Tổng quan về luận án
Tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH - HĐH) và đô thị hóa (ĐTH) trên quy mô toàn cầu luôn gắn liền với sự chuyển dịch mạnh mẽ của cơ cấu kinh tế và biến động địa mạo đất đai. Tại Việt Nam, quá trình thu hồi đất (THĐ) nông nghiệp để phục vụ các dự án khu công nghiệp, hạ tầng giao thông và khu đô thị đã tạo ra những đứt gãy sinh kế nghiêm trọng đối với giai cấp nông dân – nhóm đối tượng dựa hoàn toàn vào đất đai như tư liệu sản xuất (TLSX) chính yếu. Luận án tiến sĩ chuyên ngành Quản lý công (Mã số: 9 34 04 03) của NCS Lương Thị Quyên (2022) với đề tài "Quản lý nhà nước về việc làm cho nông dân bị thu hồi đất trên địa bàn tỉnh Hải Dương" dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Đinh Thị Minh Tuyết và PGS. Phạm Kiên Cường tại Học viện Hành chính Quốc gia, là một công trình tiên phong tiếp cận vấn đề giải quyết việc làm (GQVL) cho nông dân bị thu hồi đất (NDBTHĐ) dưới lăng kính quản lý công và chính sách công đa chiều.
Khoảng trống nghiên cứu (research gap) mà luận án giải quyết xuất phát từ thực tế: các công trình trước đây chủ yếu tập trung vào chính sách bồi thường tài chính đơn thuần hoặc đánh giá tác động kinh tế vi mô (Lê Du Phong, 2007; Nguyễn Văn Nhường, 2011), mà thiếu vắng một khung lý thuyết và mô hình can thiệp hành chính công đồng bộ kết nối 6 trụ cột quản trị việc làm ở cấp độ chính quyền địa phương. Luận án giải quyết 4 câu hỏi nghiên cứu (RQs) và kiểm chứng 1 giả thuyết khoa học cốt lõi:
- RQ1: Cơ sở khoa học và khung lý luận về quản lý nhà nước (QLNN) đối với việc làm của NDBTHĐ được cấu trúc ra sao?
- RQ2: Thực trạng triển khai 6 nội dung QLNN về việc làm cho NDBTHĐ tại tỉnh Hải Dương từ năm 2013 đến nay bộc lộ những khoảng cách thể chế và thực thi nào?
- RQ3: Những yếu tố khách quan và chủ quan nào chi phối trực tiếp đến hiệu năng QLNN về việc làm tại địa phương?
- RQ4: Hệ giải pháp mang tính đột phá nào cần được xác lập nhằm bảo đảm sinh kế bền vững cho NDBTHĐ trong tầm nhìn 2030–2035?
Giả thuyết khoa học ($H_1$) được xác định: Nếu QLNN về việc làm cho NDBTHĐ được hoàn thiện đồng bộ trên 8 phương diện cấu trúc (quy hoạch đất đai gắn với đào tạo nghề, hoàn thiện văn bản quy phạm pháp luật (QPPL), nâng cao hiệu quả tuyên truyền, quản lý dữ liệu thị trường lao động (TTLĐ), kiện toàn bộ máy dịch vụ việc làm (DVVL), nâng cao năng lực công chức, thanh tra kiểm tra nghiêm minh và hợp tác quốc tế kết nối cung - cầu) thì sẽ triệt tiêu xung đột xã hội, phục hồi sinh kế và đưa Hải Dương trở thành tỉnh công nghiệp hiện đại bền vững. Phạm vi nghiên cứu khảo sát giai đoạn 2013–2020 (từ khi ban hành Luật Đất đai 2013), định hướng đến năm 2030, tầm nhìn 2035; với bối cảnh thực tiễn tại Hải Dương – nơi chỉ riêng giai đoạn 2013–2019 đã triển khai 290 dự án đầu tư, chuyển đổi gần 60.000 ha đất nông nghiệp và đẩy trên 5.000 nông dân mỗi năm vào tình trạng mất việc làm và mất TLSX.
