Phân tích quản lý nhà nước về hội ở Việt Nam từ lý thuyết vốn xã hội

Chuyên khảo luật học phân tích Quản lý nhà nước về hội ở việt nam hiện nay phân tích từ lý thuyết về vốn xã hội và các tiêu chuẩn, đánh giá các khía cạnh quan trọng, đề xuất hướng

Trường đại học

Đại học Quốc gia Hà Nội

Chuyên ngành

Luật

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn

2020

100
2
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

1. CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT LÝ THUYẾT VÈ HỘI VÀ VỐN XÃ HỘI, CÁC TIÊU CHUẨN QUÓC TẾ VÈ TỰ DO HIỆP HỘI VÀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ HỘI

1.1. Khái quát lý thuyết về hội và vốn xã hội

1.2. Khái niệm hội

1.3. Sự hình thành, phát triển của hội

1.4. Vai trò của hội như là một nguồn vốn xã hội

1.5. Khái quát về các tiêu chuẩn quốc tế về tự do hiệp hội

1.6. Khái niệm và vị trí của tự do hiệp hội trong luật nhân quyền quốc tế

1.7. Nội hàm của tự do hiệp hội trong luật nhân quyền quốc tế

1.8. Các yêu cầu đặt ra với việc bảo đảm tự do hiệp hội trong pháp luật quốc gia

1.9. Khái quát về quản lý nhà nước về hội

1.10. Khái niệm và đặc điểm quản lý nhà nước về hội

1.11. Các yếu tố tác động đến quản lý nhà nước về hội

1.12. Kết luận Chương 1

2. CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ HỘI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY: NHÌN TỪ GÓC ĐỘ LÝ THUYẾT VỀ VỐN XÃ HỘI VÀ CÁC TIÊU CHUẨN QUỐC TẾ VỀ TỰ DO HIỆP HỘI

2.1. Thực trạng quản lý nhà nước về hội ở Việt Nam hiện nay

2.2. Khái quát sự phát triển của chính sách, pháp luật quản lý nhà nước về hội ở Việt Nam

2.3. Cơ chế quản lý nhà nước về hội ở Việt Nam hiện nay

2.4. Những ưu điểm và hạn chế của khung pháp luật hiện hành về quản lý nhà nước về hội ở Việt Nam

2.5. Những vấn đề đặt ra trong quản lý nhà nước về hội ở Việt Nam hiện nay từ góc độ lý thuyết về vốn xã hội

2.6. Những vấn đề đặt ra trong quản lý nhà nước về hội ở Việt Nam hiện nay từ góc độ các tiêu chuẩn quốc tế về tự do hiệp hội

2.7. Kết luận Chương 2

3. CHƯƠNG 3: QUAN ĐIỂM, GIẢI PHÁP ĐỔI MỚI QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ HỘI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

3.1. Quan điểm đổi mới quản lý nhà nước về hội ở Việt Nam hiện nay

3.2. Đổi mới quản lý nhà nước về hội cần dựa trên nhận thức rõ ràng và sâu sắc về tính tất yếu khách quan và vai trò quan trọng của hội trong xã hội hiện đại và trong điều kiện của nước ta hiện nay

3.3. Đổi mới quản lý nhà nước về hội cần đổi mới về nội dung và phương thức lãnh đạo của Đảng đối với các hội

3.4. Đổi mới quản lý nhà nước về hội cần bảo đảm sự phù hợp với các tiêu chuẩn quốc tế về tự do hiệp hội

3.5. Đổi mới quản lý nhà nước về hội cần thay đổi tư duy về đối tượng và phương thức quản lý

3.6. Giải pháp đổi mới quản lý nhà nước về hội ở Việt Nam hiện nay

3.6.1. Các giải pháp vĩ mô

3.6.2. Các giải pháp cụ thể

3.7. Kết luận Chương 3

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về quản lý nhà nước về hội ở Việt Nam hiện nay

Quản lý nhà nước về hội ở Việt Nam là một lĩnh vực quan trọng trong việc phát triển xã hội dân sự. Từ khi Đổi mới, các hội đã phát triển mạnh mẽ, đóng góp vào việc bảo vệ quyền lợi của hội viên và phát triển kinh tế - xã hội. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều thách thức trong việc quản lý và phát huy vai trò của các hội.

