CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ KHUYẾN CÔNG 1. Cơ sở lý luận của quản lý nhà nước về khuyến công 1. Khuyến công và vai trò của hoạt động khuyến công 1. Khái niệm về khuyến công Khi nền kinh tế có bước chuyển dịch mạnh mẽ theo hướng CNH-HĐH, nhất là CNH-HĐH nông nghiệp, nông thôn ở Việt Nam thì thuật ngữ khuyến công được nhắc đến nhiều trong thời gian gần đây nhưng cho đến nay vẫn chưa có khái niệm cụ thể.
Theo Nghị định 45/2012/NĐ-CP của Chính phủ về khuyến công thì khuyến công được hiểu là hoạt động khuyến khích, hướng dẫn, hỗ trợ và tạo điều kiện để các tổ chức, cá nhân tham gia phát triển sản xuất công nghiệp ở nông thôn. Chương trình Khuyến công Chương trình khuyến công quốc gia: Tại Khoản 1, Điều 2, Nghị định 45/2012/NĐ-CP của Chính phủ về Khuyến công (2012, tr.1) nêu rõ: “Chương trình khuyến công quốc gia Là tập hợp các nội dung, nhiệm vụ về hoạt động khuyến công quốc gia và địa phương trong từng giai đoạn (thường là 5 năm) được thủ tướng Chính phủ phê duyệt nhằm mục tiêu khuyến khích phát triển công nghiệp- tiểu thủ công nghiệp và áp dụng sản xuất sạch hơn trong công nghiệp nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế- xã hội, lao động ở các địa phương”. Chương trình khuyến công địa phương: Tại Khoản 4, Điều 2, Thông tư 46/2012/TT-BCT của Bộ Công Thương quy định chi tiết một số nội dung của Nghị định 45/2012/NĐ-CP của Chính phủ về Khuyến công (2012, tr.1) nêu rõ: “Chương trình khuyến công địa phương là tập hợp các nội dung, nhiệm vụ về hoạt động khuyến công địa phương trong từng giai đoạn được Chủ tịch Uỷ ban 7 nhân dân tỉnh phê duyệt nhằm mục tiêu khuyến khích phát triển công nghiệp- tiểu thủ công nghiệp và áp dụng sản xuất sạch hơn trong công nghiệp nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế- xã hội, lao động tại địa phương”.3 Kế hoạch Khuyến công Tại Khoản 2, Điều 2, Nghị định 45/2012/NĐ-CP về khuyến công (2012, tr.2 nêu rõ: “Kế hoạch Khuyến công là tập hợp các đề án, nhiệm vụ khuyến công hàng năm, trong đó đưa ra tiến độ, dự kiến kết quả cụ thể cần đạt được nhằm đáp ứng yêu cầu của chườn trình khuyến công quốc gia từng giai đoạn. Kế hoạch khuyến công quốc gia do Bộ trưởng Bộ Công thương phê duyệt, của địa phương do Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh phê duyệt”.4 Đề án khuyến công Tại Khoản 3, Điều 2, Nghị định 45/2012/NĐ-CP về khuyến công (2012, tr 2 nêu rõ: “Đề án khuyến công là đề án được lập để triển khai một hoặc một số nội dung của hoạt động khuyến công, có mục tiêu, nội dung và đối tượng thụ hưởng, có thời gian thực hiện và kinh phí xác định”.5 Vị trí, vai trò của hoạt động khuyến công Hoạt động Khuyến công được hiểu là những chính sách khuyến khích, hỗ trợ các tổ chức, cá nhân tham gia phát triển sản xuất công nghiệp nông thôn, áp dụng sản xuất sạch hơn trong công nghiệp, giữ vị trí và vai trò quyết định trong phát triển CNNT nhằm giải quyết việc làm cho lao động tại nông thôn tăng thu nhập cho người lao động, giảm bớt sự chênh lệch giữa thành thị và nông thôn.