Literature Review và Positioning
Tổng quan y văn quốc tế và trong nước cho thấy hai luồng tranh luận học thuật lớn về tác động của chuyển đổi đất đai đối với thị trường lao động và an sinh xã hội:
Luồng quan điểm thứ nhất (Mô hình rủi ro bần cùng hóa và biến động cấu trúc): Akram-Lodhi (1988) trong công trình Land Markets and Rural Livelihoods in Vietnam khẳng định nông dân mất đất bị tách rời khỏi phương tiện sản xuất và trở thành nhóm đối tượng nghèo nhất khu vực nông thôn do phụ thuộc hoàn toàn vào việc bán sức lao động bấp bênh. Dasgupta và Ray (1986) chứng minh tổn thất phúc lợi xã hội xuất hiện do độ trễ trong quá trình tự điều chỉnh giữa thị trường đất đai và thị trường lao động. Michael Cernea (1988, 1997) với Mô hình Rủi ro và Tái thiết (IRR Model) cùng Diana Cernea (1998) chỉ rõ 8 nguy cơ hiện hữu khi thu hồi đất: mất đất, thất nghiệp, vô gia cư, bần cùng hóa, bệnh tật, mất an ninh lương thực, mất quyền tiếp cận tài sản chung và tan rã mạng lưới xã hội.
Luồng quan điểm thứ hai (Mô hình chuyển dịch cơ cấu và tích hợp phát triển): Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB, 2004) và Ngân hàng Thế giới (WB, 2004, 2011) cho rằng thu hồi đất là tất yếu cho công nghiệp hóa, nhưng bắt buộc phải có các can thiệp chính sách phục hồi thu nhập chủ động (tín dụng, đào tạo nghề, ưu tiên việc làm dự án) để đưa mức sống của người dân bằng hoặc cao hơn nơi ở cũ. Tại Việt Nam, Nguyễn Hữu Dũng (2005, 2008), Phí Thị Hằng và Nguyễn Thị Thơm (2008) xem xét phát triển khu công nghiệp là động lực chuyển dịch lao động nhưng cảnh báo sự phân hóa sâu sắc nếu thiếu chính sách hỗ trợ chuyển đổi nghề (CĐNN).
Tranh luận lý thuyết cốt lõi (Theoretical Contradictions): Tranh luận xoay quanh vai trò của nhà nước và thị trường: Phái thị trường tự do giả định lao động nông thôn sẽ tự dịch chuyển theo quy luật cung - cầu; ngược lại, phái quản trị can thiệp (Zhou Jian-Ming, 1998; Yeh & Xia Li, 1999) chứng minh rằng tại các nền kinh tế chuyển đổi như Trung Quốc, Việt Nam, sự rút lui của nhà nước dẫn đến tình trạng mất đất ồ ạt, tạo ra "khu ổ chuột đô thị" và bóc lột lao động phi chính thức. Yeh và Xia Li (1999) qua nghiên cứu vùng Đồng bằng Châu Giang (Trung Quốc) chỉ ra rằng chính sách bồi thường không ngang giá thị trường kết hợp với thiếu hụt đào tạo nghề đã đẩy nông dân vào bẫy nghèo thế hệ.
Luận án định vị chính xác khoảng trống: Trong khi các công trình đi trước chỉ dừng lại ở phân tích kinh tế học hoặc xã hội học mô tả, công trình này thiết lập một cấu trúc phân tích quản trị hành chính công thực nghiệm, đánh giá trực tiếp vai trò của chính quyền cấp tỉnh trong việc điều tiết TTLĐ và an sinh việc làm.
Đóng góp lý thuyết và khung phân tích
Đóng góp cho lý thuyết
Luận án mở rộng hệ thống lý thuyết quản lý công hiện đại thông qua việc tích hợp ba dòng lý thuyết nền tảng:
- Lý thuyết Giá trị lao động và Cấu thành hữu cơ của tư bản: Dựa trên luận điểm kinh tế chính trị và công thức tương quan việc làm $VL = C/V$ (Trần Văn Cầu & Mai Quốc Chánh, 2008), luận án luận giải sự đứt gãy việc làm khi người nông dân mất toàn bộ tư liệu sản xuất hữu hình ($C$), buộc phải tham gia vào thị trường sức lao động ($V$) với trình độ kỹ năng thấp.
