CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ MÔI TRƯỜNG TẠI CÁC CƠ SỞ KHAI THÁC KHOÁNG SẢN 1.1 Cơ sở lý luận về công tác quản lý môi trường tại các cơ sở khai thác khoáng sản 1.1 Các khái niệma Theo Wikipedia, khoáng sản là từ Hán - Việt, bính âm là Kuàng chăn. Trong đó theo Hán Việt Thiều Chửu thì quáng/ khoáng nghĩa là quặng mỏ và phàm vật gì lấy ra ở mỏ đều gọi là quáng, người Việt quen đọc là khoáng. Còn sản là nơi sinh ra. Khoáng sản có nghĩa là nơi sinh ra quặng mỏ.
Còn theo Luật Khoáng sản năm 2010 quy định: "Khoáng sản là khoáng vật, khoáng chất có ích được tích tụ tự nhiên ở thể rắn, thể lỏng, thể khí tồn tại trong lòng đất, trên mặt bao gồm cả khoáng vật, khoáng chất ở bãi thải của mỏ". Theo quy định tại Khoản 7 Điều 2 Luật Khoáng sản 2010 thì khai thác khoáng sản là hoạt động nhằm thu hồi khoáng sản, bao gồm xây dựng cơ bản mỏ, khai đào, phân loại, làm giàu và các hoạt động khác có liên quan. Theo Wikipedia, môi trường là một tổ hợp các yếu tố tự nhiên và xã hội bao quanh bên ngoài của một hệ thống hoặc một cá thể, sự vật nào đó. Chúng tác động lên hệ thống này và xác định xu hướng và tình trạng tồn tại của nó.
Môi trường có thể coi là một tập hợp, trong đó hệ thống đang xem xét là một tập hợp con. Một định nghĩa rõ ràng hơn như: Môi trường là tập hợp tất cả các yếu tố tự nhiên và xã hội bao quanh con người, ảnh hưởng tới con người và tác động đến các hoạt động sống của con người như: không khí, nước, độ ẩm, sinh vật, xã hội loài người và các thể chế. Nói chung, môi trường của một khách thể bao gồm các vật chất, điều kiện hoàn cảnh, các đối tượng khác hay các điều kiện nào đó mà chúng bao quanh khách thể này hay các hoạt động của khách thể diễn ra trong chúng. Quản lý môi trường là sử dụng tổng hợp các biện pháp, luật pháp, chính sách kinh tế, kỹ thuật thích hợp để tác động và điều chỉnh các hoạt động của con người nhằm làm hài hòa mối quan hệ giữa phát triển và môi trường, sao cho vừa thỏa mãn nhu cầu của 5 con người, vừa bảo đảm được chất lượng của môi trường và không quá khả năng chịu đựng của hành tinh chúng ta.
Quản lý môi trường trong khai thác khoáng sản là việc sử dụng các biện pháp thích hợp để tác động vào quá trình khai thác nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm sự hài hòa giữa môi trường nhân tạo và môi trường tự nhiên, giữ gìn đa dạng sinh học khu vực khai thác.2 Vai trò của công tác quản lý môi trường tại các cơ sở khai thác khoáng sản - Khai thác và sử dụng có hiệu quả nguồn tài nguyên, hạn chế những ảnh hưởng xấu tới cảnh quan và hình thái môi trường khu vực khai thác khoáng sản. - Nâng cao ý thg cao ýchành pháp luvà sử dụng có hiệ huh pháp luvà sử dụng có hiệu quả nguồn tài nguyên, hạn chế những ảnh hưởng xấu tới cảnh quan và hình thái môi tkhoáng sp l - Mang lại những lợi ích thiết thực về mặt kinh tế xã hội, tạo công ăn việc làm và nguồn thu nhập ổn định cho cán bộ công nhân viên của công ty cũng như dân cư trong khu vực đồng thời góp phần tích cực vào sự phát triển kinh tế chung của khu vực khai thác khoáng sản.3 Nội dung công tác quản lý môi trường 1.1 Nội dung quản lý nhà nước về môi trường Quản lý Nhà nước về môi trường là sự tác động có tổ chức và bằng quyền lực của Nhà nước lên đối tượng quản lý để phối hợp sử dụng có hiệu quả nhất các nguồn lực nhằm thực hiện mục tiêu đất nước đặt ra trong điều kiện môi trường biến đổi. Ở Việt Nam, nội dung quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường được quy định ở điều 139, Chương XIV Luật Bảo vệ môi trường số 55/2014 của Quốc Hội cụ thể: 1. Xây dựng, ban hành theo thẩm quyền và tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật về bảo vệ môi trường, ban hành hệ thống tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật môi trường.
Xây dựng, chỉ đạo thực hiện chiến lược, chính sách, chương trình, đề án, quy hoạch, kế hoạch về bảo vệ môi trường. Tổ chức, xây dựng, quản lý hệ thống quan trắc; định kỳ đánh giá hiện trạng môi trường, dự báo diễn biến môi trường. Xây dựng, thẩm định và phê duyệt quy hoạch bảo vệ môi trường; thẩm định báo cáo đánh giá môi trường chiến lược; thẩm định, phê duyệt báo cáo đánh giá tác động môi trường và kiểm tra, xác nhận các công trình bảo vệ môi trường; tổ chức xác nhận kế hoạch bảo vệ môi trường. Chỉ đạo, hướng dẫn và tổ chức thực hiện các hoạt động bảo tồn đa dạng sinh học; quản lý chất thải; kiểm soát ô nhiễm; cải thiện và phục hồi môi trường.