1.1. Khái niệm và vai trò của hội trong xã hội

Hội là tổ chức tự nguyện của những người có chung mục đích, giúp họ bày tỏ tiếng nói và nhu cầu của mình. Vai trò của hội trong việc tạo ra vốn xã hội và thúc đẩy sự phát triển bền vững là rất quan trọng.

1.2. Các quy định pháp luật về hội ở Việt Nam

Việt Nam đã ban hành nhiều văn bản pháp luật để điều chỉnh hoạt động của các hội, tạo điều kiện cho sự phát triển của xã hội dân sự. Tuy nhiên, việc thực thi các quy định này vẫn gặp nhiều khó khăn.

II. Những thách thức trong quản lý nhà nước về hội ở Việt Nam

Mặc dù có nhiều tiến bộ, nhưng quản lý nhà nước về hội vẫn đối mặt với nhiều thách thức. Các vấn đề như sự thiếu minh bạch, sự can thiệp của nhà nước vào hoạt động của hội, và sự hạn chế trong việc phát huy vai trò của các tổ chức xã hội là những vấn đề cần được giải quyết.

2.1. Hạn chế trong khung pháp lý hiện hành

Khung pháp lý hiện tại chưa đủ mạnh để bảo vệ quyền lợi của các hội, dẫn đến việc nhiều hội không thể hoạt động hiệu quả. Cần có sự cải cách để đảm bảo quyền tự do hiệp hội.

2.2. Sự can thiệp của nhà nước vào hoạt động của hội

Sự can thiệp của nhà nước vào hoạt động của các hội có thể làm giảm tính độc lập và sáng tạo của các tổ chức này. Cần có chính sách rõ ràng để bảo vệ quyền tự quản của hội.

III. Phương pháp cải cách quản lý nhà nước về hội ở Việt Nam

Để cải cách quản lý nhà nước về hội, cần có những phương pháp cụ thể nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của các hội. Việc áp dụng các tiêu chuẩn quốc tế về tự do hiệp hội là một trong những giải pháp quan trọng.

3.1. Đổi mới nội dung và phương thức lãnh đạo

Cần đổi mới nội dung và phương thức lãnh đạo của Đảng đối với các hội, đảm bảo sự phù hợp với các tiêu chuẩn quốc tế về tự do hiệp hội.

3.2. Tăng cường sự tham gia của các tổ chức xã hội

Khuyến khích sự tham gia của các tổ chức xã hội trong quá trình xây dựng chính sách, từ đó phát huy vai trò của họ trong việc phát triển kinh tế - xã hội.

IV. Ứng dụng thực tiễn và kết quả nghiên cứu về hội ở Việt Nam

Nghiên cứu về quản lý nhà nước về hội đã chỉ ra nhiều kết quả tích cực trong việc phát triển các tổ chức xã hội. Tuy nhiên, cần có những ứng dụng thực tiễn để cải thiện tình hình hiện tại.

4.1. Các mô hình hội thành công ở Việt Nam

Nhiều hội đã hoạt động hiệu quả, đóng góp vào sự phát triển của cộng đồng. Cần nghiên cứu và nhân rộng các mô hình này.

4.2. Kết quả từ các nghiên cứu thực tiễn

Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng việc phát huy vai trò của hội có thể tạo ra nhiều giá trị cho xã hội, từ đó cần có chính sách hỗ trợ phù hợp.

V. Kết luận và hướng đi tương lai cho quản lý nhà nước về hội

Quản lý nhà nước về hội ở Việt Nam cần được cải cách để phù hợp với yêu cầu phát triển xã hội hiện đại. Việc phát huy vai trò của các hội sẽ góp phần quan trọng vào sự phát triển bền vững của đất nước.

5.1. Tầm quan trọng của việc phát huy vốn xã hội

Việc phát huy vốn xã hội thông qua các hội sẽ giúp tạo ra một môi trường xã hội ổn định và phát triển.

