MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Xã hội hoá giáo dục là thu hút mọi tổ chức quần chúng, mọi thành phần kinh tế, mọi công dân có điều kiện tham gia đầu tƣ các dự án phát triển giáo dục trong khi nguồn ngân sách nhà nƣớc cấp cho giáo dục còn hạn hẹp, chƣa đáp ứng đƣợc sự phát triển của giáo dục. Xã hội hoá là xây dựng cộng đồng trách nhiệm của các tầng lớp nhân dân đối với việc tạo lập và cải thiện môi trƣờng kinh tế, xã hội lành mạnh và thuận lợi cho các hoạt động giáo dục. Xã hội hoá là mở rộng các nguồn đầu tƣ, khai thác các tiềm năng về nhân lực, vật lực và tài lực trong xã hội.
Phát huy và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực của nhân dân, tạo điều kiện cho hoạt động giáo dục phát triển nhanh hơn, có chất lƣợng cao hơn, là chính sách lâu dài, là phƣơng châm thực hiện chính sách xã hội của Đảng và Nhà nƣớc, chứ không phải là biện pháp tạm thời, chỉ có ý nghĩa tình thế, trƣớc mắt do Nhà nƣớc thiếu kinh phí cho hoạt động này. Khi nhân dân ta có mức thu nhập cao, ngân sách nhà nƣớc dồi dào vẫn phải thực hiện xã hội hoá, bởi vì giáo dục là sự nghiệp lâu dài của nhân dân, sẽ phát triển không ngừng mọi nguồn lực to lớn của toàn dân. Ở mỗi địa phƣơng, đây là cộng đồng trách nhiệm của Đảng bộ, HĐND, UBND, các cơ quan nhà nƣớc, các đoàn thể quần chúng, các tổ chức kinh tế, các doanh nghiệp đóng tại địa phƣơng và của từng ngƣời dân. Xã hội hóa trong lĩnh vực giáo dục, đặc biệt là giáo dục đại học, là một chủ trƣơng lớn của Nhà nƣớc.
Chủ trƣơng này có mục tiêu chính là phát huy sức mạnh toàn dân, tạo ra những chuyển biến tốt hơn về chất lƣợng giáo dục bậc cao. Xã hội hóa trong giáo dục với ý nghĩa đó bao gồm sự tham gia của nhiều bên, nhiều thành phần xã hội trong quá trình quản trị trƣờng đại học và hệ thống đại học, nhằm giúp trƣờng đại học thực hiện tốt nhất vai trò và sứ mạng của nó để phục vụ cho lợi ích của quốc gia. Khi thu nhập xã hội tăng lên, nhiều gia đình đã tự túc về các nhu cầu giáo dục, y tế. (nhƣ du học tự túc, khám chữa bệnh ở các cơ sở tƣ nhân) thì Nhà nƣớc vẫn sử dụng chính sách bao cấp qua chế độ phí thấp cho tất cả mọi ngƣời, đặt Nhà nƣớc luôn ở trong tình trạng hạn hẹp về ngân sách, không đủ điều kiện để chăm lo tốt hơn cho các đối tƣợng chính sách, cho ngƣời nghèo, vùng nghèo, vùng khó khăn, đồng 1 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com thời cũng không tập trung đƣợc cho những mục tiêu ƣu tiên.
Trong các lĩnh vực giáo dục, y tế, văn hoá, thể thao, các cơ sở công lập chiếm tỷ trọng lớn vẫn áp dụng cơ chế quản lý nhƣ các cơ quan hành chính nên đã không phát huy đƣợc tính năng động, tự chủ và trách nhiệm. Các cơ sở ngoài công lập chƣa nhiều, cơ sở vật chất còn đơn sơ, nghèo nàn, đội ngũ cán bộ còn thiếu và yếu. Chất lƣợng và hiệu quả hoạt động chƣa cao, còn có những biểu hiện tiêu cực, thậm chí có những cơ sở đã vi phạm pháp luật. Nguyên nhân của những hạn chế trƣớc hết là do nhận thức còn chƣa đầy đủ, xem xã hội hoá chỉ là biện pháp huy động sự đóng góp của nhân dân trong điều kiện ngân sách nhà nƣớc hạn hẹp.
