chương 1, phương pháp phân tích làm rõ tác hại của phế liệu nhựa và tìm ra những nguyên nhân, mâu thuẫn và các nguy cơ tiềm ẩn trong việc quản lý nhập khẩu phế liệu nhựa. Ở chương 2 và 3, phương pháp phân tích giúp làm rõ các nguyên tắc trong thương mại quốc tế và quy định pháp luật Việt Nam về các biện pháp trong quản lý nhập khẩu phế liệu nhựa. - Phương pháp tổng hợp, so sánh, đánh giá, bình luận Phương pháp này chủ yếu được sử dụng ở chương 3, thông qua tổng hợp, so sánh giữa pháp luật Việt Nam và các cam kết quốc tế. Phương pháp đánh giá được sử dụng để đưa ra kết luận về tính tương thích của pháp luật Việt Nam với cam kết quốc tế.
Ngoài ra, đề tài còn sử dụng phương pháp bình luận để đưa ra ý kiến của tác giả về các cơ sở pháp lý quốc tế mà Việt Nam có thể sử dụng cũng như các điều kiện cần đáp ứng. Ý nghĩa lý luận – thực tiễn - Ý nghĩa lý luận: Đề tài đưa ra các kiến nghị để hoàn thiện quy định của pháp luật Việt Nam về quản lý nhập khẩu phế liệu nhựa, nhất là trong việc xây dựng quy định “Trách nhiệm mở rộng của doanh nghiệp” trong Luật Bảo vệ môi trường. Ngoài ra, nội dung nghiên cứu của đề tài còn là tài liệu tham khảo để các công trình khác nghiên cứu về các biện quản lý nhập khẩu phế liệu nhựa dưới góc độ pháp lý. - Ý nghĩa thực tiễn: Đề tài đưa ra các giải pháp giúp giải quyết những bất cập trong thực tiễn làm cho quá trình áp dụng các trình tự, thủ tục hải quan về quản lý nhập khẩu được hiệu quả hơn.
Đồng thời, tác giả đưa ra các gợi ý kinh nghiệm trong pháp luật của một số quốc gia để xây dựng nền kinh tế tuần hoàn, hướng đến phát triển bền vững tại Việt Nam. Bố cục luận văn Luận văn có bố cục gồm 03 chương: Chƣơng 1. Tổng quan tình hình quản lý nhập khẩu phế liệu nhựa tại Việt Nam Chƣơng 2. Nguyên tắc trong luật thương mại quốc tế liên quan đến quản lý nhập khẩu phế liệu nhựa Chƣơng 3.
Quy định pháp luật Việt Nam về quản lý nhập khẩu phế liệu nhựa trong mối tương quan với các cam kết quốc tế và một số kiến nghị 7 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH QUẢN LÝ NHẬP KHẨU PHẾ LIỆU NHỰA TẠI VIỆT NAM 1. Sơ lƣợc chung về phế liệu nhựa 1. Khái niệm về phế liệu nhựa Đối với các ngành công nghiệp sản xuất, phế liệu, nhất là phế liệu nhựa được xem là nguồn nguyên liệu chính yếu mang lại giá trị kinh tế cao và góp phần bảo vệ môi trường. Song, khái niệm về phế liệu trong mối tương quan phân biệt với chất thải luôn là vấn đề còn nhiều tranh luận bởi cách hiểu thông thường và thuật ngữ pháp lý có sự khác biệt.
Có thể nói, việc phân biệt phế liệu và chất thải đóng vai trò rất quan trọng trong thương mại quốc tế. Nó ảnh hưởng đến việc xây dựng và áp dụng các tiêu chí, điều kiện nhập khẩu khác nhau cũng như trong việc xác định trách nhiệm pháp lý khi thực hiện hành vi vi phạm. Đơn cử như Việt Nam, chính phủ cấm nhập khẩu mọi loại chất thải dưới bất kỳ hình thức nào; chỉ cho phép nhập khẩu phế liệu đủ điều kiện quy định để phục vụ cho sản xuất. Có rất nhiều khái niệm được đưa ra để định nghĩa chất thải, tuy nhiên ở mỗi khái niệm đều có những phân tích khác nhau về ngữ nghĩa, khai thác một số khía cạnh chứ không phải một cách toàn diện.
