Quản lý nhà nước về việc làm cho nông dân bị thu hồi đất tại tỉnh Hải Dương

Tài liệu nghiên cứu Quản lý nhà nước về việc làm cho nông dân bị thu hồi đất trên địa bàn tỉnh hải dương, tổng hợp lý thuyết và thực hành, cung cấp kiến thức chuyên sâu về .

Trường đại học

Học viện Hành chính Quốc gia

Chuyên ngành

Quản lý công

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2022

206
1
0

Phí lưu trữ

55 Point

Tóm tắt

I. Giới thiệu về vấn đề việc làm cho nông dân bị thu hồi đất

Việc làm cho nông dân bị thu hồi đất là một vấn đề cấp bách tại tỉnh Hải Dương. Khi đất nông nghiệp bị thu hồi, người nông dân mất đi nguồn thu nhập chính, dẫn đến tình trạng thất nghiệp và khó khăn trong cuộc sống. Theo thống kê, từ năm 2013 đến 2019, tỉnh Hải Dương đã thu hồi khoảng 60.000 ha đất nông nghiệp, ảnh hưởng đến hàng nghìn hộ nông dân. Việc giải quyết việc làm cho những người này không chỉ là trách nhiệm của chính quyền địa phương mà còn là một phần quan trọng trong phát triển kinh tế xã hội của tỉnh. Để đảm bảo cuộc sống cho nông dân, cần có những giải pháp việc làm hiệu quả, bao gồm đào tạo nghề, hỗ trợ chuyển đổi ngành nghề và phát triển các mô hình kinh tế mới.

1.1. Tình hình thu hồi đất tại Hải Dương

Tình hình thu hồi đất tại Hải Dương diễn ra mạnh mẽ trong bối cảnh phát triển công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Nhiều dự án lớn đã được triển khai, dẫn đến việc thu hồi đất nông nghiệp. Điều này không chỉ ảnh hưởng đến đời sống của nông dân mà còn tạo ra những thách thức trong việc giải quyết việc làm cho họ. Chính quyền địa phương cần có những chính sách hợp lý để hỗ trợ nông dân trong quá trình chuyển đổi nghề nghiệp.

1.2. Tác động của thu hồi đất đến việc làm

Việc thu hồi đất đã làm giảm đáng kể số lượng việc làm trong lĩnh vực nông nghiệp. Nhiều nông dân không có kỹ năng để chuyển đổi sang các ngành nghề khác, dẫn đến tình trạng thất nghiệp. Các giải pháp như đào tạo nghề và hỗ trợ chuyển đổi nghề nghiệp cần được triển khai mạnh mẽ để giúp nông dân tìm kiếm việc làm mới và ổn định cuộc sống.

II. Các giải pháp việc làm cho nông dân bị thu hồi đất

Để giải quyết việc làm cho nông dân bị thu hồi đất, cần có một hệ thống giải pháp đồng bộ và hiệu quả. Trước hết, cần tăng cường đào tạo nghề cho nông dân, giúp họ có kỹ năng cần thiết để tham gia vào thị trường lao động. Thứ hai, chính quyền cần xây dựng các chính sách hỗ trợ chuyển đổi nghề nghiệp cho nông dân, tạo điều kiện cho họ tham gia vào các ngành nghề mới. Cuối cùng, việc phát triển các mô hình kinh tế mới, như khởi nghiệp nông thôn, cũng cần được khuyến khích để tạo ra nhiều cơ hội việc làm hơn cho nông dân.

2.1. Đào tạo nghề cho nông dân

Đào tạo nghề là một trong những giải pháp quan trọng nhất để giúp nông dân bị thu hồi đất có thể tìm kiếm việc làm mới. Các chương trình đào tạo cần được thiết kế phù hợp với nhu cầu của thị trường lao động, đồng thời phải đảm bảo tính khả thi và hiệu quả. Việc hợp tác với các doanh nghiệp trong việc đào tạo nghề cũng là một hướng đi cần được chú trọng.

