vào các tỉnh vùng Tây Bắc với các dân tộc thiểu số bản địa chiếm số đông gồm Mường, Mông, Tày, Thái; dữ liệu thực trạng được thu thập trong giai đoạn 3 đến 5 năm học (trọng tâm là năm học 2013-2014); các giải pháp đề xuất định hướng áp dụng từ sau năm 2015.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Tổng quan lịch sử nghiên cứu trong luận án được phân chia theo hai nhóm công trình quốc tế và trong nước:
Ở phạm vi quốc tế, vị trí quyết định của người thầy đối với chất lượng giáo dục được tổng kết qua nghiên cứu của Công ty tư vấn McKinsey (2007) trên 25 hệ thống giáo dục, chỉ ra 3 trụ cột: tuyển đúng người, đào tạo hiệu quả và bảo đảm việc dạy tốt nhất cho mọi trẻ em. Báo cáo của UNESCO và OECD (2001) khuyến nghị chính sách xây dựng đội ngũ giáo viên cho các nước đang phát triển; OECD (2005) nghiên cứu giải pháp thu hút, đào tạo và giữ chân nhà giáo giỏi; UNESCO (2006) phân tích chính sách tuyển dụng, sử dụng, đãi ngộ giáo viên hướng tới mục tiêu giáo dục cho mọi người. Vấn đề năng lực nghề nghiệp giáo viên được các Hội nghị thượng đỉnh quốc tế về nghề dạy học thảo luận tại New York (2011, 2012) và Amsterdam (2013). Về lý thuyết đào tạo, Michel Develay (Pháp) trong tác phẩm "Peut-On former les Enseignants?" nhấn mạnh quan điểm đào tạo lấy người học làm trung tâm. Bernd Meier (2007) trong "Management and leadership education" xác lập hệ thống chuẩn năng lực hạt nhân của người dạy học. Về quản lý nguồn nhân lực, Leonard Nadler (thập niên 1980) đưa ra mô hình phát triển gồm đào tạo, sử dụng và tạo lập môi trường; Christian Batal phân tích nhiệm vụ phát triển nguồn nhân lực trong khu vực công; Paul Hersey và Ken Blanchard ứng dụng khoa học hành vi vào quản trị nhân lực; Michael Fullan và Andy Hargreaves nghiên cứu chu trình phát triển nghề nghiệp và tâm lý của giáo viên; Mishra và Koehler đề xuất khung kiến thức công nghệ, sư phạm và nội dung (TPACK).
Tại Việt Nam, các tác giả đi sâu vào quản lý giáo dục và phát triển nhân lực: Thái Duy Tuyên (Triết học giáo dục Việt Nam) luận giải vai trò chủ đạo của người thầy; Nguyễn Thị Hạnh (2014) khảo cứu kinh nghiệm quốc tế về đào tạo, sử dụng GVTH; Nguyễn Văn Đệ phân tích đào tạo giáo viên theo khuyến nghị của UNESCO; Nguyễn Thị Kim Dung (đề tài B2011-17-CT04) xây dựng khung chuẩn đầu ra nghề nghiệp gồm 5 nhóm năng lực và 30 tiêu chí; Nguyễn Trí nghiên cứu chuẩn hóa đội ngũ GVTH qua các thời kỳ; Lê Văn Chín phân tích quản lý đội ngũ GVTH tỉnh Bến Tre. Về nguồn nhân lực và nhân lực vùng dân tộc thiểu số, Nguyễn Minh Đường và Phan Văn Kha (2006) nghiên cứu đào tạo nhân lực cho công nghiệp hóa, hiện đại hóa; Nguyễn Lộc (đề tài B2006-37-02TĐ) và Nguyễn Minh Đường (trong công trình do Phan Văn Kha - Nguyễn Lộc đồng chủ biên) mô hình hóa phát triển nguồn nhân lực; Đặng Cảnh Khanh xác định các nguyên tắc phát triển nhân lực DTTS gắn với văn hóa địa phương; Trịnh Quang Cảnh nghiên cứu đội ngũ trí thức DTTS; Nguyễn Thị Mỹ Lộc (2011) luận giải quy trình phát triển đội ngũ nhà giáo; Nguyễn Thị Bình (đề tài cấp Nhà nước) đề xuất 6 nhóm giải pháp cải cách đào tạo, bồi dưỡng giáo viên; Lê Trung Chinh (2015) nghiên cứu đội ngũ giáo viên THPT thành phố Đà Nẵng; Bùi Thị Ngọc Diệp nêu bật những hạn chế về phương pháp dạy học, năng lực dạy lớp ghép và tiếng dân tộc của giáo viên vùng cao. Các đề tài nghiên cứu cấp Bộ liên quan đến giáo dục dân tộc gồm: đề tài về dạy tiếng dân tộc trong trường tiểu học vùng cao, đề tài về khả năng đáp ứng của giáo viên với chương trình - sách giáo khoa mới ở vùng dân tộc, và đề tài nghiên cứu giải pháp nâng cao chất lượng dạy học lớp ghép vùng DTTS.