Ví dụ như: Trong Từ điển Môi trường và Phát triển bền vững Anh – Việt và Việt – Anh định nghĩa: “Chất thải là mọi chất rắn, lỏng hoặc khí mà cơ thể hoặc hệ thống sinh 1 ra nó không còn sử dụng được nữa và cần có biện pháp thải bỏ”. Ở khía cạnh này, người ta xét trên mục đích sử dụng của vật liệu. Khi một vật không còn sử dụng được nữa thì xem là chất thải. Tuy nhiên, điều này không thực sự hợp lý.
Bởi lẽ, giá trị sử dụng của một vật đối với mỗi đối tượng là khác nhau, có thể với người này là không còn sử dụng được nữa nhưng với người khác lại là vật còn có thể tận dụng và tạo ra lợi ích kinh tế. Một cách định nghĩa khác về chất thải trong Từ điển Tiếng Việt của Viện 2 ngôn ngữ học là “Chất thải là rác và những đồ vật bị bỏ đi nói chung”. Đối với cách hiểu này, chất thải được khái quát rất rộng trên tất cả các đồ vật bị bỏ đi. Song, 1Đặng Mộng Lân, Lê Mạnh Chiến, Nguyễn Ngọc Hải, Nguyễn Quang Anh, Đặng Văn Sử (2001), Từ điển Môi trường và Phát triển bền vững Anh – Việt và Việt Anh, NXB.
Khoa học và Kỹ thuật, tr. 2 Hoàng Phê (2003), Từ điển Tiếng Việt, NXB. Đà Nẵng – Trung tâm Từ điển học, tr. 8 giá trị của nó đối với chủ sở hữu và xã hội lại có thể khác nhau.
Cùng là một vật nhưng người này bỏ đi thì xem là chất thải nhưng đối tượng khác không bỏ đi thì lại không xem là chất thải. Việc này tạo ra sự không thống nhất trong quan điểm về chất thải đối với một vật liệu cụ thể. Dưới góc độ pháp lý, pháp luật Việt Nam cho rằng, chất thải là vật chất được thải ra từ sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, sinh hoạt 3 hoặc hoạt động khác. Tức là, chất thải là “chất” được “thải bỏ”.
Mặc dù có nhiều cách định nghĩa khác nhau, chúng ta vẫn có thể hiểu rằng chất thải là các sản phẩm bị thải bỏ, không còn có khả năng tận dụng vào bất kỳ một hoạt động nào của con người. Trong Từ điển tiếng Việt của Viện ngôn ngữ học, “Phế liệu là vật bỏ đi từ 4 những nguyên liệu đã qua chế biến”. Theo cách hiểu này, phế liệu được hiểu là phế phẩm từ nguyên liệu, tức là được mọi vật sau khi sử dụng, bị bỏ đi đều trở thành phế liệu. Dưới góc độ này, phế liệu được xem là chất thải.
Tuy nhiên, ở góc độ pháp lý, phế liệu được định nghĩa là vật liệu được thu hồi, phân loại, lựa chọn từ những vật liệu, sản phẩm đã bị loại bỏ từ quá trình sản 5 xuất hoặc tiêu dùng để sử dụng làm nguyên liệu cho một quá trình sản xuất khác. Điều này có nghĩa là, không phải loại chất thải nào cũng được xem là phế liệu. Bộ Tài nguyên và Môi trường phân biệt phế liệu và chất thải ở chỗ, chỉ có những chất thải nào được phân loại, lựa chọn, có thể tái sử dụng và dùng làm nguyên liệu cho quá trình sản xuất thì mới được xem là phế liệu. Trong khi đó, Bộ tài chính lại xem phế liệu là hàng hoá mua bán quốc tế, là nguyên liệu sản xuất.
