phần mở đầu, lời cảm ơn, mục lục và các danh mục, nội dung chính của đề tài đề án gồm có 3 phần cơ bản sau: Phần 1: Cơ sở xây dựng đề án Phần 2: Thực trạng và một số giải pháp quản lý nhà nước đối với các cụm công nghiệp trên địa bàn huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam Phần 3: Đề xuất, kiến nghị nhằm tăng cường quản lý nhà nước đối với các cụm công nghiệp trên địa bàn huyện Kim Bảng tỉnh Hà Nam 4 PHẦN 1: CƠ SỞ XÂY DỰNG ĐỀ ÁN 1.Cơ sở lý luận về QLNN đối với các cụm công nghiệp 1. Những vấn đề cơ bản về cụm công nghiệp 1. Khái niệm cụm công nghiệp Ở nước ta, CCN lần đầu tiên được thống nhất tên gọi và định nghĩa tại Quyết định 105/2009/QĐ-TTg ngày 19/8/2009 ban hành quy chế quản lý CCN. Năm 2017, Quyết định 105/2009/QĐ-TTg ngày 19/8/2009 ban hành quy chế quản lý CCN được thay thế bằng Nghị định 68/2017/NĐ-CP ngày 25/5/2017 và Nghị định 66/2020/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 68/2017/NĐ-CP ngày 25/5/2017.
Nhằm tiếp tục hoàn thiện chính sách, pháp luật về quản lý, phát triển cụm công nghiệp; đảm bảo quy hoạch, phát triển cụm công nghiệp bền vững, trật tự, hiệu quả, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của các địa phương và kịp thời tháo gỡ những bất cập phát sinh trong thực tiễn. Theo đó, Cụm công nghiệp là nơi sản xuất công nghiệp, thực hiện các dịch vụ cho sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, có ranh giới địa lý xác định, không có dân cư sinh sống, được đầu tư xây dựng chủ yếu nhằm thu hút, di dời các doanh nghiệp nhỏ và vừa, hợp tác xã, tổ hợp tác vào đầu tư sản xuất kinh doanh. Cụm công nghiệp có quy mô diện tích không vượt quá 75 ha và không dưới 10 ha. Riêng đối với cụm công nghiệp ở các huyện miền núi và cụm công nghiệp làng nghề có quy mô diện tích không vượt quá 75 ha và không dưới 05 ha.
* Trong đề án nghiên cứu này cao học viên tiến hành khảo sát trong khoảng thời gian 3 năm từ 2021-2023, do vậy các khái niệm và giải thích từ ngữ, cao học viên căn cứ Nghị định số 68/2017/NĐ-CP, Nghị định 66/2020/NĐ-CP; để làm rõ hơn định nghĩa về CCN cần xác định nội hàm của một số thuật ngữ sau: - Cụm công nghiệp làng nghề là cụm công nghiệp phục vụ di dời, mở rộng sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp nhỏ và vừa, hợp tác xã, tổ hợp tác, cơ sở sản xuất hộ gia đình, cá nhân trong làng nghề nhằm khắc phục tình trạng ô nhiễm môi trường, phát triển nghề, làng nghề ở địa phương. - Chủ đầu tư xây dựng hạ tầng kỹ thuật cụm công nghiệp là doanh nghiệp, hợp tác xã, đơn vị được thành lập và hoạt động theo quy định của pháp luật Việt Nam thực hiện đầu tư xây dựng, quản lý, khai thác hệ thống công trình hạ tầng kỹ 5 thuật cụm công nghiệp. - Trung tâm phát triển cụm công nghiệp cấp huyện là đơn vị sự nghiệp kinh tế có thu trực thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện, đã được thành lập theo Quy chế quản lý cụm công nghiệp ban hành kèm theo Quyết định số 105/2009/QĐ-TTg ngày 19 tháng 8 năm 2009 của Thủ tướng Chính phủ. - Ban Quản lý cụm công nghiệp cấp huyện là đơn vị trực thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện, do Ủy ban nhân dân cấp huyện quyết định thành lập để giao hoặc ủy quyền nhiệm vụ chủ đầu tư xây dựng hạ tầng kỹ thuật cụm công nghiệp trên địa bàn.
- Hệ thống công trình hạ tầng kỹ thuật chung của cụm công nghiệp bao gồm hệ thống các công trình giao thông nội bộ, vỉa hè, cây xanh, cấp nước, thoát nước, xử lý nước thải, chất thải rắn, cấp điện, chiếu sáng công cộng, thông tin liên lạc nội bộ, nhà điều hành, bảo vệ và các công trình khác phục vụ hoạt động của cụm công nghiệp. - Tổ chức, cá nhân đầu tư sản xuất, kinh doanh trong cụm công nghiệp bao gồm các doanh nghiệp, hợp tác xã, tổ hợp tác được thành lập theo quy định của pháp luật Việt Nam; các cá nhân và hộ gia đình (đối với cụm công nghiệp làng nghề) có đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật. - Diện tích đất công nghiệp là diện tích đất của cụm công nghiệp có thể cho doanh nghiệp thuê, thuê lại để thực hiện sản xuất, kinh doanh, được xác định trong quy hoạch chi tiết do cơ quan có thẩm quyền phê duyệt. - Diện tích xây dựng hệ thống công trình hạ tầng kỹ thuật chung của cụm công nghiệp là phần diện tích đất của cụm công nghiệp dành cho xây dựng hệ thống công trình hạ tầng kỹ thuật chung, được xác định trong quy hoạch chi tiết do cơ quan có thẩm quyền phê duyệt.