- Khung Sinh kế Bền vững (Sustainable Livelihoods Framework - DFID, 2006; Filipe, 2005): Luận án mở rộng ứng dụng 5 nguồn vốn sinh kế (tự nhiên, vật chất, tài chính, con người, xã hội) vào bối cảnh nông dân bị thu hồi trên 30% diện tích đất canh tác, chứng minh sự suy giảm nguồn vốn tự nhiên (đất đai) đòi hỏi sự can thiệp của nhà nước để bù đắp bằng vốn con người (kỹ năng nghề) và vốn xã hội (mạng lưới kết nối việc làm).
- Lý thuyết Quản trị công mới (New Public Governance): Chuyển hóa vai trò của nhà nước từ "quản lý mệnh lệnh hành chính" sang "nhà nước kiến tạo và điều phối", kết nối 3 chủ thể: Chính quyền địa phương – Doanh nghiệp sử dụng lao động – Cơ sở đào tạo nghề.
Khung phân tích độc đáo
Luận án xác lập khung phân tích 6 nội dung thành phần của QLNN về việc làm cho NDBTHĐ:
- Trụ cột 1: Xây dựng, ban hành và tổ chức thực hiện văn bản QPPL, quy hoạch đất đai gắn với quy hoạch phát triển nhân lực.
- Trụ cột 2: Tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật lao động và nâng cao nhận thức chuyển đổi nghề.
- Trụ cột 3: Quản lý thông tin TTLĐ, dự báo cung - cầu, đánh giá cấp chứng chỉ Kỹ năng nghề quốc gia (KNNQG) và vận hành Bảo hiểm thất nghiệp (BHTN).
- Trụ cột 4: Quản lý và phát triển mạng lưới Trung tâm DVVL, doanh nghiệp hoạt động DVVL.
- Trụ cột 5: Thanh tra, kiểm tra, giám sát trách nhiệm xã hội và chế tài xử lý vi phạm của doanh nghiệp tiếp nhận đất.
- Trụ cột 6: Mở rộng hợp tác quốc tế, xúc tiến đầu tư và liên kết xuất khẩu lao động (XKLĐ).
Điều kiện biên (Boundary conditions): Khung phân tích áp dụng tối ưu cho các tỉnh thuộc vùng kinh tế trọng điểm đang trong giai đoạn chuyển đổi công nghiệp hóa nhanh, có áp lực lớn về chuyển đổi cơ cấu sử dụng đất và mật độ dân số nông thôn cao.
Phương pháp nghiên cứu tiên tiến
Thiết kế nghiên cứu
Luận án vận dụng thế giới quan duy vật biện chứng và duy vật lịch sử kết hợp với lập trường nhận thức thực chứng (positivism) và chủ nghĩa hiện thực phản biện (critical realism). Thiết kế nghiên cứu hỗn hợp (mixed-methods design) đa cấp độ (multi-level design) được triển khai:
- Cấp vĩ mô/trung mô: Đánh giá thể chế, chính sách của UBND tỉnh, Sở Lao động - Thương binh và Xã hội (LĐ - TB - XH), Sở Tài nguyên và Môi trường (TN - MT).
- Cấp vi mô: Đánh giá tác động sinh kế tại cấp hộ gia đình nông dân bị thu hồi đất tại các huyện trọng điểm công nghiệp của tỉnh Hải Dương.
Quy trình nghiên cứu rigorous
Thu thập dữ liệu định tính: Thực hiện 150 cuộc phỏng vấn sâu (in-depth interviews) bán cấu trúc:
- 30 cuộc trực tiếp với lãnh đạo chính quyền địa phương, công chức quản lý tham gia bồi dưỡng tại Trường Chính trị tỉnh Hải Dương (thời lượng 30 phút/cuộc, thực hiện năm 2020).