Khoảng trống nghiên cứu được luận án chỉ rõ: Các công trình nêu trên phần lớn xem xét giáo viên phổ thông nói chung, hoặc nghiên cứu đội ngũ giáo viên tại các vùng kinh tế thuận lợi, hoặc khảo cứu nhân lực DTTS ở góc độ vĩ mô. Chưa có công trình nào tích hợp lý thuyết phát triển nguồn nhân lực với tiếp cận đa văn hóa và chuẩn nghề nghiệp để giải quyết bài toán phát triển đội ngũ GVTH người DTTS bản địa tại vùng Tây Bắc trong bối cảnh đổi mới chương trình giáo dục phổ thông.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý thuyết của luận án được xây dựng dựa trên nguyên lý phát triển và mối liên hệ phổ biến của chủ nghĩa Mác - Lênin, kết hợp với các lý thuyết hiện đại về phát triển nguồn nhân lực của Leonard Nadler, Christian Batal, Nguyễn Lộc và mô hình của Nguyễn Minh Đường. Theo đó, phát triển nguồn nhân lực giáo viên là quá trình tác động có mục đích vào các khâu: quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, tuyển dụng, bố trí sử dụng, kiểm tra đánh giá và thiết lập chế độ chính sách đãi ngộ nhằm biến đổi về số lượng, cơ cấu và chất lượng của đội ngũ.
Các khái niệm công cụ được xác lập trên cơ sở pháp lý và học thuật:
- Giáo viên và đội ngũ giáo viên: Căn cứ Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục (2009) và Điều lệ trường tiểu học (Văn bản hợp nhất số 03/VBHN-BGDĐT năm 2014). Đội ngũ GVTH được hiểu là một hệ sinh thái có tính chỉnh thể, liên kết chặt chẽ về quyền lợi, nghĩa vụ và mục tiêu giáo dục.
- Dân tộc thiểu số: Căn cứ Nghị định số 05/2011/NĐ-CP, chỉ các dân tộc có số dân ít hơn so với dân tộc đa số (dân tộc Kinh chiếm trên 50% dân số) trên lãnh thổ Việt Nam.
- Chuẩn nghề nghiệp giáo viên tiểu học: Vận dụng Quyết định số 14/2007/QĐ-BGDĐT ngày 04/5/2007 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo, gồm 3 lĩnh vực (Phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống; Kiến thức; Kỹ năng sư phạm), mỗi lĩnh vực gồm 5 yêu cầu, mỗi yêu cầu có 4 tiêu chí (tổng cộng 60 tiêu chí). Luận án bổ sung các yêu cầu đặc thù về năng lực dạy học song ngữ, dạy lớp ghép và tổ chức giáo dục trong môi trường đa văn hóa.
Sáu phương pháp luận tiếp cận được tác giả vận dụng gồm:
- Tiếp cận hệ thống: Xem phát triển đội ngũ GVTH người DTTS là một hệ thống con trong hệ thống giáo dục tiểu học và mối quan hệ quản lý đa cấp.
- Tiếp cận phát triển nguồn nhân lực: Kết hợp phát triển thể lực, trí lực, phẩm chất của từng cá thể giáo viên với việc tối ưu hóa cơ cấu đội ngũ.
- Tiếp cận chuẩn hóa: Dựa trên Luật Giáo dục và chuẩn nghề nghiệp giáo viên tiểu học.