Nhằm phát triển các nguồn lực tham gia hỗ trợ các tổ chức, cá nhân đầu tư sản xuất CN,TTCN trong khu vực nông thôn góp phần đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng kinh tế, chuyển dịch cơ cấu nền kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, trên cơ sở phát huy các lợi thế về nguồn nhân lực dồi dào ở khu vực nông thôn, thu hút mạnh nguồn lực bên ngoài, nhất là vốn đầu tư và khoa học công nghệ, khuyến khích phát triển công nghiệp, phát triển mọi thành phần 8 kinh tế, hỗ trợ sản xuất sạch hơn tại các cơ sở sản xuất CNNT. Nâng cao hiệu quả sử dụng tài nguyên thiên nhiên, nguyên liệu, nhiên liệu, vật liệu giảm thiểu phát thải và hạn chế mức độ ô nhiễm, bảo vệ và cải thiện chất lượng môi trường, chống biến đổi khí hậu. Tạo điều kiện cho các tổ chức cá nhân thuộc mọi thành phần kinh tế đầu tư phát triển sản xuất công nghiệp - tiểu thủ công. Trong quá trình CNH-HĐH đất nước ta, công nghiệp ở nông thôn đóng vai trò rất quan trọng, trong đó có sự đóng góp không nhỏ của hoạt động khuyến công.
Có thể nói, đến nay hoạt động khuyến công đã có tác dụng rõ nét đối với các ngành tiểu thủ công nghiệp khu vực nông thôn, các cơ sở sản xuất vừa và nhỏ, góp phần giải quyết công ăn việc làm cho lao động nông thôn, sử dụng những tiềm năng sẵn có nhằm thúc đẩy phát triển CN-TTCN của địa phương. Khuyến công có các vai trò cơ bản sau: Góp phần vào việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng phát triển CN- TTCN. Chương trình khuyến công đi vào thực tiễn góp phần thúc đẩy giá trị sản xuất tiểu thủ công nghiệp tăng đáng kể, công nghiệp ngoài quốc doanh chiếm tỷ trọng ngày càng cao, tạo được nhiều việc làm và tăng thu nhập cho đại bộ phận dân cư lao động, lượng lao động từ nông nghiệp sang làm nghề tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ ngày càng tăng, mang lại hiệu quả kinh tế, xã hội cao, đặc biệt là ở những vùng kinh tế khó khăn. Thúc đẩy khôi phục và phát triển các ngành nghề truyền thống.
Tốc độ phát triển nghề, làng nghề và các cơ sở công nghiệp nông thôn trên cả nước vẫn ở mức độ thấp, quy mô sản xuất còn nhỏ lẻ, theo hộ gia đình; khả năng tài chính yếu ớt; khả năng tiếp cận thông tin khoa học công nghệ và thị trường còn nhiều hạn chế, dẫn đến kết quả sản xuất kinh doanh chưa cao, chưa đáp ứng được yêu cầu cạnh tranh trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế. Sự phát triển nghề, làng nghề tiểu thủ công nghiệp ngày nay dựa trên sự phát triển đồng thời các loại hình kinh tế: Doanh nghiệp nhỏ và vừa, hợp tác xã, tổ hợp 9 tác, hộ kinh doanh thành lập và hoạt động theo quy định của pháp luật. Đây chính là những hạt nhân cho sự phát triển nghề, làng nghề tiểu thủ công nghiệp. Để thực hiện nhiệm vụ khuyến khích phát triển nghề, làng nghề và các cơ sở công nghiệp nông thôn ở các địa phương, các tỉnh, thành trên cả nước đã thành lập các Trung tâm Khuyến công và Tư vấn phát triển công nghiệp trực thuộc Sở Công nghiệp (nay là Sở Công Thương).
Sở Công thương có nhiệm vụ Giúp Uỷ ban nhân dân tỉnh thực hiện chức năng quản lý nhà nước về hoạt động khuyến công trên địa bàn tỉnh và trực tiếp quản lý kinh phí khuyến công cấp tỉnh. Xây dựng, trình Bộ Công Thương chương trình, kế hoạch khuyến công hỗ trợ từ nguồn kinh phí khuyến công quốc gia cho tỉnh. Theo dõi, đánh giá và tổng hợp báo cáo kết quả việc thực hiện quản lý, sử dụng kinh phí khuyến công trên địa bàn tỉnh theo quy định. Chỉ đạo, hướng dẫn Trung tâm Khuyến công và Tư vấn phát triển công nghiệp, các cơ sở công nghiệp nông thôn, tổ chức dịch vụ khuyến công trên địa bàn tỉnh lập đề án khuyến công; thẩm định, lựa chọn, tổng hợp lập kế hoạch trình Uỷ ban nhân dân tỉnh hoặc Bộ Công Thương phê duyệt và tổ chức thực hiện sau khi được phê duyệt.