Tƣ tƣởng và thói quen bao cấp vẫn còn khá nặng nề. Trong chính sách xã hội hoá, chƣa quy định rành mạch về sở hữu của các cơ sở ngoài công lập (bán công, dân lập); chƣa phân định rõ sự khác biệt giữa các hoạt động có bản chất lợi nhuận và phi lợi nhuận trong các cơ sở giáo dục, y tế, văn hoá, thể dục thể thao, giữa phúc lợi cho ngƣời dân và việc bao cấp cho các cơ sở công lập. Thực tế đòi hỏi phải tiếp tục hoàn thiện cơ chế chính sách, giải pháp để vừa bảo đảm định hƣớng phát triển, vừa khuyến khích, đẩy mạnh và nâng cao chất lƣợng xã hội hoá các hoạt động giáo dục, y tế, văn hoá và thể dục thể thao. Huy động nguồn lực xã hội là giải pháp cốt lõi cần làm để đẩy mạnh XHHGD ở nƣớc ta, trƣớc hết là để từ đó có thể huy động tất cả các nguồn lực có thể trong xã hội thông qua các mạng lƣới xã hội và các quan hệ xã hội khác mà nguồn lực xã hội cung cấp, đặc biệt là huy động các nguồn lực tài chính cho các hoạt động phát triển giáo dục.
Đại học Quốc gia Hà Nội (ĐHQGHN) là cơ sở giáo dục đại học công lập bao gồm tổ hợp các trƣờng đại học, viện nghiên cứu khoa học thành viên thuộc các lĩnh vực chuyên môn khác nhau, tổ chức theo hai cấp để đào tạo các trình độ đại học, thạc sĩ, tiến sĩ; là trung tâm đào tạo, nghiên cứu khoa học và công nghệ có cơ cấu đa ngành, đa lĩnh vực, chất lƣợng cao, trong đó tập trung vào lĩnh vực khoa học, công nghệ cao và một số lĩnh vực kinh tế - xã hội mũi nhọn; có chƣơng trình, nội dung, phƣơng pháp đào tạo, nghiên cứu khoa học tiên tiến; có đội ngũ cán bộ giảng dạy, nghiên cứu trình độ cao; có đội ngũ cán bộ quản lý chuyên nghiệp và đồng bộ; kết hợp chặt chẽ giữa đào tạo với nghiên cứu khoa học và triển khai ứng dụng, giữa các 2 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com ngành khoa học tự nhiên, xã hội và nhân văn, giữa khoa học và công nghệ để đào tạo nguồn nhân lực chất lƣợng cao và bồi dƣỡng nhân tài khoa học, công nghệ; định hƣớng phát triển thành đại học nghiên cứu ngang tầm với các đại học có uy tín trong khu vực và trên thế giới. Sau hơn 20 năm xây dựng và phát triển, các mục tiêu do chính ĐHQGHN đặt ra cũng nhƣ các kỳ vọng của xã hội đối với ĐHQGHN đang từng bƣớc vững chắc đƣợc thực hiện. Trong chặng đƣờng đã qua ấy, ĐHQGHN đã không chỉ khẳng định và phát triển mô hình, mà còn đạt đƣợc những thành tựu quan trọng trên nhiều mặt: đào tạo, nghiên cứu khoa học - chuyển giao công nghệ, xây dựng đội ngũ, phát triển cơ sở vật chất, tạo nên nền tảng bƣớc đầu quan trọng cho quá trình xây dựng ĐHQGHN theo mô hình trở thành đại học định hƣớng nghiên cứu, đa ngành, đa lĩnh vực có tính hội nhập cao, trong đó, một số trƣờng đại học, viện nghiên cứu thành viên thuộc các lĩnh vực khoa học cơ bản, công nghệ cao và kinh tế - xã hội mũi nhọn đạt trình độ tiên tiến châu Á. Phát triển tài chính đại học là một trong các vấn đề trọng yếu của bất kỳ hệ thống giáo dục đại học nào trên thế giới.