- Tiếp cận năng lực: Tập trung vào năng lực sư phạm thực tế, khả năng thực hiện chương trình tích hợp và hoạt động trải nghiệm.
- Tiếp cận đa văn hóa: Tận dụng các giá trị văn hóa tộc người làm phương tiện sư phạm, tôn trọng tính đa dạng ngôn ngữ tại lớp học.
- Tiếp cận thực tiễn: Bám sát các đặc thù về địa hình, giao thông, phân bố dân cư vùng Tây Bắc.
Hệ thống phương pháp nghiên cứu thực tế gồm:
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu: Phân tích, tổng hợp các văn kiện, nghị quyết của Đảng, quyết định của Thủ tướng Chính phủ (Quyết định 449/QĐ-TTg, Quyết định 2356/QĐ-TTg, Quyết định 404/QĐ-TTg, Quyết định 2123/QĐ-TTg).
- Phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi: Khảo sát thực trạng và lấy ý kiến về tính cần thiết, tính khả thi của các giải pháp đối với cán bộ quản lý (CBQL) và giáo viên tiểu học.
- Phương pháp phỏng vấn sâu: Phỏng vấn CBQL cấp Sở, Phòng, Ban giám hiệu và GVTH người DTTS.
- Phương pháp quan sát sư phạm: Dự giờ giảng dạy, khảo sát thực tế cơ sở vật chất lớp học điểm lẻ.
- Phương pháp nghiên cứu sản phẩm hoạt động: Đánh giá giáo án, kế hoạch bài dạy, sổ tích lũy chuyên môn và hồ sơ tự bồi dưỡng.
- Phương pháp nghiên cứu điển hình: Khảo sát sâu tại 3 trường tiểu học thuộc 3 huyện vùng khó khăn và đặc biệt khó khăn của tỉnh Lào Cai.
- Phương pháp chuyên gia: Tham vấn ý kiến các nhà khoa học, nhà quản lý giáo dục và lãnh đạo trường sư phạm địa phương.
- Phương pháp thử nghiệm sư phạm: Thử nghiệm một số nội dung của hai giải pháp trên địa bàn nghiên cứu.
- Phương pháp xử lý số liệu: Sử dụng thống kê toán học, lập bảng đối chiếu số liệu và biểu đồ hóa dữ liệu.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Cơ sở lí luận về phát triển đội ngũ giáo viên tiểu học người dân tộc thiểu số trong bối cảnh đổi mới giáo dục và đào tạo
Chương 1 xây dựng khung lý thuyết toàn diện về quản lý phát triển đội ngũ nhà giáo vùng dân tộc thiểu số. Tác giả phân tích tính đặc thù của lao động sư phạm tiểu học: mỗi giáo viên thường đảm nhiệm một lớp học với tư cách nhà sư phạm tổng thể, chịu trách nhiệm định hình nền tảng nhân cách đầu đời cho trẻ em. Đối với vùng DTTS, giáo viên người bản địa đóng vai trò cầu nối văn hóa - ngôn ngữ cốt yếu. Khi học sinh bước vào lớp 1, rào cản tiếng phổ thông khiến các em khó tiếp thu tri thức; giáo viên người DTTS nắm được tiếng mẹ đẻ và tập quán của học sinh sẽ giúp các em giải tỏa tâm lý sợ sệt, sử dụng ngôn ngữ mẹ đẻ để giải thích các khái niệm tiếng Việt trừu tượng.
Chương này làm rõ những đặc thù về đầu vào của đội ngũ: Trình độ đào tạo ban đầu của GVTH người DTTS vùng Tây Bắc có sự phân hóa phức tạp do lịch sử để lại và cơ chế tuyển sinh đa dạng:
- Thí sinh trúng tuyển theo điểm chuẩn chung không qua ưu tiên.
- Thí sinh trúng tuyển nhờ cộng điểm ưu tiên DTTS và khu vực (3,5 điểm).
- Người học diện cử tuyển vào các trường đại học, cao đẳng sư phạm.
- Học sinh tốt nghiệp hệ dự bị đại học dân tộc được phân bổ vào ngành sư phạm.
- Học sinh thuộc 9 DTTS rất ít người (nhóm Rin theo Quyết định 2123/QĐ-TTg) được tuyển thẳng.