2.2. Hỗ trợ chuyển đổi nghề nghiệp

Hỗ trợ chuyển đổi nghề nghiệp cho nông dân là một yếu tố quan trọng trong việc giải quyết việc làm. Chính quyền địa phương cần có các chính sách hỗ trợ tài chính, tư vấn nghề nghiệp và kết nối với các doanh nghiệp để tạo ra cơ hội việc làm cho nông dân. Việc này không chỉ giúp nông dân ổn định cuộc sống mà còn góp phần vào sự phát triển kinh tế của tỉnh.

III. Đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp

Thực trạng quản lý nhà nước về việc làm cho nông dân bị thu hồi đất tại Hải Dương hiện nay còn nhiều hạn chế. Các chính sách chưa đồng bộ, thiếu sự phối hợp giữa các cơ quan chức năng. Để khắc phục tình trạng này, cần có sự cải cách trong chính sách hỗ trợquản lý nhà nước về việc làm. Cần thiết phải xây dựng một hệ thống thông tin thị trường lao động hiệu quả, giúp nông dân dễ dàng tiếp cận thông tin việc làm và các chương trình đào tạo nghề.

3.1. Đánh giá thực trạng quản lý nhà nước

Quản lý nhà nước về việc làm cho nông dân bị thu hồi đất tại Hải Dương hiện nay còn nhiều bất cập. Các chính sách chưa được thực hiện đồng bộ, dẫn đến tình trạng nông dân không được hỗ trợ kịp thời. Cần có sự cải cách trong quản lý nhà nước để đảm bảo quyền lợi cho nông dân.

3.2. Đề xuất giải pháp cải cách

Để cải cách quản lý nhà nước về việc làm cho nông dân, cần xây dựng một hệ thống thông tin thị trường lao động hiệu quả. Đồng thời, cần có các chính sách hỗ trợ cụ thể cho nông dân trong việc chuyển đổi nghề nghiệp và đào tạo nghề. Việc này sẽ giúp nông dân có cơ hội tìm kiếm việc làm mới và ổn định cuộc sống.

01/02/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 1. Những công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án Commented [TM1]: 1. Những công trình nghiên cứu liên quan đến việc làm cho NDBTHĐ Nghiên cứu của Akram -Lodhi, A Haroon (1988) trong cuốn Land Markets and Rural Livelihoods in Vietnam. Land, Poverty and Livelihoods in an Era of Globalization:Perspectives from Developing and Transition Countries, (Thị trường đất đai và sinh kế nông thôn ở Việt Nam.

Đất đai, Nghèo đói và Sinh kế trong Kỷ nguyên Toàn cầu hóa: Quan điểm từ các nước đang phát triển và chuyển đổi) [120]. Nghiên cứu của Akram - Lodhi cho rằng, “người không có đất ở nông thôn đang tăng nhanh, những người này bị cách ly ra khỏi phương tiện sản xuất (PTSX) và sinh sống bằng cách bán sức lao động (SLĐ) của mình là những người nghèo nhất trong KVNT” [120], có rất nhiều nguyên nhân, nhưng rõ ràng có nguyên nhân chính là nông dân mất đất, mà đất đai là TLSX chủ yếu của người nông dân, là nguồn sinh kế chủ yếu, là cơ sở để TVL, tạo thu nhập và ASXH, ảnh hưởng của mất đất SXNN tới sinh kế, việc làm của NND. Đòi hỏi QLNN có giải pháp phù hợp khi THĐ của nông dân để tiến hành CNH – HĐH. Nghiên cứu của Dasgupta, Partha, and Debraj Ray (1986) trong cuốn Inequality as a Determinant of Malnutrition and Unemployment (Sự bất bình đẳng là một yếu tố quyết định tình trạng suy dinh dưỡng và thất nghiệp) [128].

