Tổng quan nghiên cứu

Lưu vực vịnh Cửa Lục sở hữu diện tích tự nhiên rộng trên 610 km2 với địa hình đồi núi dốc bao quanh, đóng vai trò là cửa ngõ thủy văn trực tiếp thông ra Di sản thiên nhiên thế giới vịnh Hạ Long qua eo biển hẹp chỉ khoảng 350 m. Thành phố Hạ Long với quy mô diện tích 27.195,03 ha, phân bố trên 20 phường xã và dân số vượt mốc 251.000 người, đang chứng kiến tốc độ tăng trưởng kinh tế nhanh chóng cùng quá trình chuyển dịch mô hình phát triển từ nâu sang xanh. Tuy nhiên, áp lực phát triển công nghiệp, khai thác khoáng sản và đô thị hóa đã biến lưu vực vịnh Cửa Lục thành nơi tiếp nhận lượng nước thải khổng lồ từ 26 nguồn phát sinh cố định trọng điểm, gây suy thoái nghiêm trọng chất lượng nước mặt và nước biển ven bờ.

Vấn đề nghiên cứu trọng tâm là sự thiếu hụt công cụ quản trị dữ liệu môi trường đồng bộ, khiến công tác giám sát các nguồn thải công nghiệp bị phân tán và thiếu tính tức thời. Đề tài hướng tới mục tiêu cụ thể là thiết lập cơ sở dữ liệu số hóa kết hợp công nghệ thông tin và hệ thống thông tin địa lý nhằm quản lý toàn diện chất lượng nước, theo dõi liên tục 24/24 giờ các thông số ô nhiễm. Phạm vi nghiên cứu tập trung chuyên sâu vào các nguồn thải công nghiệp cố định tại 6 phường trọng điểm gồm Hà Khánh, Bãi Cháy, Giếng Đáy, Yết Kiêu, Cao Xanh và Việt Hưng trong giai đoạn 2011 đến 2020. Nghiên cứu mang ý nghĩa thực tiễn to lớn khi cung cấp hệ thống cảnh báo sớm, hỗ trợ cơ quan quản lý giảm thiểu trên 30% thời gian xử lý sự cố môi trường và chuẩn hóa dữ liệu cho quy hoạch không gian biển bền vững của tỉnh Quảng Ninh.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng dựa trên sự giao thoa của hai khung lý thuyết nền tảng trong khoa học môi trường hiện đại. Thứ nhất là lý thuyết quản lý tổng hợp lưu vực sông và vùng bờ, nhìn nhận lưu vực 610 km2 của vịnh Cửa Lục như một thực thể sinh thái thống nhất, nơi mọi hoạt động xả thải ở thượng nguồn đều tác động trực tiếp đến vùng cửa biển. Thứ hai là lý thuyết phát triển bền vững và chuyển dịch kinh tế tuần hoàn, chú trọng kiểm soát tải lượng ô nhiễm từ khâu sản xuất đến khâu xử lý cuối đường ống.

Khung mô hình nghiên cứu tích hợp ba khái niệm chuyên ngành then chốt bao gồm: Hệ thống thông tin địa lý môi trường phục vụ phân tích không gian đa tầng; Cơ sở dữ liệu nguồn ô nhiễm (Pollution Source Database) định lượng hóa lưu lượng và nồng độ xả thải; Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về môi trường với các thông số đo lường chuẩn hóa như nhu cầu oxy sinh hóa sau 5 ngày (BOD5), nhu cầu oxy hóa học (COD), tổng chất rắn lơ lửng (TSS) và hàm lượng dầu mỡ khoáng theo tiêu chuẩn QCVN 40:2011/BTNMT, QCVN 08:2008/BTNMT và QCVN 10:2008/BTNMT.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu áp dụng cỡ mẫu toàn diện gồm 26 nguồn phát sinh nước thải công nghiệp cố định phân bố trên địa bàn 6 phường trung tâm của thành phố Hạ Long. Phương pháp chọn mẫu chủ đích kết hợp phân tầng theo loại hình sản xuất công nghiệp (khai thác than, đóng tàu, cơ khí, nhiệt điện, sản xuất vật liệu xây dựng, chế biến thực phẩm) được áp dụng nhằm bao phủ toàn bộ các điểm xả thải có lưu lượng từ 50 m3/ngày đêm đến trên 2.000 m3/ngày đêm. Lý do lựa chọn phương pháp này xuất phát từ yêu cầu phải kiểm soát triệt để các nguồn thải có nguy cơ gây ô nhiễm cao nhất đe dọa trực tiếp đến hệ sinh thái vịnh Hạ Long.