- 20 cuộc phỏng vấn gián tiếp qua điện thoại với lãnh đạo các sở, ngành liên quan (thời lượng 20–30 phút/cuộc).
- 100 cuộc phỏng vấn trực tiếp tại hộ gia đình nông dân mất trên 30% đất sản xuất tại 30 xã thuộc 6 huyện trọng điểm thu hồi đất của tỉnh Hải Dương (thời lượng 30–45 phút/cuộc, triển khai từ 06/2019 đến 12/2019).
Thu thập dữ liệu định lượng: Điều tra xã hội học bằng bảng hỏi cấu trúc thiết kế 9 nhóm chỉ báo. Mẫu được chọn theo phương pháp phân tầng ngẫu nhiên có chủ đích:
- Tổng số phiếu phát ra: 300 phiếu; thu về hợp lệ: 250 phiếu (tỷ lệ phản hồi 83.33%).
- Cơ cấu 6 nhóm đối tượng khảo sát:
- Nhóm 1 (Người có thẩm quyền ra quyết định cấp tỉnh): $n = 20$
- Nhóm 2 (Cán bộ có trách nhiệm thực hiện chính sách): $n = 30$
- Nhóm 3 (Đại diện lãnh đạo chính quyền cấp huyện, xã): $n = 50$
- Nhóm 4 (Đại diện đơn vị trực tiếp thực hiện bồi thường, GQVL): $n = 50$
- Nhóm 5 (Đại diện doanh nghiệp, tổ chức sử dụng lao động): $n = 50$
- Nhóm 6 (Nông dân trực tiếp bị thu hồi đất): $n = 100$
Data và phân tích
Công cụ xử lý: Dữ liệu định lượng được số hóa và làm sạch qua Google Forms và Google Trang tính Drive, áp dụng kỹ thuật phân tích thống kê mô tả, phân tích so sánh chéo giữa các nhóm đối tượng và tổng hợp ma trận 11 bảng chỉ số thực chứng. Độ tin cậy của quy trình khảo sát được kiểm soát thông qua phương pháp tam giác đạc (triangulation) giữa dữ liệu báo cáo hành chính thứ cấp, dữ liệu khảo sát định lượng và dữ liệu phỏng vấn sâu định tính.
Phát hiện đột phá và implications
Những phát hiện then chốt
Dữ liệu khảo sát thực nghiệm tại Hải Dương làm sáng tỏ 4 phát hiện đột phá:
- Đứt gãy việc làm cơ cấu và bẫy việc làm phi chính thức: Giai đoạn 2013–2019, Hải Dương thu hồi gần 60.000 ha đất nông nghiệp phục vụ 290 dự án, khiến bình quân mỗi năm trên 5.000 nông dân mất tư liệu sản xuất chính. Sau khi mất đất, tỷ lệ nông dân chuyển sang các công việc phi chính thức, bấp bênh (phụ hồ, thợ xây, xe ôm, người giúp việc, lao động tự do) chiếm trên 65%, trong khi tỷ lệ được tuyển dụng vào các nhà máy tại các KCN chỉ chiếm tỷ lệ rất thấp do rào cản về độ tuổi và tay nghề.
- Nghịch lý "thiếu hụt giữa thừa thãi" trên TTLĐ: Doanh nghiệp FDI và khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh thiếu hụt trầm trọng lao động kỹ thuật, trong khi hàng chục nghìn nông dân sau thu hồi đất rơi vào tình trạng thất nghiệp hoặc thiếu việc làm. Nguyên nhân trực tiếp từ công tác đào tạo nghề mang tính hình thức, chưa gắn với nhu cầu tuyển dụng thực tế của doanh nghiệp tiếp nhận mặt bằng.
- Sự phân hóa theo độ tuổi và rào cản thoái hóa sinh kế: Nhóm lao động nông thôn trên 40 tuổi chịu tổn thương nặng nề nhất. Trình độ học vấn thấp kết hợp với các bệnh lý thoái hóa xương khớp khiến họ gần như bị loại trừ hoàn toàn khỏi tiêu chuẩn tuyển dụng của các doanh nghiệp chính thức, buộc phải dựa vào tiền bồi thường (vốn tài chính ngắn hạn) đang cạn kiệt dần.