Mặc dù Chính phủ là nhà đầu tƣ chủ yếu cho giáo dục đại học ở hầu hết các quốc gia, nhƣng ngày càng có nhiều nguồn tài chính khác giúp chia sẻ chi phí này: ngƣời học, doanh nghiệp, các tổ chức xã hội, các tổ chức phi chính phủ trong và ngoài nƣớc, sự tài trợ của quốc tế,… Bản thân các trƣờng đại học cũng đang ngày càng nâng cao khả năng tăng nguồn thu thông qua các hoạt động đào tạo, nghiên cứu khoa học, dịch vụ cộng đồng,… Trong phạm vi ĐHQGHN, ngoài ý chí và quyết tâm của lãnh đạo, đội ngũ cán bộ, giảng viên, sinh viên, nguồn lực tài chính là vô cùng quan trọng, nếu không nói là có ý nghĩa quyết định đối với sự nghiệp xây dựng và phát triển ĐHQGHN thành một Đại học nghiên cứu tầm cỡ khu vực và quốc tế. Mặc dù nhà nƣớc đã quan tâm và đầu tƣ ngày càng nhiều hơn cho giáo giáo dục, song cũng chƣa thể đáp ứng đƣợc yêu cầu phát triển giáo dục nhƣ hiện nay, với thực tế nguồn kinh phí phục vụ công tác đào tạo và nghiên cứu ở các trƣờng đại học Việt Nam nói chung và ở ĐHQGHN nói riêng vẫn còn hết sức eo hẹp và khó khăn. Vì vậy Quỹ Phát triển ĐHQGHN đã đƣợc thành lập với phƣơng châm hoạt hoạt động không vì lợi nhuận, nhằm mục đích hỗ trợ cán bộ, viên chức và học sinh, sinh viên, học viên cao học và nghiên cứu 3 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com sinh của ĐHQGHN có nhiều cơ hội thuận lợi trong công tác giảng dạy, nghiên cứu, học tập để nâng cao trình độ và chất lƣợng đào tạo, nghiên cứu khoa học đồng thời nâng cấp cơ sở vật chất, kỹ thuật góp phần xây dựng và phát triển ĐHQGHNngang tầm các trƣờng đại học tiên tiến trong khu vực, tiến tới đạt trình độ quốc tế. Để có thể xây dựng và phát triển ĐHQGHN thành một đại học nghiên cứu tầm cỡ khu vực và quốc tế, cần phải có một nguồn tài chính đủ lớn và đủ mạnh.
Trong khi đó, hiện nay nguồn kinh phí phục vụ công tác đào tạo và nghiên cứu ở các trƣờng đại học Việt Nam nói chung và ở ĐHQGHN nói riêng vẫn còn rất hạn hẹp, chủ yếu là từ ngân sách và học phí. Kinh phí từ chuyển giao công nghệ và các nguồn khác không lớn và không thƣờng xuyên. Trƣớc những vấn đề khó khăn, hạn chế nói trên về tài chính cho giáo dục đại học, ĐHQGHN đã năng động nghiên cứu, tìm tòi, tham khảo mô hình của các trƣờng đại học trên thế giới, mạnh dạn đề xuất thành lập “Quỹ phát triển Đại học quốc gia Hà Nội” (Quỹ). Đây là mô hình không mới đối với các cơ sở giáo dục đào tạo nhƣng chƣa đƣợc thực hiện bài bản và chính thống, chƣa đƣợc nhà nƣớc cấp phép chính thức chính vì vậy còn gặp nhiều hạn chế từ đơn vị đứng lên huy động cũng nhƣ cá nhân, tổ chức cấp kinh phí tài trợ cho các hoạt động liên quan đến giáo dục.
Vì vậy việc ra đời của Quỹ Phát triển tại ĐHQGHN là rất cần thiết. Đƣợc thành lập theo quyết định số 3737/QĐ-UBND ngày16/8/2011, Quỹ phát triển ĐHQGHN là đơn vị thứ 2 trong cả nƣớc (sau Quỹ Phát triển ĐHQG- HCM) hoạt động theo mô hình Quỹ Xã Hội và chính thức đƣợc đi vào hoạt động từ tháng 9/2013, trong 6 năm hoạt động Quỹ đã có những đóng góp nhất định trong sự phát triển chung của ĐHQGHN.