Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN TIỂU HỌC NGƯỜI DÂN TỘC THIỂU SỐ TRONG BỐI CẢNH ĐỔI MỚI GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Những nghiên cứu về đội ngũ giáo viên 1. Vai trò của đội ngũ giáo viên Tất cả các nghiên cứu trong và ngoài nước về đội ngũ GV đều khẳng định một trong các nguồn lực quan trọng quyết định đến sự phát triển của các nhà trường phổ thông nói chung, trường tiểu học nói riêng thì đội ngũ GV là quan trọng nhất, đóng vai trò chủ thể mang tính quyết định.
Chính vì vậy, vai trò của GV với tư cách là nhân tố quyết định chất lượng giáo dục đã được biết đến từ lâu trên cơ sở tổng kết thực tiễn cũng như nghiên cứu khoa học giáo dục. Đặc biệt, trong năm 2007, Công ty tư vấn toàn cầu Mc Kinsey nổi tiếng trong lĩnh vực quản lí, trên cơ sở nghiên cứu sâu 25 hệ thống giáo dục thế giới, trong đó có 10 hệ thống thành công, đã đưa ra câu trả lời sau đây cho câu hỏi “Làm thế nào để các hệ thống giáo dục thành công trên thế giới vươn lên hàng đầu?”: Đó là thực hiện ba vấn đề quan trọng nhất: (1) tuyển đúng người để trở thành GV; (2) đào tạo họ thành những nhà giáo hiệu quả; (3) bảo đảm rằng hệ thống có khả năng cung cấp việc dạy tốt nhất có thể cho mọi trẻ em [100]. Vấn đề nâng cao chất lượng GV đã trở thành định hướng quan trọng hàng đầu trong hoạch định chính sách phát triển giáo dục của các quốc gia. Câu hỏi lại được đặt ra là làm thế nào nâng cao chất lượng đội ngũ GV?.
Khoảng hơn 10 năm nay đã có rất nhiều nghiên cứu tìm câu trả lời cho vấn đề này cũng như nhiều đề xuất về cải cách đào tạo GV. Năm 2001, UNESCO và OECD, trên cơ sở phân tích các chỉ số giáo dục của các nước đang phát triển, đưa ra các khuyến nghị về lựa chọn chính sách trong xây dựng đội ngũ GV đủ năng lực đáp ứng các yêu cầu của ngày mai [105]. Bốn năm sau, OECD đúc kết kinh nghiệm và 11 kết quả nghiên cứu để phân tích, trao đổi và gợi ý về cách thức để thu hút, đào tạo, giữ chân các nhà giáo giỏi ở các nước phát triển [104]. Tiếp đó, năm 2006, UNESCO đưa ra các phân tích và kiến giải về một loạt chính sách liên quan đến việc tuyển dụng, đào tạo, sử dụng, đãi ngộ, điều kiện làm việc của GV nhằm hướng tới việc thực hiện các mục tiêu giáo dục cho mọi người đến năm 2015 [106].
Đặc biệt quan trọng là những nghiên cứu khoa học và chia sẻ kinh nghiệm về chính sách GV và đào tạo GV đã mang vóc dáng toàn cầu. Lần đầu tiên Hội nghị thượng đỉnh quốc tế về nghề dạy học được tổ chức vào năm 2011 ở New York để chia sẻ kinh nghiệm và kết quả nghiên cứu khoa học trong việc nâng cao chất lượng nhà giáo cũng như chất lượng dạy và học. Hội nghị thượng đỉnh lần thứ hai được tổ chức vào năm 2012 để trao đổi về 3 chủ đề: (i) đào tạo hiệu trưởng; (ii) chuẩn bị GV cho những kỹ năng của thế kỷ 21; (iii) đào tạo GV để làm việc và thành công ở những nơi cần họ nhất. Gần đây, tháng 3/2013, Hội nghị thượng đỉnh lần thứ ba, tổ chức tại Amsterdam, tập trung vào chủ đề duy nhất là chất lượng GV.