- Khoảng trống pháp lý và chế tài đối với doanh nghiệp: Tồn tại tình trạng thiếu chế tài hành chính đủ mạnh để buộc các chủ đầu tư dự án công nghiệp thực hiện cam kết ưu tiên tuyển dụng lao động địa phương bị thu hồi đất. Sự phối hợp liên ngành giữa Sở TN - MT (quản lý đất đai) và Sở LĐ - TB - XH (quản lý việc làm) còn lỏng lẻo, thiếu cơ sở dữ liệu số dùng chung về biến động lao động mất đất.
Implications đa chiều
Về mặt lý luận: Khẳng định tính đúng đắn của Mô hình IRR (Cernea) và Khung DFID trong bối cảnh Việt Nam; chứng minh rằng việc bồi thường bằng tiền mặt mà không tái thiết nguồn vốn nhân lực sẽ tất yếu dẫn tới tái bần cùng hóa.
Về mặt chính sách và thực tiễn:
- Cần xác lập quy chuẩn bắt buộc: Quy hoạch thu hồi đất phải đi liền với Đề án đào tạo nghề và giải quyết việc làm được phê duyệt trước tối thiểu 01 năm.
- Thiết lập Quỹ hỗ trợ chuyển đổi sinh kế dài hạn, trích tỷ lệ phần trăm trực tiếp từ tiền thuê đất của các dự án công nghiệp để tái đầu tư vào hệ thống dạy nghề kỹ thuật cao.
- Nâng cao năng lực cho Trung tâm DVVL công lập, chuyển đổi từ mô hình giới thiệu thụ động sang hệ sinh thái kết nối cung - cầu lao động số hóa.
Limitations và Future Research
Luận án thẳng thắn thừa nhận 3 giới hạn nghiên cứu chính:
- Giới hạn bối cảnh địa lý: Địa bàn khảo sát tập trung tại tỉnh Hải Dương (vùng Đồng bằng sông Hồng); đặc thù cơ cấu công nghiệp và văn hóa lao động có thể tạo ra những biến thiên nhất định khi ngoại suy sang các vùng Trung du miền núi phía Bắc hay Tây Nguyên.
- Rào cản dịch tễ trong thu thập dữ liệu: Giai đoạn khảo sát định lượng (cuối năm 2019 - 2020) chịu ảnh hưởng gián đoạn bởi đại dịch COVID-19, dẫn đến việc không thể mở rộng dung lượng mẫu khảo sát trên diện rộng toàn diện hơn (giới hạn ở 250 phiếu phân tích thực tế).
- Công cụ phân tích: Sử dụng chủ yếu thống kê mô tả và so sánh chéo, chưa áp dụng các mô hình kinh tế lượng nâng cao (như SEM - Mô hình phương trình cấu trúc hay Multinomial Logit) để đo lường trọng số chính xác của từng biến nhân khẩu học tác động đến xác suất tìm kiếm việc làm chính thức.
Chương trình nghiên cứu tương lai (Future Research Agenda):
- Nghiên cứu dọc (longitudinal study) theo dõi sự biến thiên sinh kế của hộ nông dân mất đất sau 5 năm, 10 năm.
- Ứng dụng mô hình kinh tế lượng đo lường độ co giãn giữa vốn đầu tư FDI, diện tích đất nông nghiệp thu hồi và tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên tại các vùng kinh tế trọng điểm.
- Nghiên cứu tác động của chuyển đổi số và tự động hóa công nghiệp (Cách mạng công nghiệp 4.0) đối với cơ hội việc làm của lao động nông thôn mất đất.