Nguồn dữ liệu sơ cấp được thu thập thông qua khảo sát thực địa, điều tra bảng hỏi xã hội học tại 26 doanh nghiệp và quan trắc môi trường thực tế tại 3 điểm nước biển ven bờ cùng 4 vị trí nước mặt lục địa với tần suất 4 đợt mỗi năm. Nguồn dữ liệu thứ cấp kế thừa từ Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Quảng Ninh giai đoạn 2011-2015. Phương pháp phân tích không gian được thực hiện trên nền tảng phần mềm ArcGIS 10.1, sử dụng bản đồ hiện trạng sử dụng đất tỷ lệ 1/50.000 theo hệ quy chiếu VN-2000 kinh tuyến trục 107°45', múi chiếu 3°. Hệ thống tích hợp module quản trị cơ sở dữ liệu quan trắc tự động truyền tín hiệu liên tục qua mạng không dây GSM và mạng LAN nội bộ.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Kết quả kiểm kê và phân tích không gian cho thấy bức tranh phân bổ nguồn thải công nghiệp cố định tại vịnh Cửa Lục có sự tập trung không đồng đều. Trong tổng số 26 nguồn phát sinh nước thải, phường Hà Khánh chiếm mật độ lớn nhất với 13 nguồn (tương đương 50,0%), tập trung chủ yếu là các mỏ than như Giáp Khẩu, Bắc Bàng Danh và trạm cơ khí sửa chữa. Phường Bãi Cháy đứng thứ hai với 9 nguồn (chiếm 34,6%), nơi tập trung Khu công nghiệp Cái Lân, Cảng Cái Lân và Cảng xăng dầu B12. Phường Giếng Đáy có 3 nguồn (chiếm 11,5%), phường Việt Hưng và Yết Kiêu mỗi nơi ghi nhận 1 nguồn (chiếm 3,8%), trong khi phường Cao Xanh không có nguồn thải công nghiệp cố định.

Về hiện trạng pháp lý và công trình xử lý nước thải, 21 trong tổng số 26 cơ sở (đạt tỷ lệ 80,8%) đã được cấp phép xả thải vào nguồn nước, còn lại 5 cơ sở (chiếm 19,2%) chưa hoàn thiện thủ tục cấp phép. Có 22 cơ sở (chiếm 84,6%) đã đầu tư hệ thống xử lý nước thải cục bộ hoặc đấu nối trạm tập trung, tuy nhiên vẫn còn 4 cơ sở chưa hoàn thành công trình xử lý theo quy định.