Cấp, gia hạn, thu hồi giấy phép, giấy chứng nhận về môi trường. Thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật về bảo vệ môi trường; thanh tra trách nhiệm quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường; giải quyết khiếu nại, tố cáo về bảo vệ môi trường; xử lý vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường. Đào tạo nhân lực khoa học và quản lý môi trường; giáo dục, tuyên truyền, phổ biến kiến thức, pháp luật về bảo vệ môi trường. Tổ chức nghiên cứu, áp dụng tiến bộ khoa học, công nghệ trong lĩnh vực bảo vệ môi trường.
Chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra và đánh giá việc thực hiện ngân sách nhà nước cho các hoạt động bảo vệ môi trường. Hợp tác quốc tế trong lĩnh vực bảo vệ môi trường. Quản lý tài nguyên gắn liền với bảo vệ môi trường là một nội dung quan trọng trong Quản lý nhà nước về môi trường được nêu chi tiết dưới đây.2 Nội dung công tác quản lý tài nguyên gắn liền với bảo vệ môi trường: Hệ thống quản lý môi trường dựa trên nguyên tắc liên tục hoàn thiện bắt đầu với lập kế hoạch và phát triển một chính sách môi trường, sau đó thông qua thực hiện và vận hành hệ thống quản lý môi trường để kiểm tra tính hiệu quả và sửa chữa sai sót của hệ thống, tiến hành kiểm tra định kỳ công tác quản lý hệ thống trên cơ sở tính ổn định toàn diện và hiệu quả thực hiện quản lý môi trường. Khi tiến hành xây dựng một hệ 7 thống quản lý môi trường cần tiến hành đủ các nội dung chính gồm: Chính sách môi trường; Lập kế hoạch; Thực hiện; Đo và đánh giá; Xem xét và cải tiến.
- Chính sách môi trường; + Chính sách môi trường là nền tảng cho hệ thống quản lý môi trường; nó là cơ sở dựa vào đó để định hướng và hiệu chỉnh tất cả các quyết định và hoạt động của đơn vị khai thác; + Một chính sách môi trường phải chuyển tải được thông tin về giá trị và cam kết của đơn vị khai thác khoáng sản liên quan tới hoạt động bảo vệ môi trường; + Một chính sách cần rõ ràng, ngắn gọn, thực tế và có tác dụng khuyến khích, phản ánh được nguyên tắc, giá trị và định hướng về môi trường của đơn vị khai thác; + Chính sách môi trường cần được bổ sung bên cạnh các chính sách khác của đơn vị khai thác, như chính sách về chất lượng, sức khoẻ và an toàn, và các nguyên tắc kinh doanh cơ bản; - Công tác quản lý môi trường thể hiện trên một số góc độ, khía cạnh: kinh tế, pháp luật, khoa học công nghệ, ý thức cộng đồng. + Kinh tế: Quản lý hoạt động khai thác tài nguyên gắn với bảo vệ môi trường được hình thành trong bối cảnh của nền kinh tế thị trường và thực hiện điều tiết xã hội thông qua các công cụ kinh tế. Trong nền kinh tế thị trường hiện nay, hoạt động phát triển và sản xuất của cải vật chất diễn ra dưới sức ép của sự trao đổi hàng hoá theo qui luật giá trị. Loại hàng hoá có chất lượng tốt và giá thành rẻ sẽ được tiêu thụ nhanh.
Ngược lại, loại hàng hoá kém chất lượng và đắt sẽ không có chỗ đứng. Vì vậy, dựa vào qui luật khách quan đó, chúng ta có thể chủ quan dùng các phương pháp và công cụ kinh tế để đánh giá và định hướng hoạt động quản lý khai thác tài nguyên gắn được với bảo vệ môi trường. + Pháp luật: Cơ sở luật pháp của quản lý hoạt động khai thác tài nguyên gắn với bảo vệ môi trường là các văn bản của luật quốc tế và luật quốc gia về lĩnh vực khai thác và bảo vệ môi trường. Ở Việt Nam, Luật Bảo vệ Môi trường đầu tiên được quốc hội nước 8 Việt Nam thông qua ngày 27/12/1993 là văn bản quan trọng nhất.
Bên cạnh đó, chính phủ đã ban hành Nghị định 175/CP ngày 18/10/1994 về hướng dẫn thi hành Luật Bảo vệ Môi trường và Nghị định 26/CP ngày 26/4/1996 về Xử phạt vi phạm hành chính về bảo vệ môi trường. Ngoài ra, Bộ Luật hình sự, hàng loạt các thông tư, quy định, quyết định của các ngành chức năng về thực hiện luật môi trường cũng đã được ban hành. Đến nay, Luật Bảo vệ Môi trường đã nhiều lần được sửa đôi cho phù hợp thực tiễn và gần đây nhất là Luật Bảo vệ Môi trường sửa đổi năm 2010. Cùng với luật là các pháp lệnh và các văn bản hướng dẫn thực hiện.
Căn cứ các văn bản của luật pháp quốc tế đã được nhà nước Việt Nam phê duyệt và hệ thông pháp luật Việt Nam làm cơ sở quan trọng cho việc thực hiện công tác quản lý môi trường. + Cộng đồng: Hiện nay, ở Việt Nam việc tăng cường công tác truyền thông nhằm nâng cao ý thức trong việc bảo vệ môi trường được thực hiện qua một số phương thức sau: Truyền thông tin tới từng nhóm qua hội thảo, tập huấn, huấn luyện, họp nhóm, tham quan, khảo sát. Truyền thông qua các phương tiện truyền thông đại chúng: báo chí, tivi, radio, pano, áp phích, tờ rơi, phim ảnh,. Tiếp cận truyền thông qua những buổi biểu diễn lưu động, tham gia hội diễn, các chiến dịch, tham gia các lễ hội, các ngày kỷ niệm.