Tác động và ảnh hưởng
Ảnh hưởng học thuật: Công trình đặt nền móng tài liệu tham khảo chuyên sâu cho chuyên ngành Quản lý công tại Học viện Hành chính Quốc gia và hệ thống các trường chính trị cấp tỉnh; dự kiến mang lại giá trị trích dẫn cao trong các nghiên cứu về chính sách đất đai và thị trường lao động nông thôn.
Ảnh hưởng thực tiễn và chính sách:
- Cung cấp luận cứ khoa học trực tiếp cho Tỉnh ủy, HĐND, UBND tỉnh Hải Dương trong việc thể chế hóa Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVII, hoàn thiện các chương trình mục tiêu GQVL đến năm 2025, định hướng 2030.
- Đề xuất quy trình 8 giải pháp đồng bộ giúp chính quyền các huyện, thị xã, thành phố của tỉnh Hải Dương tháo gỡ điểm nghẽn trong công tác giải phóng mặt bằng, giảm thiểu tình trạng khiếu kiện đất đai kéo dài.
- Đóng góp kinh nghiệm quản trị cho các địa phương có tốc độ đô thị hóa tương đồng trong vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ (Hưng Yên, Bắc Ninh, Hải Phòng, Quảng Ninh).
Đối tượng hưởng lợi
Nghiên cứu sinh và học viên sau đại học: Tiếp cận một khung phân tích hoàn chỉnh về QLNN đối với thị trường lao động đặc thù; kế thừa bộ công cụ bảng hỏi và phương pháp tiếp cận nghiên cứu liên ngành Quản lý công - Luật học - Kinh tế học.
Giảng viên và chuyên gia nghiên cứu: Bổ sung nguồn tư liệu thực chứng phong phú phục vụ công tác giảng dạy các chuyên đề về Quản lý nhà nước về Xã hội, Chính sách công và Quản trị địa phương.
Các nhà hoạch định chính sách và lãnh đạo địa phương: Sử dụng các khuyến nghị của luận án như một cẩm nang hành động để ban hành các văn bản QPPL đặc thù, phân bổ ngân sách đào tạo nghề và kiểm soát an sinh xã hội tại các địa bàn giải tỏa mặt bằng.
Cộng đồng doanh nghiệp và người nông dân: Doanh nghiệp tối ưu hóa được chi phí tuyển dụng lao động bản địa; hàng chục nghìn nông dân thuộc diện thu hồi đất được bảo vệ quyền lợi an sinh, tiếp cận cơ hội đào tạo nghề có chứng chỉ KNNQG và có việc làm bền vững.
Câu hỏi chuyên sâu
-
Đóng góp lý thuyết độc đáo nhất của luận án là gì?
Luận án đã mở rộng và bản địa hóa Khung Sinh kế Bền vững (DFID) và Mô hình IRR (Cernea) vào chuyên ngành Quản lý công tại Việt Nam; cấu trúc hóa thành công mô hình can thiệp hành chính 6 trụ cột của chính quyền cấp tỉnh nhằm chuyển hóa quá trình mất vốn tự nhiên (đất đai) thành sự tích lũy vốn con người (kỹ năng nghề) và vốn xã hội cho nông dân.
-
Tính đổi mới trong phương pháp luận so với các nghiên cứu trước đây?
So với nghiên cứu của Trần Thị Minh Ngọc (2010) hay Nguyễn Duy Phương (2013) vốn thiên về phân tích lý luận chung hoặc báo cáo ngành, luận án triển khai thiết kế hỗn hợp phân tầng 6 nhóm chủ thể ($N=250$) kết hợp 150 cuộc phỏng vấn sâu chuyên sâu từ cấp lãnh đạo ra quyết định đến đối tượng chịu tác động trực tiếp tại cơ sở, bảo đảm tính xác thực và khách quan tuyệt đối.
-
Phát hiện nào mang tính bất ngờ nhất từ dữ liệu thực tế?
Tỷ lệ nông dân sau khi nhận tiền bồi thường đất không chuyển hóa được thành vốn sản xuất kinh doanh mà nhanh chóng tiêu dùng cạn kiệt, sau đó gia nhập thị trường lao động phi chính thức bấp bênh chiếm trên 65%; đồng thời xuất hiện "khoảng trống an sinh xã hội" trầm trọng ở nhóm lao động trên 40 tuổi do không thể đáp ứng tiêu chuẩn tuyển dụng công nghiệp.