Chất lượng nước mặt tại các phụ lưu đổ vào vịnh ghi nhận mức ô nhiễm cục bộ rất cao. Điển hình tại trạm suối Lại (NM2), hàm lượng chất rắn lơ lửng TSS đo được lên tới 187,4 mg/l, vượt 3,7 lần so với giới hạn cột B1 của quy chuẩn QCVN 08:2008/BTNMT (mức 50 mg/l). Chỉ số BOD5 tại đây đạt 32 mg/l, vượt 2,1 lần so với ngưỡng cho phép (15 mg/l). Đối với nước biển ven bờ, hàm lượng dầu mỡ khoáng tại trạm cầu Bãi Cháy (NB12) liên tục gia tăng và vượt giới hạn cho phép từ 1,2 đến 4,4 lần trong suốt chuỗi quan trắc 2012-2015. Chỉ số TSS tại trạm NVB8 đạt 157,1 mg/l, cao hơn gấp 3,1 lần giới hạn quy định cho vùng nuôi trồng thủy sản và bảo tồn sinh thái biển.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân cốt lõi dẫn đến tình trạng ô nhiễm chất rắn lơ lửng bắt nguồn từ cấu trúc địa hình lưu vực dạng hình phễu với độ dốc sườn núi lớn từ 15° đến 25°. Các đợt mưa lớn cực đoan, điển hình là trận mưa lịch sử với lượng mưa trên 1.000 mm năm 2015, đã gây xói mòn và rửa trôi đất đá từ các khai trường than lộ thiên phía Đông Bắc theo sông Diễn Vọng và suối Lại đổ thẳng ra vịnh. Sự gia tăng nồng độ dầu mỡ khoáng tại cầu Bãi Cháy gắn liền với mật độ hoạt động của các tàu vận tải trọng tải 4.000 TEU ra vào cảng Cái Lân cùng hoạt động tiếp nhận nhiên liệu tại cảng dầu B12 với dung tích 90.000 m3.

Để hiển thị trực quan các tương quan này, dữ liệu nghiên cứu có thể được mô hình hóa hiệu quả thông qua bản đồ nhiệt mật độ nguồn thải kết hợp đồ thị đường thể hiện biến thiên nồng độ dầu mỡ theo 12 quý liên tiếp. So sánh với các nghiên cứu ứng dụng công nghệ địa tin học tại lưu vực sông Sài Gòn - Đồng Nai hay đồng bằng sông Cửu Long, việc thiếu hệ thống cơ sở dữ liệu số hóa liên thông tại Quảng Ninh đã làm giảm 40% hiệu lực giám sát liên ngành. Thảm họa môi trường biển tại 4 tỉnh miền Trung năm 2016 là bài học đắt giá, khẳng định việc ứng dụng hệ thống thông tin địa lý và giám sát tự động 24/7 tại vịnh Cửa Lục là giải pháp cấp bách nhằm bảo vệ vùng lõi di sản vịnh Hạ Long.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, nâng cấp hạ tầng công nghệ thông tin và số hóa toàn diện cơ sở dữ liệu nguồn ô nhiễm. Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Quảng Ninh cần chủ trì triển khai cài đặt hệ thống máy chủ ArcGIS Server kết hợp cơ sở dữ liệu nguồn ô nhiễm PSD trước quý IV năm 2022. Mục tiêu là tự động hóa 100% việc tiếp nhận và xử lý dữ liệu truyền từ 26 trạm quan trắc cố định qua đường truyền mạng không dây GSM, đảm bảo cung cấp thông tin chất lượng nước liên tục 24/24 giờ.

Thứ hai, chuẩn hóa và bắt buộc lắp đặt hệ thống quan trắc nước thải tự động liên tục đối với các doanh nghiệp xả thải lớn. Ban Quản lý Khu kinh tế tỉnh cùng Ủy ban nhân dân thành phố Hạ Long yêu cầu 100% doanh nghiệp có lưu lượng nước thải từ 100 m3/ngày đêm trở lên (như Nhà máy Nhiệt điện Quảng Ninh công suất 1.250 m3/ngày đêm, Mỏ than Giáp Khẩu 125 m3/ngày đêm) phải hoàn thành lắp đặt trạm đo tự động các chỉ tiêu pH, TSS, COD, lưu lượng xả trước năm 2023, hướng tới giảm thiểu 35% lượng chất rắn lơ lửng xả ra môi trường.

Thứ ba, hoàn thiện công trình xử lý nước thải tập trung tại các khu, cụm công nghiệp. Công ty Cổ phần Phát triển Khu công nghiệp Việt Hưng cần khẩn trương đầu tư hoàn thiện trạm xử lý nước thải tập trung công suất thiết kế 4.000 m3/ngày đêm thay thế cho hệ thống tạm thời 300 m3/ngày đêm. Đồng thời, Cụm công nghiệp Hà Khánh quy mô 47,54 ha phải xây dựng trạm xử lý tập trung đạt chuẩn xả thải theo quy chuẩn QCVN 40:2011/BTNMT loại A trước năm 2024.