- Tỷ lệ lấp đầy của cụm công nghiệp là tỷ lệ % của diện tích đất công nghiệp đã cho các tổ chức, cá nhân thuê, thuê lại để sản xuất, kinh doanh trên tổng diện tích đất công nghiệp của cụm công nghiệp. - Phương án phát triển cụm công nghiệp là việc sắp xếp, phân bố không gian phát triển các cụm công nghiệp hợp lý gắn với các chính sách, giải pháp quản lý, đầu tư xây dựng đồng bộ hạ tầng kỹ thuật trên địa bàn cấp tỉnh trong từng thời kỳ trên cơ sở bảo vệ môi trường, tiết kiệm, hiệu quả sử dụng đất và các nguồn lực, tài nguyên khác của địa phương. Phương án phát triển cụm công nghiệp là một nội dung của quy hoạch 6 tỉnh, được xây dựng, tích hợp vào quy hoạch tỉnh theo pháp luật quy hoạch. Phân loại Cụm công nghiệp Trong thực tế, các CCN khá phong phú và đa dạng, có thể phân loại theo các tiêu chí khác nhau.
Có ba cách phân loại cơ bản như sau: - Phân loại theo chuyên môn hoá + CCN đơn nghề: tập trung các cơ sở chuyên sản xuất - kinh doanh một mặt hàng. + CCN đa nghề: tập trung các doanh nghiệp nhỏ và vừa sản xuất nhiều mặt hàng thuộc các ngành khác nhau. - Phân loại theo sự liên kết + CCN liên kết theo chiều ngang. Tập trung vào việc cùng có chung các điều kiện đầu vào và/hoặc các nguồn lực tương tự giữa các doanh nghiệp trong CCN hoặc trong Cụm có sự liên kết giữa các doanh nghiệp cùng sản xuất một loại sản phẩm.
Ví dụ: CCN may tập trung các doanh nghiệp may, dệt. + CCN liên kết theo chiều dọc: Trong Cụm có sự liên kết giữa các doanh nghiệp đảm nhận những công đoạn khác nhau của một quá trình sản xuất và kinh doanh. Ví dụ: CCN gốm sứ tập trung các doanh nghiệp: khai thác vận chuyển đất, chế biến đất, tráng men, nung, phân phối sản phẩm gồm sứ. + CCN kết hợp liên kết theo chiều dọc và liên kết theo chiều ngang 1.
Vai trò của cụm công nghiệp - Góp phần quan trọng trong việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Xây dựng và phát triển các CCN đã tách khu vực sản xuất ra khỏi khu dân cư, giúp các doanh nghiệp có môi trường đầu tư tốt hơn do đã được đầu tư đồng bộ về hạ tầng kỹ thuật, đảm bảo an ninh trật tự, vệ sinh môi trường.sản phẩm công nghiệp ngày càng đa dạng, chủng loại phong phú hơn, cải thiện hơn về chất lượng, khả năng cạnh tranh từng bước được nâng lên, đảm bảo cung cầu của nền kinh tế, mở rộng thị trường xuất khẩu, giữ vững thị trường trong nước. - Góp phần giải quyết việc làm tăng thu nhập và phúc lợi cho người lao động từ đó nâng cao chất lượng đời sống dân cư. 7 Những địa phương có CCN hình thành và phát triển, nhờ mở rộng quy mô sản xuất, kết hợp giữa mô hình sản xuất phân tán và tập trung nên đã thu hút được nhiều lao động, giải quyết việc làm, thúc đẩy sự phân công lao động ở nông thôn.
Các CCN không những giải quyết việc làm cho lao động tại địa phương mà còn thu hút lao động ở những vùng lân cận. Do vậy, việc phát triển CCN không những góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống, tăng thu nhập cho người dân. - Thúc đẩy quá trình áp dụng tiến bộ khoa học, công nghệ trong sản xuất kinh doanh; tăng lợi thế cạnh tranh cho doanh nghiệp. Nước ta là nước có xuất phát thấp, trình độ khoa học còn công nghệ còn chậm phát triển, việc hình thành các CCN sẽ tạo điều kiện để thu hút các nhà đầu tư nước ngoài với những dây chuyền sản xuất công nghệ tiên tiến, hiện đại hơn, ở những lĩnh vực chúng ta còn yếu kém, các DN có điều kiện chuyển từ sản xuất manh mún sang sản xuất tập trung.
- Thúc đẩy thu hút đầu tư, giảm thiểu ô nhiễm môi trường. Mục tiêu quan trọng của các CCN là thu hút đầu tư, nhất là đầu tư nước ngoài để phát triển CN theo quy hoạch. Với tính chất là vùng lãnh thổ hoạt động trong môi trường đầu tư chung cơ sở hạ tầng, CCN trở thành công cụ hữu hiệu để thu hút vốn đầu tư, mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh cho các DN vừa và nhỏ, giải quyết được vấn đề mặt bằng và vốn sản xuất cũng như sử dụng hiệu quả nguồn tài nguyên, năng lượng, tập trung các nguồn phế thải vào các khu vực nhất định, nâng cao hiệu quả quản lý và bảo vệ môi trường. Những vấn đề cơ bản của quản lý nhà nước đối với CCN 1.
Khái niệm quản lý nhà nước đối với CCN Quản lý là sự tác động có mục đích của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý bằng hệ thống phương tiện, công cụ, cơ chế khác nhau nhằm đạt được mục tiêu quản lý đặt ra, phù hợp với sự vận động khách quan. Quản lý nhà nước là một nội dung trong quản lý xã hội, là hoạt động quản lý xã hội mang tính quyền lực nhà nước, do cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện. Hay quản lý nhà nước là sự tác động có tổ chức và điều chỉnh bằng quyền lực nhà nước đối với các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người để duy trì và phát triển các mỗi quan hệ xã hội và trật tự pháp luật nhằm thực hiện những chức 8 năng và nhiệm vụ của nhà nước trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.