-
Luận án có cung cấp quy trình nhân bản (replication protocol) không?
Có. Hệ thống 9 nhóm chỉ báo bảng hỏi, quy trình chọn mẫu phân tầng 6 nhóm đối tượng và khung phân tích 6 nội dung QLNN được thiết kế chuẩn hóa, cho phép các nhà nghiên cứu áp dụng trực tiếp để khảo sát và đánh giá tại bất kỳ tỉnh/thành nào đang diễn ra quá trình công nghiệp hóa nhanh.
-
Chương trình nghị sự 10 năm được phác thảo ra sao?
Lộ trình 2021–2030 tập trung vào: Hoàn thiện cơ sở dữ liệu số TTLĐ kết nối vùng; chuyển đổi mô hình đào tạo nghề theo đơn đặt hàng doanh nghiệp; áp dụng bộ chỉ số KPI đánh giá trách nhiệm xã hội của chủ đầu tư KCN; và xây dựng lưới an sinh đa tầng bảo vệ nông dân chuyển đổi nghề thích ứng với CMCN 4.0.
Kết luận
Từ công trình nghiên cứu toàn diện của NCS Lương Thị Quyên (2022), 6 kết luận khoa học cốt lõi được xác lập:
- Luận án đã hệ thống hóa và phát triển hoàn chỉnh cơ sở lý luận về quản lý nhà nước đối với việc làm của nông dân bị thu hồi đất trong khuôn khổ chuyên ngành Quản lý công.
- Phân tích thực chứng toàn diện bức tranh chuyển đổi đất đai và đứt gãy việc làm tại tỉnh Hải Dương giai đoạn 2013–2020, làm rõ thực trạng 290 dự án lấy đi gần 60.000 ha đất nông nghiệp và tác động tiêu cực đến sinh kế của hàng chục nghìn nông dân.
- Chỉ rõ 4 nhóm nguyên nhân cơ bản của những hạn chế trong QLNN tại địa phương: quy hoạch thiếu đồng bộ, pháp luật thiếu chế tài ràng buộc doanh nghiệp, thông tin TTLĐ nghèo nàn và bộ máy DVVL công lập hoạt động kém hiệu quả.
- Đề xuất hệ thống 8 nhóm giải pháp đồng bộ có tính khả thi cao:
- (1) Điều chỉnh quy hoạch đất đai gắn với kế hoạch sử dụng lao động hợp lý;
- (2) Sửa đổi, hoàn thiện văn bản QPPL và chính sách đặc thù của tỉnh;
- (3) Đổi mới nội dung, hình thức tuyên truyền pháp luật việc làm;
- (4) Nâng cấp hạ tầng thông tin TTLĐ, cấp chứng chỉ KNNQG và BHTN;
- (5) Kiện toàn tổ chức bộ máy và đổi mới hoạt động của các Trung tâm DVVL;
- (6) Nâng cao năng lực, phẩm chất đội ngũ công chức, viên chức chuyên môn;
- (7) Tăng cường thanh tra, kiểm tra và xử lý nghiêm minh các vi phạm;
- (8) Mở rộng hợp tác quốc tế, xúc tiến đầu tư và kết nối cung - cầu lao động.
- Đưa ra các khuyến nghị xác đáng gửi tới Chính phủ, Bộ LĐ - TB - XH, Bộ TN - MT và UBND tỉnh Hải Dương nhằm kiến tạo hành lang pháp lý minh bạch, bảo đảm hài hòa lợi ích giữa Nhà nước, Doanh nghiệp và Người dân theo tinh thần Nghị quyết số 18-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng.
- Mở ra các hướng nghiên cứu học thuật mới về quản trị rủi ro an sinh xã hội và chuyển đổi cơ cấu việc làm bền vững cho các nền kinh tế đang phát triển trong kỷ nguyên công nghiệp 4.0.