Thứ tư, siết chặt công tác thanh tra, kiểm tra và cưỡng chế pháp lý môi trường. Thanh tra Sở Tài nguyên và Môi trường phối hợp chặt chẽ với Phòng Cảnh sát Môi trường tiến hành thanh tra định kỳ 2 lần mỗi năm đối với 19,2% cơ sở chưa được cấp phép xả thải. Cần xử phạt nghiêm minh theo quy định pháp luật và đình chỉ hoạt động đối với các đơn vị cố tình trì hoãn đầu tư trạm xử lý nước thải trước năm 2023.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nhóm cơ quan quản lý nhà nước về môi trường bao gồm Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Quảng Ninh, Chi cục Bảo vệ Môi trường và Phòng Tài nguyên và Môi trường thành phố Hạ Long. Luận văn cung cấp mô hình thực tiễn để ứng dụng hệ thống thông tin địa lý vào công tác giám sát, số hóa hồ sơ cấp phép và quản lý 26 nguồn thải công nghiệp trên địa bàn một cách khoa học.

Nhóm ban quản lý khu công nghiệp và doanh nghiệp sản xuất, điển hình là Ban Quản lý Khu kinh tế Quảng Ninh, Tập đoàn Than - Khoáng sản Việt Nam (TKV), các chủ đầu tư hạ tầng KCN Cái Lân, KCN Việt Hưng và CCN Hà Khánh. Tài liệu giúp các đơn vị nắm bắt quy chuẩn kỹ thuật, thiết kế trạm xử lý nước thải phù hợp với lưu lượng từ 50 m3 đến 2.000 m3/ngày đêm và thiết lập mạng lưới truyền dữ liệu tự động về trung tâm điều hành.

Nhóm các viện nghiên cứu, giảng viên và học viên cao học chuyên ngành Quản lý Tài nguyên và Môi trường, Kỹ thuật Môi trường và Địa tin học (GIS). Đề tài đóng vai trò là tài liệu tham khảo giá trị về phương pháp luận kết hợp giữa quản lý lưu vực 610 km2, điều tra xã hội học và phân tích không gian trên phần mềm ArcGIS.

Nhóm các chuyên gia công nghệ thông tin và đơn vị tư vấn chuyển đổi số ngành môi trường. Luận văn cung cấp kiến trúc thiết kế hệ thống phần mềm giám sát đa module, giao diện trạm máy chủ và phương thức tích hợp dữ liệu truyền thông vô tuyến GSM phục vụ bài toán đô thị thông minh.

Câu hỏi thường gặp

  1. Mục tiêu cốt lõi của việc ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý nước vịnh Cửa Lục là gì? Mục tiêu chính là chuyển đổi mô hình quản lý thủ công sang nền tảng số hóa tự động, tích hợp hệ thống thông tin địa lý ArcGIS 10.1 và cơ sở dữ liệu nguồn ô nhiễm PSD. Giải pháp này giúp giám sát liên tục 24/24 giờ hiện trạng 26 nguồn thải cố định, cảnh báo sớm sự cố môi trường và hỗ trợ ra quyết định kịp thời cho lưu vực 610 km2.

  2. Tại sao suối Lại và khu vực phường Hà Khánh lại có mức độ ô nhiễm chất rắn lơ lửng cao nhất? Phường Hà Khánh tập trung tới 50,0% tổng số nguồn thải với 13 cơ sở sản xuất, chủ yếu là các khai trường khai thác than lớn như Giáp Khẩu và Bắc Bàng Danh. Địa hình sườn núi dốc từ 15° đến 25° kết hợp lượng mưa lớn đã cuốn trôi bụi than và đất đá xói mòn xuống suối Lại, đẩy hàm lượng TSS lên mức 187,4 mg/l, vượt 3,7 lần tiêu chuẩn cho phép.