Nghiên cứu của Dasgupta, Partha, and Debraj Ray cho rằng, “mối liên hệ giữa thị trường đất đai (TTĐĐ) và TTLĐ” [128]. Nghiên cứu chỉ ra rằng, “tồn tại tổn thất về phúc lợi khi có độ trễ hay khoảng cách trong sự điều chỉnh TTLĐ và sự biến động trong TTĐĐ, khi mức lương bị giảm do cải cách ruộng đất, NND bán đất để thoát cảnh khó khăn” [128]. Giả sử “quyết định bán đất được đưa ra trước khi đạt điểm cân bằng mới trên TTLĐ mới mà kết quả này thường không đoán được và chi phí giao dịch khá lớn để người mua có thể mua lại đất. 11 Nếu nhiều người bán quyền sử dụng đất, thì lượng cung toàn TTLĐ sẽ tăng lên làm cho mức lương giảm xuống” [128].

Nghiên cứu của tác giả Dfids (2006) trong cuốn Sustainable Livelihoods Guidance Sheets (Bảng hướng dẫn về sinh kế bền vững của DFID) [129]. Dfids cho rằng có 5 vốn sinh kế, đồng thời tác giả chỉ ra “một sinh kế muốn bền vững thì khi nó có khả năng ứng phó và phục hồi khi bị tác động, hoặc có thể thúc đẩy các khả năng và tài sản ở thởi điểm hiện tại và trong tương lai, trong khi không làm sói mòn nguồn lực tự nhiên” [129]. Nghiên cứu của Dfids đưa ra biến đổi trong các chế độ sở hữu đất hay tiếp cận đất đai dường như sẽ ảnh hưởng đến sinh kế bền vững (SKBV) của người nông dân. 5 loại vốn sinh kế mà tác giả chỉ ra, bao gồm: “vốn vật chất, vốn tài chính, vốn xã hội, vốn con người, vốn tự nhiên”.

Có nhiều nguồn lực tạo thành vốn tự nhiên, bao gồm cả các nguồn lực đất đai. Quyền sử dụng đất hàm chứa nhiều ý nghĩa và giá trị quan trọng như một PTSX, một nguồn thu nhập và một loại tài sản có giá trị, đặc biệt là đối với những người sinh sống ở các KVNT và ven đô, đất đai là nguồn tài sản có giá trị nhất và là một loại TLSX quan trọng để đạt được mục tiêu sinh kế. Vì thế, biến đổi trong các chế độ sở hữu đất đai hay tiếp cận đất đai dường như sẽ ảnh hưởng đến an ninh sinh kế của NND. Những loại vốn SKBV là cơ sở để nghiên cứu các giải pháp QLNN về GQVL bền vững của luận án.

Nghiên cứu của FilipePaulo (2005) trong cuốn The right to land a livelihood: The dynamics of land tenure systems in Conda, Amboim and Sumbe municipalities (Quyền có đất để sinh kế: Động lực của hệ thống sở hữu đất ở các thành phố tự trị Conda, Amboim và Sumbe) [131]. Nghiên cứu của FilipePaulo cho rằng khung SKBV coi đất đai là tài sản tự nhiên rất quan trọng đối với sinh kế nông thôn và ẩn trong khung SKBV là một lý thuyết cho rằng con người của chúng ta thường dựa vào năm loại tài sản vốn hay hình thức vốn, để giảm nghèo và đảm bảo an ninh, đảm bao sinh kế của mình. Năm loại tài sản vốn gồm: vốn vật chất (physicalcapital), vốn tài chính (financial capital), 12 vốn xã hội (social capital), vốn con người (human capital) và vốn tự nhiên (natural capital) đây là những loại vốn đóng cả hai vai đầu vào và đầu ra. Nghiên cứu chỉ ra tiếp cận SKBV cũng thừa nhận rằng các chính sách, thể chế và quá trình có ảnh hưởng đến sự tiếp cận và việc sử dụng các tài sản mà cuối cùng ảnh hưởng đến sinh kế.