- Lực lượng giáo viên đào tạo cấp tốc từ các thời kỳ phổ cập trước đây qua các hệ 5+3, 9+3 tháng, 12+6 tháng.
Chính sách ưu tiên giúp gia tăng nhanh số lượng giáo viên bản địa nhưng tạo ra khoảng cách lớn giữa bằng cấp hình thức và năng lực nghề nghiệp thực tế. Luận án nhấn mạnh các yêu cầu mới của chương trình giáo dục phổ thông theo Nghị quyết 88/2014/QH13: chuyển từ truyền thụ một chiều sang phát triển năng lực người học, thực hiện dạy học tích hợp (các môn Cuộc sống quanh ta, Tìm hiểu xã hội, Tìm hiểu tự nhiên), tổ chức hoạt động trải nghiệm sáng tạo và triển khai sách giáo khoa song ngữ (Tiếng Việt - Tiếng DTTS).
Chương 2: Thực trạng phát triển đội ngũ giáo viên tiểu học người dân tộc thiểu số vùng Tây Bắc
Chương 2 trình bày kết quả điều tra thực trạng kinh tế - xã hội, mạng lưới trường lớp và nhân lực sư phạm tại các tỉnh Tây Bắc. Địa hình núi non chia cắt mạnh tạo ra mật độ dân cư thưa thớt, hệ thống giáo dục tiểu học duy trì số lượng lớn các điểm trường lẻ, lớp ghép.
Về quy mô số lượng, theo thống kê của Vụ Kế hoạch - Tài chính (Bộ GD&ĐT) năm học 2013-2014, toàn vùng Tây Bắc có 12.945 GVTH là người DTTS. Sự phát triển số lượng đã góp phần quan trọng vào việc hoàn thành mục tiêu phổ cập giáo dục tiểu học. Tuy nhiên, tình trạng thừa thiếu cục bộ vẫn diễn ra gay gắt giữa các bộ môn, giữa trường trung tâm và điểm bản xa.
Về cơ cấu dân tộc, đội ngũ có sự mất cân đối nghiêm trọng. Các dân tộc có trình độ phát triển kinh tế thuận lợi hơn như Mường, Tày, Thái chiếm tỷ lệ giáo viên rất cao trong tổng số giáo viên DTTS. Ngược lại, dân tộc Mông dù có quy mô dân số trên 1 triệu người và chiếm tỷ lệ học sinh rất lớn ở vùng cao Tây Bắc, nhưng tỷ lệ giáo viên người Mông lại rất thấp. Nguyên nhân thực tế bắt nguồn từ phong tục tập quán, tình trạng tảo hôn, kết hôn sớm sau khi học hết tiểu học hoặc trung học cơ sở làm giảm nguồn tuyển sư phạm. Hệ quả là xảy ra mâu thuẫn cơ cấu: học sinh người Mông tại các bản vùng cao phần lớn do giáo viên dân tộc Tày, Thái hoặc người Kinh giảng dạy, khiến ưu thế về cầu nối ngôn ngữ mẹ đẻ không được phát huy.
Về năng lực nghề nghiệp, kết quả khảo sát qua các bài kiểm tra chuyên môn (Biểu đồ 2.7 về xác định nội dung, mục tiêu trọng tâm bài học) và tiêu chí đánh giá chuẩn nghề nghiệp (Biểu đồ 2.8) phản ánh năng lực sư phạm của giáo viên DTTS còn hạn chế trong việc thiết kế bài dạy tích hợp, kỹ năng ứng dụng công nghệ thông tin và phương pháp dạy học lớp ghép.
Về các khâu quản lý phát triển nguồn nhân lực:
- Công tác quy hoạch: Thiếu tính dự báo dài hạn, chưa gắn kết nhu cầu tuyển dụng giáo viên theo cơ cấu từng tộc người tại địa bàn.
- Tuyển dụng và sử dụng: Dữ liệu phân tích tại tỉnh Lào Cai (Bảng 2.14, 2.15, 2.16, 2.17) cho thấy việc bố trí giáo viên DTTS còn mang tính hành chính, chưa phát huy năng lực chuyên biệt và chưa tính tới đặc điểm ngôn ngữ tại từng điểm trường.