  3. Diễn biến ô nhiễm dầu mỡ khoáng tại khu vực cầu Bãi Cháy trong giai đoạn nghiên cứu ra sao? Tại trạm cầu Bãi Cháy, nồng độ dầu mỡ khoáng có chiều hướng gia tăng liên tục từ quý III năm 2012 đến năm 2015, vượt quy chuẩn từ 1,2 đến 4,4 lần. Nguyên nhân do mật độ tàu thuyền tải trọng lớn ra vào Cảng Cái Lân và hoạt động xuất nhập dầu tại Cảng dầu B12 với hệ thống 12 bể chứa tổng dung tích 90.000 m3.

  4. Hệ thống cơ sở dữ liệu không gian của đề tài được thiết lập trên nền tảng công nghệ nào? Hệ thống sử dụng phần mềm ArcGIS 10.1 trên nền bản đồ hiện trạng sử dụng đất tỷ lệ 1/50.000, hệ tọa độ VN-2000 kinh tuyến trục 107°45', múi chiếu 3°. Nền tảng kết nối các module quản trị người dùng, bản đồ không gian và phân tích thuộc tính nguồn thải với các trạm quan trắc tự động truyền tin qua mạng không dây GSM.

  5. Luận văn đề xuất giải pháp cấp bách nào đối với các doanh nghiệp chưa có trạm xử lý nước thải? Luận văn kiến nghị cơ quan chức năng tiến hành xử phạt vi phạm hành chính, áp dụng thời hạn cưỡng chế trước năm 2023 buộc 19,2% cơ sở chưa có giấy phép phải đầu tư hệ thống xử lý nội bộ đạt chuẩn QCVN 40:2011/BTNMT hoặc đấu nối trực tiếp vào các trạm xử lý tập trung công suất từ 300 m3 đến 2.000 m3/ngày đêm.

Kết luận

  • Luận văn đã phân tích toàn diện hiện trạng phát sinh chất thải tại lưu vực vịnh Cửa Lục rộng trên 610 km2, xác lập danh mục kiểm kê chi tiết 26 nguồn phát sinh nước thải công nghiệp cố định tại 6 phường trung tâm thành phố Hạ Long.
  • Đề tài chỉ rõ thực trạng chất lượng môi trường với các điểm nóng ô nhiễm, bao gồm nồng độ chất rắn lơ lửng TSS tại suối Lại vượt 3,7 lần quy chuẩn và hàm lượng dầu mỡ khoáng tại Bãi Cháy vượt tới 4,4 lần tiêu chuẩn cho phép.
  • Đóng góp khoa học then chốt là xây dựng thành công cơ sở dữ liệu nguồn ô nhiễm PSD tích hợp trên nền tảng phần mềm ArcGIS 10.1 theo hệ quy chiếu VN-2000, tạo công cụ quản lý không gian trực quan và chính xác.
  • Đóng góp thực tiễn nổi bật là thiết lập cơ chế giám sát tự động 24/24 giờ qua hạ tầng mạng GSM, giúp rút ngắn thời gian xử trị sự cố môi trường và chuẩn hóa dữ liệu cho mục tiêu chuyển đổi mô hình kinh tế từ nâu sang xanh của tỉnh Quảng Ninh.
  • Lộ trình giai đoạn 2021-2030 đòi hỏi sự vào cuộc quyết liệt của các cấp quản lý và cộng đồng doanh nghiệp trong việc hoàn thiện các trạm xử lý tập trung công suất 4.000 m3/ngày đêm và liên thông dữ liệu quan trắc toàn tỉnh.

Các cơ quan quản lý, ban quản lý khu công nghiệp và nhà khoa học hãy tham khảo, chia sẻ và ứng dụng ngay mô hình quản lý số hóa từ luận văn để chung tay bảo vệ bền vững Di sản thiên nhiên thế giới vịnh Hạ Long.