5.2. Định hướng tương lai cho quản lý nhà nước về hội

Cần có những định hướng rõ ràng cho quản lý nhà nước về hội, đảm bảo sự phát triển bền vững và phù hợp với các tiêu chuẩn quốc tế.

16/08/2025
Quản lý nhà nước về hội ở việt nam hiện nay phân tích từ lý thuyết về vốn xã hội và các tiêu chuẩn quốc tế về tự do hiệp hội luận văn thạc sỹ luật học

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 KHÁI QUÁT LÝ THUYẾT VÈ HỘI VÀ VỐN XÃ HỘI, CÁC TIÊU CHUẨN QUỐC TẾ VÈ TỤ DO HIỆP HỘI VÀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VÈ HỘI 1. Khái quát lý thuyết về hội và vốn xã hội 1. Khái niệm hội Trên thế giới hiện có nhiều định nghĩa về hội (association), nhưng theo quan điểm phổ biến thì hội là tô chức liên kết tự nguyện của những người cùng nghề nghiệp, nhu cầu, sở thích, được những người tham gia (hội viên) tin cậy, uỷ thác niềm tin của mình, và thậm chí uỷ quyền đại diện lợi ích của mình. Vì vậy, hội có vai trò rất quan trọng trong việc phát huy tính năng động tích cực cúa quần chúng trên tất cả mọi lĩnh vực chính trị, kinh tế, xã hội, văn hoá [6].

Cũng theo quan điểm phổ biến trên thế giới, điểm khác biệt cơ bản giữa hội và các cơ quan nhà nước thể hiện ở chỗ hội là các tồ chức “ngoài” bộ máy nhà nước, vì thế không đại diện và không được sử dụng quyền lực công. Cũng chính vì thế, hội không phải thực hiện các nhiệm vụ, cũng như không được bao Cấp ngân sách hoạt động từ nhà nước. Tổ chức và hoạt động của hội theo nguyên tắc tự nguyện, tự quản, tự trang trải về tài chính, dân chủ, công khai, minh bạch, phi lợi nhuận, đề cao sự đồng thuận giữa các thành viên [6]. Trong khi đó, hội cũng khác biệt với các doanh nghiệp, thể hiện ở chỗ hoạt động của hội không nhằm mục tiêu lợi nhuận như các doanh nghiệp.

Mục tiêu hoạt động chủ yếu của hội là tập hợp các nhu cầu cùa cá nhân, nhóm, tổ chức, cộng đồng để hình thành nên các nhu cầu xà hội, nhu cầu chính sách, tạo môi trường xà hội thuận lợi để hội viên, thành viên hình thành và phát triển tri thức, kỹ năng quản lý xã hội; bảo vệ các quyền, lợi ích chính đáng, hợp pháp cùa thành viên, hội viên [61. Từ những phân tích ở trên, trong phạm vi luận vàn này, tác giả sử dụng khái niệm về hội như sau: Hội là tô chức được hình thành trên cơ sở tự nguyên của công dân cùng chung mục đích, hoạt động trên nguyên tắc tuân thủ Hiến pháp, pháp luật 8 và điêu lệ hội; tự nguyên, tự quản; dân chủ, bình đăng, minh bạch; không vì mục đích lợi nhuận; nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của hội, hội viên và cộng đồng, đuợc thành lập và quản lỷ theo pháp luật của Việt Nam. Từ định nghĩa nêu trên, có thế thấy hội bao gồm cả các tô chức xã hội mà được thành lập theo sự chỉ đạo của Đảng và Nhà nước Việt Nam (như Hội Luật gia, Liên đoàn Luật sư, Hội Nhà báo.) và các tô chức phi chỉnh phủ - tức là các tổ chức xã hội được lập ra theo pháp luật nhưng không bắt nguồn từ sự chỉ đạo của Đảng và Nhà nước Việt Nam. Trên thế giới hiện cũng có nhiều định nghĩa khác nhau về tổ chức phi chính phủ (non-governmental organizations, hay NGƠ).