- Đào tạo và bồi dưỡng: Hoạt động bồi dưỡng chủ yếu diễn ra theo hình thức định kỳ trong dịp hè (Biểu đồ 2.10, 2.11), nặng về lý thuyết chung, thiếu các chương trình bồi dưỡng chuyên biệt về tiếng dân tộc, tâm lý học sinh DTTS và phương pháp dạy song ngữ.
- Đánh giá và đãi ngộ: Việc đánh giá theo chuẩn nghề nghiệp còn hình thức, chưa phân loại chính xác năng lực thực chất; chính sách đãi ngộ chưa đủ bù đắp khó khăn đặc thù tại các điểm trường cắm bản sâu.
Dưới đây là bảng tổng hợp các nội dung và công cụ khảo sát thực trạng tiêu biểu được tác giả triển khai trong chương:
| Danh mục tư liệu khảo sát |
Nội dung dữ liệu phản ánh trong luận án |
| Bảng 2.1 đến Bảng 2.4 |
Số lượng trường, lớp, học sinh tiểu học toàn quốc và các tỉnh vùng Tây Bắc; thống kê học sinh DTTS |
| Bảng 2.6 đến Bảng 2.8 |
Số lượng trường, học sinh, giáo viên và CBQL phân chia theo vùng kinh tế - xã hội |
| Bảng 2.9 đến Bảng 2.12 |
Tỷ lệ học sinh và GV người DTTS; tỷ lệ GV DTTS các tỉnh Tây Bắc; tương quan HS DTTS / GV DTTS |
| Bảng 2.13 đến Bảng 2.17 |
Thực trạng tuyển chọn, trình độ đào tạo, cơ cấu chuyên ngành và phân bố viên chức giáo dục DTTS tỉnh Lào Cai năm học 2013-2014 |
| Biểu đồ 2.1 đến Biểu đồ 2.4 |
Quy mô đội ngũ GVTH người DTTS theo vùng, theo giới tính, cơ cấu dân tộc và trình độ đào tạo |
| Biểu đồ 2.5 và Biểu đồ 2.6 |
Phân loại lớp học đơn ngữ, đa ngữ và khảo sát ngôn ngữ mà học sinh thông thạo nhất |
| Biểu đồ 2.7 và Biểu đồ 2.8 |
Kết quả bài kiểm tra xác định mục tiêu bài học và tiêu chí đánh giá năng lực nghề nghiệp của GV |
| Biểu đồ 2.9 đến Biểu đồ 2.14 |
Khảo sát quy hoạch, bồi dưỡng chính trị hè, hình thức bồi dưỡng chuyên môn, kiểm tra đánh giá và chính sách đãi ngộ |
| Biểu đồ 3.1 |
Dự báo nhu cầu GVTH người DTTS vùng Tây Bắc đến năm 2020 |
Chương 3: Giải pháp phát triển đội ngũ giáo viên tiểu học người dân tộc thiểu số vùng Tây Bắc đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục và đào tạo
Trên cơ sở lý luận và thực trạng, tác giả xác định 6 nguyên tắc xây dựng giải pháp: (1) Đảm bảo tính pháp lý; (2) Đảm bảo tính thực tiễn; (3) Đảm bảo tính kế thừa; (4) Đảm bảo tính đồng bộ có trọng điểm; (5) Đảm bảo tính khả thi; (6) Đảm bảo tính bền vững.
Luận án đề xuất hệ thống 5 giải pháp quản lý đồng bộ:
-
Xây dựng công tác quy hoạch phát triển đội ngũ giáo viên tiểu học người dân tộc thiểu số: Thiết lập hệ thống dự báo nhu cầu nhân lực giáo viên đến năm 2020 trên cơ sở quy mô học sinh và mạng lưới trường lớp từng tiểu vùng. Quy hoạch phải gắn với cơ cấu tộc người, xác định chỉ tiêu đào tạo tuyển dụng riêng cho các dân tộc còn thiếu giáo viên trầm trọng (như dân tộc Mông và các nhóm DTTS rất ít người).