Như vậy, vai trò của khuyến công đối với sự phát triển nghề, làng nghề, các cơ sở công nghiệp nông thôn là rất quan trọng trong giai đoạn CNH-HĐH nông nghiệp, nông thôn hiện nay. Giải quyết việc làm cho lao động nông thôn, tăng thu nhập cho một bộ phận nhân dân, góp phần ổn định tình hình kinh tế- xã hội của địa phương. Để giải quyết việc làm cho lao động nông thôn, một trong những nội dung của hoạt động khuyến công là đào tạo nghề, hỗ trợ trang thiết bị phục vụ sản xuất. Trên cơ sở đó, Sở Công Thương chỉ đạo Trung tâm Khuyến công và Tư vấn phát triển công nghiệp tổ chức khảo sát các cơ sở công nghiệp nông thôn trên địa bàn, triển khai hỗ trợ theo nhu cầu của từng đơn vị.
Từ nguồn kinh phí khuyến công quốc gia và địa phương, Trung tâm Khuyến công và Tư vấn phát triển công nghiệp đã phối hợp với các cơ quan, tổ chức mở các lớp đào tạo nghề cho lao động nông thôn. Kết quả cho thấy, công tác đào tạo nghề không những 10 tạo việc làm, tăng thu nhập mà còn góp phần nâng cao tay nghề cho công nhân, giúp các cơ sở đẩy mạnh hiệu suất lao động cũng như chất lượng sản phẩm. Hỗ trợ cho cơ sở công nghiệp nông thôn trong lộ trình hội nhập kinh tế quốc tế. Trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, các cơ sở công nghiệp nông thôn ở các địa phương hiện nay đã và đang đóng góp không nhỏ vào tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế.
Tuy nhiên, do các cơ sở công nghiệp nông thôn có quy mô nhỏ, mối liên kết giữa các cơ sở hạn chế nên là những đối tượng dễ bị ảnh hưởng trong bối cảnh kinh tế có nhiều khó khăn hiện nay. Chính vì vậy, các địa phương rất chú trọng đến việc hỗ trợ cơ sở trong việc ổn định, duy trì sản xuất, tìm đầu ra cho sản phẩm. Hoạt động khuyến công đã thể hiện vai trò là trợ thủ đắc lực cho cơ sở công nghiệp nông thôn. Khi hoạt động khuyến công được triển khai thì loại hình cơ sở công nghiệp nông thôn này có một bệ đỡ vững chắc để tiếp tục quá trình phát triển của mình, góp phần vào thực hiện thành công các mục tiêu kinh tế - xã hội mà các địa phương đã đề ra.
Nội dung của hoạt động khuyến công Sau khi Nghị định số 45/2012/NĐ-CP ngày 21 tháng 5 năm 2012 của Chính phủ về khuyến công và Quyết định số 1288/QĐ-TTg ngày 01 tháng 8 năm 2014 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình khuyến công quốc gia (KCQG) đến năm 2020 được ban hành; công tác chỉ đạo, quán triệt, triển khai Chương trình khuyến công đã được quan tâm thực hiện ở cả Trung ương và địa phương để nhanh chóng phát huy hiệu quả. Với những nội dung cụ thể, chi tiết về các hoạt động hỗ trợ được Quy định chi tiết tại Khoản 1, Điều 4, Thông tư 46/2012/TT-BCT ngày 28/12/2012 của Bộ Công Thương (2012, tr.2) như sau: + Tổ chức đào tạo nghề, truyền nghề theo nhu cầu của các cơ sở công nghiệp để tạo việc làm và nâng cao tay nghề cho người lao động. Hình thức đào tạo nghề, truyền nghề chủ yếu là ngắn hạn, gắn lý thuyết với thực hành.