Như vậy, có thể nói các nghiên cứu này đã đưa ra bức tranh khá toàn diện về vai trò cũng như những yêu cầu đối với GV. Tuy nhiên, nghiên cứu trên tập trung vào khái quát bức tranh toàn diện về giáo viên nói chung chưa đi sâu phân tích vào cấp học cụ thể và đối tượng cụ thể. Nghiên cứu của Nguyễn Thị Hạnh, trong: “Kinh nghiệm Quốc tế về đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng giáo viên tiểu học và định hướng giải pháp cho vấn đề ở Việt Nam”[40], tác giả cho thấy: Vai trò của GVTH rất quan trọng. Để trở thành GV tiểu học, yêu cầu bắt buộc là phải học 4 năm để lấy bằng đại học ở một trong số 12 trường đại học theo quy định (Hàn Quốc).
Và để được tuyển họ phải có bằng giỏi; các vị trí được phân bổ để đáp ứng các vị trí còn trống một cách hợp lí. Khác với việc tuyển GV tiểu học, để trở thành GV trung học, ứng cử viên có thể học và tốt nghiệp bất kỳ trường nào trong số 350 trường đại học và tiêu chuẩn lựa chọn ít nhiều thông thoáng hơn. Điều này dẫn đến tình trạng “dư thừa” GV trung học đủ trình độ và điều kiện, khoảng 11 ứng cử viên cho 1 vị trí cần tuyển dụng. Kết quả là ở Hàn Quốc giảng dạy trong trường trung học có “địa vị” thấp hơn so với tiểu học, do vậy xu hướng muốn trở thành GV tiểu học nhiều hơn.
Nghiên cứu đã chỉ ra mức độ yêu cầu cao đối với GVTH về năng lực và trình độ. GVTH ở Việt Nam qui định chuẩn đối với GVTH là THSP [52] 12 và phấn đấu đến năm 2020 đạt 100% trình độ trên chuẩn [60]. Như vậy, yêu cầu này hiện tại có thể phù hợp với điều kiện từng vùng/tiểu vùng nhưng cũng có thể chưa phù hợp với từng vùng/tiểu vùng ở Việt Nam. Tuy nhiên, những yêu cầu về GVTH của nghiên cứu là mục tiêu phấn đấu đối với GVTH của Việt Nam đến năm 2020 (theo nghị quyết số 29 – NQ/TW) nên có tính chất tham khảo trong luận án khi đề xuất các giải pháp liên quan đến đào tạo.
Nghiên cứu của Thái Duy Tuyên trong “Triết học giáo dục Việt Nam”[84], tác giả cho rằng: vị trí của người thầy trong quá trình giáo dục đóng vai trò chủ thể, là người đại diện cho xã hội điều khiển quá trình giáo dục chủ yếu thể hiện ở: khởi động quá trình giáo dục; điều khiển phương hướng hoạt động, trình tự thời gian, tốc độ phát triển của quá trình giáo dục; đánh giá kết quả giáo dục. Phát huy vai trò chủ đạo của người thầy, người thầy càng cố gắng thì càng phát huy được vai trò chủ đạo của mình. Tuy nhiên, trong bối cảnh đổi mới giáo dục một số nội dung này chưa phù hợp. Chuẩn nghề nghiệp giáo viên – Yêu cầu đổi mới giáo dục Theo Prof.
Bernd Meier (2007), Management and leadership education [102], theo tác giả về quan điểm lãnh đạo và quản lí của nhà giáo dục đòi hỏi người GV cần phải có các năng lực/chuẩn hạt nhân/nòng cốt như: năng lực dạy học; năng lực giáo dục; năng lực chẩn đoán; năng lực đánh giá; năng lực tư vấn; năng lực tiếp tục phát triển nghề nghiệp và phát triển trường học. Kế thừa những quan điểm này, trong giai đoạn đổi mới giáo dục cũng cần có các năng lực trên. Công trình của tác giả người Pháp Michel Dvelay “Peut- On former les Enseignants?” [56]. Trong tác phẩm này tác giả đã lí giải vì sao công tác đào tạo, bồi dưỡng GV cần được đổi mới theo quan điểm lấy người học làm trung tâm của hệ thống giáo dục, tức là việc đào tạo nghề dạy học không chỉ được xác định bằng hoạt động dạy của người thầy mà trước hết phải bằng hoạt động học của người trò.