-
Đổi mới tổ chức đào tạo và bồi dưỡng đội ngũ giáo viên tiểu học người DTTS theo chuẩn nghề nghiệp phù hợp với giáo dục vùng dân tộc thiểu số: Chuyển giao nhiệm vụ từ đào tạo nặng về lý thuyết sang rèn luyện kỹ năng thực hành sư phạm. Đổi mới chương trình tại các trường cao đẳng, đại học sư phạm địa phương: bổ sung học phần dạy học lớp ghép, giáo dục hòa nhập, tiếng DTTS, văn hóa tộc người và phương pháp dạy học song ngữ. Tổ chức bồi dưỡng thường xuyên theo cụm trường, ứng dụng hình thức tự học có hướng dẫn và bồi dưỡng đồng đẳng tại chỗ.
-
Đổi mới công tác sử dụng đội ngũ GVTH người DTTS theo năng lực nghề nghiệp phù hợp với tộc người và vùng miền: Bố trí, phân công giáo viên theo nguyên tắc phát huy thế mạnh ngôn ngữ và phong tục bản địa. Ưu tiên phân công giáo viên biết tiếng mẹ đẻ của học sinh đảm nhiệm các lớp đầu cấp (lớp 1, lớp 2) và các lớp điểm trường lẻ phức tạp về thành phần ngôn ngữ, tránh điều động cơ học làm mất đi tính tương thích văn hóa giữa thầy và trò.
-
Tăng cường công tác kiểm tra và đánh giá việc thực hiện nhiệm vụ của đội ngũ GVTH người DTTS theo chuẩn nghề nghiệp và điều kiện thực tế của các nhà trường: Đổi mới quy trình đánh giá chuẩn nghề nghiệp theo hướng thực chất, xóa bỏ bệnh thành tích. Kết hợp tự đánh giá của giáo viên với đánh giá của tổ chuyên môn, ban giám hiệu và tham khảo ý kiến phản hồi từ phụ huynh học sinh; coi kết quả đánh giá là căn cứ chính xác để sàng lọc, bố trí công việc và xếp lịch bồi dưỡng chuyên môn phù hợp.
-
Xây dựng môi trường giáo dục đa văn hóa phù hợp, sáng tạo và quan tâm về vật chất, tinh thần cho đội ngũ GVTH người DTTS: Thiết lập không gian sư phạm thân thiện, tôn trọng sự khác biệt bản sắc giữa các nhóm học sinh và giáo viên. Đảm bảo thực thi đầy đủ, kịp thời các chính sách phụ cấp thu hút, phụ cấp vùng khó khăn, hỗ trợ nhà công vụ giáo viên tại các điểm bản xa xôi, tạo động lực tâm lý để giáo viên yên tâm công tác lâu dài.
Năm giải pháp này có mối quan hệ biện chứng chặt chẽ: Quy hoạch là tiền đề định hướng; Đào tạo, bồi dưỡng là giải pháp then chốt nâng cao chất lượng; Sử dụng đúng là động lực phát huy năng lực; Kiểm tra, đánh giá là công cụ đo lường điều chỉnh; Môi trường và chính sách đãi ngộ là điều kiện đảm bảo duy trì tính bền vững.
Kết quả lấy ý kiến khảo nghiệm về tính cần thiết và khả thi của 5 giải pháp được tác giả thực hiện đối với giáo viên (Bảng 3.1) và cán bộ quản lý (Bảng 3.2), đồng thời tiến hành thử nghiệm hai nội dung cụ thể của giải pháp (Biểu đồ 3.2) ghi nhận sự đồng thuận cao và khẳng định tính thực tế của các biện pháp quản lý đề xuất.
Kết quả và những đóng góp mới
Luận án đã đạt được các kết quả và đóng góp mới cụ thể về mặt lý luận và thực tiễn:
Về mặt lý luận, luận án hệ thống hóa và phát triển lý luận về phát triển đội ngũ GVTH người DTTS trong bối cảnh đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục thông qua việc tích hợp ba cách tiếp cận: tiếp cận phát triển nguồn nhân lực (lấy phát triển năng lực cá thể làm nền tảng phát triển đội ngũ), tiếp cận năng lực nghề nghiệp (chú trọng kỹ năng dạy học lớp ghép, dạy học tích hợp) và tiếp cận giáo dục đa văn hóa (tận dụng tiếng mẹ đẻ và vốn văn hóa bản địa làm phương tiện sư phạm).