Chính vì sự giao thoa này, phế liệu trong đối tượng nghiên cứu của luận văn phải đáp ứng các quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về môi trường và được quản lý, giám sát kiểm tra thông qua các thủ tục của cơ quan hải quan. Như vậy, phế liệu nhựa được hiểu là vật liệu được thu hồi từ những sản phẩm nhựa bị loại bỏ và được sử dụng làm nguyên liệu cho hoạt động sản xuất khác. Vì bản chất là nhựa, phế liệu nhựa thừa hưởng tất cả các tính chất của một vật liệu nhựa vốn có. Thứ nhất, phế liệu nhựa có ưu điểm vượt trội hơn so với các nguyên liệu truyền thống (kim loại, gỗ, thuỷ tinh, da…) như khả năng chống ăn mòn, chống thấm; tính chất này khiến cho việc xử lý các phế liệu nhựa trở nên phức tạp, chi phí cao và 3 Khoản 12, Điều 3 Luật Bảo vệ môi trường 2014.
4 Hoàng Phê (2003), tlđd (2), tr. 5 Khoản 16, Điều 3 Luật Bảo vệ môi trường 2014. 9 gây nguy cơ ô nhiễm môi trường từ chất khí độc hại sản sinh trong quá trình tiêu huỷ. Song song đó, phế liệu nhựa dễ tạo hình và sản xuất; có khả năng tái sinh và tính đa dạng lớn.
Do đó, chúng được tận dụng làm nguyên liệu phục vụ trở lại cho các ngành sản xuất, vừa mang lại lợi ích kinh tế cao vừa bảo vệ môi trường trong sạch. Thứ hai, phế liệu nhựa dùng làm nguyên liệu sản xuất có nguồn gốc từ vật liệu nhựa nhiệt dẻo. Lý do là vì, so với nhựa nhiệt rắn không có khả năng tái sinh, nhựa nhiệt dẻo khi nung nóng đến một nhiệt độ nhất định sẽ dễ biến đổi hình dạng, 6 có đặc tính linh hoạt, khả năng tái sinh tốt và chi phí sản xuất rẻ hơn. Phế liệu nhựa trong danh mục được cho phép nhập khẩu của Việt Nam cũng là các phế liệu nhựa nhiệt dẻo như PP, PE, PVC.
Tác hại của phế liệu nhựa Mặc dù đóng vai trò quan trọng trong quá trình xây dựng nền kinh tế tuần hoàn, hướng đến mục tiêu phát triển bền vững, phế liệu nhựa nếu không được quản lý đúng cách hoặc cho phép nhập khẩu tràn lan sẽ tạo ra những tác hại nghiêm trọng đến môi trường và sức khoẻ con người, nhất là khi rác thải nhựa không đạt quy chuẩn môi trường được trộn lẫn và xâm nhập vào lãnh thổ quốc gia. Hiện nay, Trung Quốc, Việt Nam và một số quốc gia đều ban hành lệnh cấm hoặc hạn chế nhập khẩu phế liệu nhựa, nguyên nhân chính là vì những tác hại tiềm tàng của nó. Thứ nhất, phế liệu nhựa chứa các chất nguy hiểm ảnh hưởng đến sức khoẻ của con người Phế liệu nhựa từ các sản phẩm hàng ngày chứa rất nhiều hợp chất hoá học gọi chung là “chất gây rối loạn nội tiết” (Endocrine Disrupting Chemicals - EDC) như chất per- và polyfluoroalkyl (PFAS), phthalates, bisphenol A (BPA), các kim loại 7 độc hại như chì và cadmium. Thực chất chúng được cố ý thêm vào nhựa để cải thiện độ bền của chúng, tuy nhiên, sau đó chúng bị ném ra các bãi rác và phân huỷ thành các hạt vi nhựa.
Sức khỏe con người có thể bị ảnh hưởng do ăn phải nhựa bằng cách tiêu thụ thực phẩm bị nhiễm các hạt vi nhựa. Điều này rất có thể xảy ra thông qua hải sản, đặc biệt là động vật có vỏ, trai và hàu khi rác thải nhựa tràn lan khắp các đại dương. 6 Tạ Việt Phương (2019), Báo cáo ngành nhựa – Giải quyết bài toán nguyên liệu, duy trì đà tăng trưởng, FPT Securities, tr. 7Alessio D’Amato (SEEDS), Susanna Paleari (IRcRES-CNR), Maija Pohjakallio (VTT), Ive Vanderreydt (VITO), Roberto Zoboli (SEEDS) (2019), Plastics waste trade and the environment, European Topic Centre Waste and Materials in a Green Economy, pp.