Dù vậy, quan điểm phố biến cho rằng tổ chức phi chính phủ cũng là nhũng hội, có tư cách pháp nhân, không thuộc khu vực nhà nước và không hoạt động vì lợi nhuận. Tố chức phi chính phủ cũng khác biệt với các cơ quan công quyền và doanh nghiệp. Tuy nhiên, có quan điềm cũng cho rằng, tổ chức phi chính phủ đồng thời khác biệt với các nghiệp đoàn, đảng phái chính trị, hay các thiết chế tôn giáo, vì các tố chức phi chính phủ chỉ hoạt động phục vụ lợi ích công cộng, không nhằm các mục tiêu tín ngưỡng, chính trị hay quyền lợi của một nhóm nhất định nào. Trong hệ thống pháp luật hiện hành của Việt Nam hiện nay, khái niệm tổ chức phi chính phủ chỉ áp dụng đối với tố chức phi chính phú nước ngoài được cấp có thẩm quyền cho phép hoạt động tại Việt Nam.

Cụ thể, Nghị định 12/2012 của Chính phủ nêu định nghĩa như sau: Tổ chức phi chính phủ nước ngoài là “các tổ chức phi chính phủ, tổ chức phi lợi nhuận, các quỹ xã hội, quỹ tư nhân, hoặc các hình thức tổ chức xã hội, phi lợi nhuận khác, được thành lập theo luật pháp nước ngoài, có hoạt động hỗ trợ phát triển, viện trợ nhân đạo, không vì mục đích lợi nhuận hoặc các mục đích khác tại Việt Nam”. Như vậy, những đặc trưng cơ bản của tổ chức phi chính phủ nước ngoài được nêu ở trên bao gồm tính “phi lợi nhuận”, và “hoạt động hỗ trợ phát triển và viện trợ nhân đạo” (có thể xem là các tổ chức phi chính phủ Việt Nam). Chiếu theo những đặc trưng này, hiện nước ta có khá nhiều tổ chức có những dấu hiệu tương tự, được thành lập theo các luật khác nhau và có 9 nhiêu tên gọi khác nhau, gôm các tô chức khoa học và công nghệ (theo Luật khoa học và công nghệ), các tố chức về giáo dục (theo Luật giáo dục), quỹ xã hội, quỹ từ thiện (theo Nghị định về quỹ xã hội, quỹ từ thiện). về bản chất, hoạt động của tổ chức này là tương đồng với hội (nêu ở phần trên), điểm khác biệt lớn nhất là ở cơ cấu tố chức (tổ chức phi chính phủ không có hội viên (cá nhân, tập thể) như các hội).

Từ những phân tích ở phần trên, trong phạm vi luận vàn này, tác giả đề xuất khái niệm về tổ chức phi chính phủ là hội không có hội viên, thành lập trên cơ sở tự nguyện của những người cùng chung mục đích phục vụ lợi ích cộng đồng, hoạt động trên nguyên tắc tuân thủ Hiến pháp, pháp luật, tôn chỉ mục đích của tố chức, tự nguyên, tự quản, dân chủ, bình đẳng, minh bạch; không vì lợi nhuận, được thành lập và quản lý theo phảp luật của Việt Nam. Sự hình thành, phát triển của hội Liên quan đến sự hình thành và phát triển của hội, một số nghiên cứu đà đề cập đến những lý thuyết sau đây. Lý thuyết về sự bần cùng (Deprivation Theory) Lý thuyết về sự bần cùng gắn liền với tên tuổi của nhà xã hội học Denton E. Trong nghiên cứu của mình về hội công bố vào năm 1978, Denton E.

Morrison cho rằng sự hình thành các hội có nền tảng từ nhu cầu và quyền lợi của những cá nhân và nhỏm yếu thế mà đã tham gia vào các hội. Nhiều người trong số họ thường bị xem là những người bần cùng, có địa vị xã hội thấp kém và luôn cảm thấy bị tước đoạt một số quyền lợi căn bản về vật chất và tinh thần. Theo cách tiếp cận của lý thuyết về sự bần cùng, các cá nhân bị rơi vào hoàn cảnh như vậy thường có xu hướng tố chức các hoạt động thành một phong trào xã hội để cải thiện, hoặc đế bảo vệ quyền lợi và cải thiện các điều kiện sống của họ [29]. Lý thuyết xã hội đại chúng (Mass Society Theory) Lý thuyết này do William Kornhauser đề xướng trong cuốn sách nhan đề The Politics of Mass Society (Nền chính trị của xã hội đại chúng) xuất bản năm 1959.