Về mặt thực tiễn, luận án đã phác thảo bức tranh thực trạng toàn diện về đội ngũ 12.945 GVTH người DTTS vùng Tây Bắc năm học 2013-2014, chỉ rõ các mâu thuẫn về chất lượng do sự đa dạng của các hình thức tuyển sinh ban đầu (tuyển thẳng nhóm Rin, dự bị đại học, cử tuyển, đào tạo cấp tốc cắm bản) và sự mất cân đối cơ cấu dân tộc giữa giáo viên người Mường, Tày, Thái với học sinh người Mông. Đồng thời, tác giả đã đề xuất 6 nguyên tắc chỉ đạo cùng hệ thống 5 giải pháp quản lý mang tính đồng bộ, có kết quả khảo nghiệm tính cần thiết, tính khả thi và thử nghiệm thực tế khẳng định giá trị vận dụng cho ngành giáo dục các tỉnh Tây Bắc.
Về kiến nghị, luận án đề xuất các giải pháp đối với cơ quan quản lý vĩ mô (Bộ GD&ĐT, Ủy ban Dân tộc) cần hoàn thiện chính sách tuyển sinh cử tuyển sư phạm gắn chặt với địa chỉ sử dụng; đề nghị UBND và Sở GD&ĐT các tỉnh Tây Bắc chuyển đổi cơ chế tuyển dụng, chủ động đặt hàng đào tạo giáo viên tiểu học theo cơ cấu từng dân tộc thiểu số cụ thể trên địa bàn; yêu cầu các trường sư phạm đổi mới nội dung giáo trình theo hướng tiếp cận năng lực dạy học đa ngữ, đa văn hóa.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế nghiên cứu được xác định theo phạm vi đã giới hạn của đề tài: Luận án chỉ tập trung nghiên cứu cấp quản lý trọng tâm là Sở Giáo dục và Đào tạo, chưa đi sâu khảo sát toàn diện cấp quản lý vi mô tại các phòng Giáo dục và Đào tạo hay ban giám hiệu từng trường phổ thông dân tộc bán trú. Địa bàn khảo sát sâu tập trung vào các nhóm dân tộc thiểu số bản địa chiếm số đông (Mường, Mông, Tày, Thái) tại một số tỉnh như Lào Cai, chưa bao quát đầy đủ tất cả 53 DTTS cũng như các đặc thù vi mô của từng nhóm dân tộc rất ít người (nhóm Rin).
Hướng nghiên cứu tiếp theo của đề tài là:
- Mở rộng nghiên cứu cơ chế quản lý phát triển giáo viên tiểu học DTTS ở cấp độ cơ sở (nhà trường và cụm trường).
- Nghiên cứu sâu các chương trình bồi dưỡng chuyên biệt về phương pháp dạy học song ngữ tiếng Việt - tiếng DTTS đối với từng ngôn ngữ cụ thể (tiếng Mông, tiếng Thái, tiếng Dao).
- Khảo cứu so sánh thực trạng phát triển đội ngũ giáo viên DTTS giữa vùng Tây Bắc với các địa bàn đặc thù khác như vùng Tây Nguyên và vùng Tây Nam Bộ.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu tham khảo cho các đối tượng sau:
- Cán bộ quản lý giáo dục tại các Sở Giáo dục và Đào tạo, Phòng Giáo dục và Đào tạo các tỉnh miền núi phía Bắc: Tham khảo hệ thống giải pháp quy hoạch, phân bổ chỉ tiêu tuyển sinh sư phạm theo cơ cấu tộc người và phương pháp sử dụng giáo viên phù hợp với đặc điểm ngôn ngữ từng điểm trường lẻ.
- Giảng viên các trường Đại học, Cao đẳng Sư phạm: Sử dụng dữ liệu và khung lý thuyết đa văn hóa của luận án để biên soạn giáo trình, tài liệu bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm về dạy học lớp ghép, giáo dục học đa văn hóa và tâm lý học sinh DTTS.
- Học viên cao học và nghiên cứu sinh chuyên ngành Quản lý giáo dục, Giáo dục học: Kế thừa khung phân tích phát triển nguồn nhân lực kết hợp chuẩn nghề nghiệp giáo viên để triển khai các nghiên cứu liên quan đến chính sách giáo dục vùng đặc biệt khó khăn.