Thông qua đào tạo ban đầu và bồi dưỡng thường xuyên, người GV phải có năng lực vừa tập trung đi sâu vào nội dung của bộ môn, vừa tập trung đi sâu vào việc học của HS. Tuy nhiên, trong bối cảnh đổi mới giáo dục và đào tạo của Việt Nam thì GV cần được bổ sung những năng lực/chuẩn như dạy học theo định hướng phát triển phẩm chất năng lực HS, HS DTTS, dạy học tích 13 hợp, dạy song ngữ trong môi trường đa văn hóa ở vùng DTTS, và bối cảnh lịch sử cụ thể. Bài viết của tác giả Nguyễn Văn Đệ “Hoạt động đào tạo giáo viên trong bối cảnh mới” [32] cho rằng cách bồi dưỡng năng lực cho GV tương lai phải theo chuẩn nghề nghiệp đã được qui định, đặc biệt chú ý đến khuyến cáo của UNESCO: “Thầy giáo phải được đào tạo để trở thành những nhà giáo dục nhiều hơn là những chuyên gia truyền đạt kiến thức; phải làm chủ được môi trường công nghệ thông tin - truyền thông mới và chuẩn bị về mặt tâm lí cho mọi sự thay đổi cơ bản về vai trò của họ”. Nghiên cứu đã chỉ ra những yêu cầu đổi mới trong quá trình đào tạo GV.
Tuy nhiên, cũng cần lưu ý đến các điều kiện, các yếu tố cản trở của mỗi vùng miền/ tiểu vùng để vận dụng một cách phù hợp nên có tính chất tham khảo trong luận án khi đề xuất các giải pháp liên quan đến đào tạo GV. Đề tài “Giải pháp đổi mới đào tạo nghiệp vụ sư phạm đáp ứng yêu cầu giáo dục phổ thông trong thời kỳ mới”, mã số B2011-17-CT04 của tác giả Nguyễn Thị Kim Dung [24] đã đưa ra hệ thống năng lực nghề nghiệp cần hình thành cho sinh viên sư phạm gồm: (1) Năng lực khoa học chuyên ngành và (2) Năng lực sư phạm. Đồng thời tác giả cũng đưa ra “Khung chuẩn đầu ra của chương trình đào tạo GV theo định hướng phát triển năng lực nghề nghiệp. Theo đó khung chuẩn đầu ra gồm 5 nhóm năng lực với 30 tiêu chí: (1) Năng lực dạy học; (2) năng lực giáo dục; (3) năng lực định hướng sự phát triển cá nhân học sinh; (4) năng lực phát triển cộng đồng nghề và xã hội; (5) năng lực phát triển cá nhân.
Tuy nhiên, đề tài đã tập trung vào đào tạo nghiệp vụ sư phạm cho GV phổ thông nói chung chưa đi cụ thể đối với từng cấp học. Theo tác giả Nguyễn Trí “Một số vấn đề đổi mới QLGD Tiểu học vì sự phát triển bền vững” (Dự án phát triển GV Tiểu học) [86], với việc đưa ra quá trình xây dựng và nội dung của chuẩn nghệ nghiệp giáo viên Tiểu học: Sự xuất hiện các hệ đào tạo rất mềm dẻo, linh hoạt với việc tuyển sinh trình độ học vấn phổ thông ngày càng được nâng cao đã đáp ứng nhu cầu phát triển cả về số lượng và chất lượng đội ngũ GV Tiểu học hơn 50 năm sau cách mạng. Tuy nhiên, điều đó cũng để lại gánh nặng rất lớn về đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ này cho giai đoạn hiện nay, khi chúng ta phải chuẩn hóa và hiện đại hóa đội ngũ GV 14 Tiểu học, chuẩn bị cho việc hòa nhập và phát triển. Việc liên tục nâng cao trình độ đào tạo cho đội ngũ GV Tiểu học là đòi hỏi tất yếu của quá trình xây dựng và quản lí đội ngũ GV Tiểu học diễn ra suốt mấy chục năm qua.