Theo lỷ thuyết này, các hội được hình thành từ các cá thế trong cộng đồng - những người cảm thấy không được coi trọng hoặc bị tách rời khỏi xã hội nơi họ đang sống. 10 William Kornhauser tin răng các hội thường cung câp cho các thành viên của nó một cảm giác được trao quyền, và hy vong làm thay đổi được địa vị xã hội của họ. Điều đó đôi khi khiến cho thành viên của các hội trở nên dễ bị kích động, khiển họ có xu hướng liên kết một cách tự nhiên với nhau thành phong trào xã hội [36]. Lý thuyết cấu trúc căng thẳng (Structural strain theory) [6] Lý thuyết này do nhà chính trị học, xã hội học người Mỹ tên là Neil J.

Smelser đề xướng trong một cuốn sách xuất bản tại New York vào năm 1962, có tên là “Theory of Collective Behavior” (Lý thuyết về hành vi tập thể). Trong cuốn sách này, Neil J. Smelser đã đưa ra sáu yếu tố khuyến khích các cá nhân tham gia các hội, cũng như tham gia vào việc phát triển phong trào xã hội, đó là: - Hiện trạng xã hội có thể khiến mọi người tham gia vào các hội tin rằng xã hội của họ đang có vấn đề. - Cơ câu xã hội tạo ra sự căng thăng và không thoa mãn trong một sô đông người.

- Sự gia tăng và lan rộng của các ý kiến xung quanh những giải pháp cho những vấn đề xã hội mà mọi người đang quan tâm. - Sự gia tăng của các yếu tố mang tính kết tủa sự bất mãn khiến nảy sinh một chất xúc tác (thường là tù’ một sự kiện cụ thể) để biến nó thành một phong trào xà hội. - Sự thiếu sự kiểm soát xã hội. Đối với một thực thể xà hội cần thay đổi, nếu • • • • • • J S các hội bị kiềm chế, cấu trúc của thực thế xà hội đó có thế bị phá vỡ nhanh chóng r 9 và mạnh mẽ, và khi đó xã hội trở nên bị mât kiêm soát.

- Sự huy động. Đây là thành phân tô chức thực sự, tập trung các nguôn lực, đây mạnh phong trào và lôi cuốn mọi người tham gia, dẫn tới phá vỡ cấu trúc xã hội. Lỷ thuyết về huy động nguồn lực (Resource Mobilization Theory) Lý thuyết này được đưa ra lần đầu trong tác phẩm “Hành vi tập thể” của hai nhà xã hội học là Turner, L. Nguồn lực ở đây được hiểu rất rộng, bao gồm: kiến thức, tiền bạc, phương tiện truyền thông, sự cần mẫn trong công việc, tình đoàn kết, tính hợp pháp, và sự hỗ trợ từ trong nội bộ cũng như từ bên ngoài từ tầng lớp quyền 11 lực.

Lý thuyêt này cũng cho răng các hội và phong trào xà hội phát triên khi các tô chức và cá nhân có thế huy động đủ nguồn lực để hành động. Giải thích tại sao một số cá nhân ở trong hoàn cảnh bần cùng, thiếu thốn vẫn có thể huy động được các nguồn lực, lý thuyết này nhấn mạnh tới khả năng huy động nguồn lực ngay cả đối với các hội yếu thế nếu nó biết cách khai thác tâm lý của xã hội [28]. Lý thuyết huy động nguồn lực cũng cho thấy khả năng hoạt động vận động xã hội là hết sức mạnh mẽ nếu nó tạo được sự gắn kết giữa nhũng người cùng có những mối quan tâm và nhu cầu chung [28]. Thông qua phát hiện này, lý thuyết về huy động nguồn lực gợi mở rất nhiều vấn đề xung quanh nội dung và phương thức hoạt động của các hội, những nguyên nhân khiến các tổ chức này có thể mở rộng phạm vi theo kiểu “vết dầu loang”, gây ảnh hưởng lớn đối với xã hội.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