Phần đáng tham khảo nhất trong công trình là hệ thống số liệu điều tra thực trạng tuyển chọn, sử dụng giáo viên DTTS tại tỉnh Lào Cai và cấu trúc 5 giải pháp quản lý nhân lực sư phạm trong môi trường giáo dục đa văn hóa.
Câu hỏi thường gặp
1. Cơ cấu đội ngũ giáo viên tiểu học người DTTS vùng Tây Bắc bộc lộ bất cập lớn nhất ở điểm nào?
Bất cập lớn nhất là sự mất cân đối về tỷ lệ giáo viên giữa các tộc người so với quy mô học sinh. Các dân tộc có điều kiện phát triển kinh tế thuận lợi hơn như Mường, Tày, Thái chiếm tỷ lệ giáo viên rất cao. Trong khi đó, dân tộc Mông có dân số trên 1 triệu người và chiếm lượng học sinh rất lớn ở các vùng cao lại có tỷ lệ giáo viên rất thấp do rào cản phong tục tảo hôn sớm. Điều này dẫn tới tình trạng học sinh người Mông thường phải học với giáo viên dân tộc khác, không phát huy được lợi thế tiếng mẹ đẻ trong giáo dục ban đầu.
2. Trình độ đào tạo ban đầu của đội ngũ GVTH người DTTS vùng Tây Bắc có những nguồn tuyển sinh nào?
Trình độ đào tạo ban đầu rất đa dạng, bao gồm: thi tuyển bình thường; thi tuyển có cộng 3,5 điểm ưu tiên DTTS và khu vực; tuyển theo chế độ cử tuyển; xét tuyển từ hệ dự bị đại học dân tộc; tuyển thẳng đối với 9 dân tộc rất ít người (nhóm Rin theo Quyết định 2123/QĐ-TTg); và lực lượng giáo viên đào tạo cấp tốc trước đây qua các hệ 5+3, 9+3 tháng, 12+6 tháng. Sự khác biệt lớn này tạo ra khoảng vênh giữa chuẩn bằng cấp đào tạo hình thức và thực lực sư phạm theo chuẩn nghề nghiệp.
3. Luận án đề xuất bao nhiêu giải pháp và giải pháp nào đóng vai trò then chốt trong việc nâng cao chất lượng?
Luận án đề xuất hệ thống 5 giải pháp quản lý đồng bộ. Trong đó, giải pháp "Đổi mới tổ chức đào tạo và bồi dưỡng đội ngũ giáo viên tiểu học người DTTS theo chuẩn nghề nghiệp phù hợp với giáo dục vùng dân tộc thiểu số" đóng vai trò then chốt để giải quyết dứt điểm các hạn chế về kỹ năng dạy học lớp ghép, dạy song ngữ và đổi mới phương pháp giáo dục.
4. Dữ liệu thực trạng của luận án ghi nhận bao nhiêu giáo viên tiểu học người DTTS tại Tây Bắc vào năm học 2013-2014?
Theo số liệu thống kê của Vụ Kế hoạch - Tài chính (Bộ Giáo dục và Đào tạo) được trích dẫn trong Chương 1 và Chương 2 của luận án, toàn vùng Tây Bắc trong năm học 2013-2014 có tổng số 12.945 giáo viên tiểu học là người DTTS.
Kết luận
Luận án tiến sĩ đã giải quyết một vấn đề cấp thiết của quản lý giáo dục vùng khó khăn thông qua việc nghiên cứu phát triển đội ngũ giáo viên tiểu học người DTTS tại Tây Bắc. Bằng việc kết hợp tiếp cận phát triển nguồn nhân lực với tiếp cận chuẩn hóa và giáo dục đa văn hóa, tác giả đã làm rõ thực trạng quy mô 12.945 giáo viên người DTTS cùng những mâu thuẫn về chất lượng và mất cân đối cơ cấu tộc người. Hệ thống 6 nguyên tắc và 5 nhóm giải pháp quản lý được luận chứng khoa học, có kết quả khảo nghiệm và thử nghiệm cụ thể, đóng góp cơ sở thực tiễn cho việc nâng cao chất lượng giáo dục tiểu học vùng cao trong tiến trình đổi mới giáo dục và đào tạo.