Nghiên cứu của Cernea, Micheal (1988) trong cuốn: “Involuntary Resettlement in DevelopmentProjects: Policy Guidelines in World Bank Financed Project” (Tái định cư không bắt buộc trong các dự án phát triển: Hướng dẫn chính sách trong dự án do Ngân hàng Thế giới tài trợ) [126]. Nghiên cứu của Cernea, Micheal chỉ ra rủi ro mà nông dân ở các khu tái định cư phải đương đầu, khiến họ trở lên bị nghèo sau các dự án phát triển. Đối mặt với nó là các nguy cơ bao gồm nguy cơ mất đất, thất nghiệp, vô gia cư, rơi vào ngưỡng nghèo, tăng tình trạng bệnh tật và tử vong, thiếu an ninh lương thực, không tiếp cận được các tài sản chung, và sự chia tách các mạng lưới xã hội. Ngoài ra người NDBTHĐ còn chịu ảng hưởng nặng nề bởi thiệt hại về vật chất.

Nghiên cứu của Cernea, Micheal chỉ ra tùy vào lĩnh vực và điều kiện mỗi địa phương mà những người bị di rời còn chịu rủi ro khác mà nguy cơ lớn nhất là trẻ em khi ra các khu tái định cư mới. Nghiên cứu của Cernea, Micheal (1997) trong cuốn The Risk and Reconstruction Model for Resettling Displaced Populations (Mô hình Rủi ro và Tái thiết để tái định cư dân cư bị phân tán) [127]. Nghiên cứu của Cernea, Micheal (1997) chỉ ra sau tái định cư do thu nhập của họ giảm, nhiều trẻ em di rời từ nơi định cư này đến khu tái định cư mới nên phải đi làm sớm hơn bình thường, do đó làm tăng nguy cơ thất học của trẻ em cao. Chính vì di rời ra khu định cư mới nên nguy cơ bỏ học của trẻ em ở các lứa tuổi khác nhau là rất cao, mặt khác người nông dân không có thu nhập và bị mất đất vào sẽ rơi vào cảnh nghèo trong tương lai không xa.

Nghiên cứu của Tim Hanstad, Robin Nielsn and Jennifer Brown (2004) trong cuốn “Land and livelihoods: Making land rights real for India’s rural 13 poor” (Đất đai và sinh kế: Làm cho quyền đất đai trở thành hiện thực cho người nghèo ở nông thôn Ấn Độ) [133]. Tim Hanstad, Robin Nielsn and Jennifer Brown chỉ ra rằng cơ sở để người nông dân tiếp cận các loại tài sản khác và những sự lựa chọn sinh kế thay thế thì quyền đất đai đóng một vị trí quan trọng về nhiều mặt. Chẳng hạn, đảm bảo an ninh tiếp đối với cận đất có thể là mục tiêu sinh kế của nông dân. Theo Paulo Filipe (2005) trong cuốn “The right to land a livelihood: The dynamics of land tenure systems in Conda, Amboim and Sumbe municipalities” (Quyền có đất để sinh kế: Động lực của hệ thống sở hữu đất ở các thành phố tự trị Conda, Amboim và Sumbe) [131], việc thiếu tiếp cận đối với đất đai là một hạn chế quan trọng đối với sinh kế của nhiều người và những người không có đảm bảo quyền của mình đối với đất đai, khi diễn ra thu hồi thì thường bị đền bù một cách không công bằng.

Mặt khác nghiên cứu cũng chỉ ra đất đai cũng là một tài sản tự nhiên mà qua đó có thể đạt được các mục tiêu sinh kế khác như bình đẳng giới và sử dụng bền vững các nguồn lực. Theo Chris Huggins, PriscaKamungi, Joan Kariuki, Herman Musahara, Jonstone Summit Oketch, Koen Vlassenroot and Judi W. Nghiên cứu chỉ ra rằng nếu tiếp cận một cách không đầy đủ đối với đất đai là nhân tố cơ bản thì nó sẽ làm hạn chế khả năng cải thiện cuộc sống của hàng ngàn cư dân nông thôn, như ở một số vùng của Cộng hòa dân chủ Congo, Burundi, Keynia, Uganda nơi có mật độ dân số rất đông. Nghiên cứu của Cernea, Diana (1998), trong cuốn: Sustainable Livelihoods Approaches: Progress andPossibilities for Change (Phương pháp tiếp cận sinh kế bền vững: quá trình và khả năng thay đổi) [125].

Nghiên cứu chỉ ra nhiều bằng chứng thực nghiệm đã cho thấy những rủi ro mà người dân các khu vực tái định cư phải đương đầu, khiến họ trở nên nghèo hóa sau các dự 14 án phát triển và trẻ em thường chịu những hậu quả lớn trong quá trình tái định cư như nguy cơ mất học. Mặt khác, nghiên cứu chỉ ra rằng nếu mất đất thì phải đối mặt với các nguy cơ như nguy cơ thất nghiệp, vô gia cư, rơi vào ngưỡng nghèo, thất học, tăng tình trạng bệnh tật và tử vong, thiếu an ninh lương thực, không tiếp cận được các tài sản chung và sự chia tách các mạng lưới xã hội. Bên cạnh những nguy cơ trên, nghiên cứu còn chỉ ra tùy theo lĩnh vực và điều kiện cụ thể ở địa phương mà những người bị di dời còn chịu những rủi ro khác ngoài các rủi ro nêu trên, việc di dời thường cắt ngang việc học của trẻ em và một số trẻ em không được đi học trở lại. Sau khi tái định cư, do thu nhập của hộ giảm xuống, nhiều trẻ em đã phải đi làm sớm hơn bình thường, do đó làm tăng nguy cơ thất học của trẻ em ở các vùng tái định cư.

Chính những rủi ro như trên làm cho các hộ nông dân và con cái của họ rơi vào ngưỡng nghèo trong một tương lai không xa. Nghiên cứu của Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB) (2004) “Báo cáo về những tác động và giải pháp nhằm giảm thiểu hóa những tổn thất khi thực hiện dự án thu hồi đất và tái định cư” [65]. Nghiên cứu chỉ ra không thể tránh khỏi hoặc giảm tối thiểu những tổn thất khi thực hiện dự án “từ việc THĐ và tái định cư, THĐ và dịch chuyển chỗ ở của người dân có thể gây ra sự thiếu thống nhất nghiêm trọng và những tổn hại về KT – XH - MT, nếu không có một kế hoạch cẩn thận và không thực hiện như một dự án phát triển” [65].

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài viết "Giải pháp việc làm cho nông dân bị thu hồi đất tại Hải Dương" đề cập đến những thách thức mà nông dân phải đối mặt khi đất đai của họ bị thu hồi, đồng thời đưa ra các giải pháp cụ thể nhằm tạo ra việc làm và cải thiện đời sống cho họ. Các giải pháp này không chỉ giúp nông dân tái định cư mà còn khuyến khích họ tham gia vào các hoạt động kinh tế mới, từ đó nâng cao thu nhập và ổn định cuộc sống. Bài viết mang lại cái nhìn sâu sắc về tình hình hiện tại và những cơ hội phát triển cho nông dân, giúp độc giả hiểu rõ hơn về vấn đề này.

Nếu bạn muốn tìm hiểu thêm về các khía cạnh liên quan đến phát triển kinh tế nông nghiệp, hãy tham khảo các tài liệu như Luận văn phát triển kinh tế trang trại theo hướng bền vững trên địa bàn huyện Tân Yên tỉnh Bắc Giang, nơi cung cấp thông tin về mô hình trang trại bền vững, hay Luận văn giải quyết việc làm lao động nông thôn Thanh Trì, với những giải pháp cụ thể cho việc làm tại khu vực nông thôn. Ngoài ra, bạn cũng có thể tham khảo Luận văn hiệu quả hoạt động cho vay tại ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam chi nhánh huyện Thống Nhất tỉnh Đồng Nai để hiểu rõ hơn về vai trò của tín dụng trong việc hỗ trợ nông dân. Những tài liệu này sẽ giúp bạn mở rộng kiến thức và có cái nhìn toàn diện hơn về các giải pháp phát triển kinh tế nông nghiệp.