Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ LỒNG GHÉP GIỚI TRONG HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC Ở TRƯỜNG PHỔ THÔNG DÂN TỘC BÁN TRÚ THCS 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Tổng quan nghiên cứu về lồng ghép giới trong hoạt động giáo dục ở trường phổ thông J.P MA-SƠ-LÔ-VA (Tiệp Khắc) đã nghiên cứu các vấn đề về giới tính cho rằng: ''Nhiều người trong chúng ta biết rằng không nên để con cái phải tự lần mò tìm hiểu lấy chuyện tình dục, song lại không biết hướng dẫn, tác động, không biết khi nào cần nói và nói như thế nào. Các tác giả Đặng Xuân Hoài, Trần Trọng Thủy, Phạm Hoàng Gia, Nguyễn Thị Đoan, Nguyễn Thị Tho, Bùi Ngọc Oánh, Lê Nguyên, Phạm Ngọc, Minh Đức [dẫn theo 28]… đã nghiên cứu nhiều vấn đề, nhiều khía cạnh chi tiết của giới tính và giáo dục giới tính.
Nhiều công trình nghiên cứu về giới tính, tình yêu, hôn nhân gia đình, nhiều cuộc điều tra về tình yêu và đời sống hôn nhân gia đình đã được tiến hành từ năm 1985 đến nay, bước đầu làm cơ sở cho việc giáo dục giới tính cho thanh niên và học sinh. Những công trình này đã nêu lên nhiều vấn đề rất phong phú đa dạng về vấn đề giới tính và giáo dục giới tính ở Việt Nam và sự cần thiết phải lồng ghép giới trong các hoạt động giáo dục nhà trường. TS Bùi Ngọc Oánh cho rằng: “Việc giáo dục giới tính cần phải được thực hiện một cách khoa học hợp lý, có phương pháp và hình thức giảng dạy thích hợp. Hoạt động giáo dục này cũng phải được tiến hành bởi những người có chuyên môn, có trình độ, được đào tạo một cách chu đáo và hệ thống, giống như việc giáo dục, giảng dạy những bộ môn khoa học khác trong nhà trường” [28].
Tác giả đề xuất các biện pháp lồng ghép giới trong HĐDH và hoạt động GDNGLL ở trường phổ thông. 6 -Bùi Ngọc Oánh (1991), nghiên cứu: “Những yếu tố tâm lý trong sự chấp nhận GDGT của thanh niên học sinh” [14] đã chỉ ra những yếu tố tâm lý ảnh hưởng tới GDGT và hiệu quả của GDGT cho HS, trên cơ sở đó đề xuất các biện pháp GDGT và đề cập đến biện pháp LGG trong GD nhà trường. Huỳnh Văn Sơn (1994) [Dẫn theo 26] đã nghiên cứu về “Cơ sở giáo dục giới tính cho học sinh THPT và đánh giá thực trạng thái độ, hành vi của học sinh trước các vấn đề giáo dục giới tính ở trường THPT”, tác giả đã chỉ ra những hạn chế trong GDGT cho học sinh THPT và sự cần thiết lồng ghép GDGT trong các nhà trường THPT. Các công trình nghiên cứu về GDGT tại Australia, Aid (2014) [1].
Đã nghiên cứu về vấn đề phòng ngừa xâm hại tình dục trẻ em, hướng dẫn thảo luận với cán bộ cộng đồng và cách thức lồng ghép GDGT cho HS trong các hoạt động GD của nhà trường. Những năm gần đây có nhiều bài viết và công trình nghiên cứu về GDGT và lồng ghép GDGT trong các hoạt động GD của trường phổ thông nhằm nâng cao hiệu quả GDGT. Tổng quan nghiên cứu về quản lý lồng ghép giới trong hoạt động giáo dục ở trường phổ thông Tập thể tác giả thuộc Uỷ ban Dân số gia đình và trẻ em (2003), biên soạn tài liệu “Hướng dẫn giảng dạy quản lý công tác truyền thông thay đổi hành vi trong lĩnh vực dân số và chăm sóc SKSS”, tài liệu đã chỉ dẫn cách thức lồng ghép giáo dục dân số và chăm sóc SKSS cho trẻ em và quản lý các hoạt động này nhằm giúp các nhà trường, tổ chức GD cộng đồng thực hiện LGG trong các hoạt động GD. Phan Hữu Dũng (2014), nghiên cứu về “Quản lý công tác giáo dục sức khoẻ sinh sản cho học sinh THCS huyện Hoà Vang thành phố Đà Nẵng” [13] đã đánh giá về thực trạng GD và quản lý giáo dục SKSS cho HS ở các trường THCS trong đó có đề xuất quản lý việc lồng ghép giáo dục SKSS thông qua dạy học, GD ở trường THCS.
7 Nguyễn Thị Nhuần(2019) Nghiên cứu về “Quản lý giáo dục giới tính cho học sinh các trường phổ thông Dân tộc bán trú Trung học cơ sở ở huyện mường chà tỉnh Điện Biên” [26] đã đánh giá những tồn tại trong giáo dục giới tính cho HS và những bất cập trong quản lý hoạt động giáo dục giới tính ở các trường PTDTBT huyện Mường Chà tỉnh Điện Biên và đề xuất biện pháp lồng ghép GDGT và quản lý GDGT cho HS thông qua HĐ DH các môn học chiếm ưu thế và hoạt động GDNGLL ở trường THCS. Nhìn chung chưa có nhiều tài liệu hay công trình đi sâu nghiên cứu về quản lý LGG trong HĐGD ở trường phổ thông chính vì vây tác giả chọn vấn đề để nghiên cứu. Các khái niệm cơ bản 1. Giới, giới tính, bình đẳng giới Giới: là thuật ngữ dùng để “chỉ đặc điểm, vị trí, vai trò của nam và nữ trong tất cả các mối quan hệ xã hội” [39] Nói cách khác, giới là một khái niệm xã hội và văn hóa nhằm xác định và phân biệt các vai trò, đặc điểm và trách nhiệm khác nhau của nam và nữ.
Khái niệm giới tính được tiếp cận từ nhiều ngành khoa học khác nhau. Giới tính là thuật ngữ bắt nguồn từ môn sinh vật học dùng để chỉ sự khác biệt về mặt sinh học giữa nam giới và nữ giới. [29] Luật Bình đẳng giới (2006) định nghĩa: “Giới tính chỉ các đặc điểm sinh học của nam và nữ”[24] Tuy nhiên, khái niệm trên chưa chỉ ra đầy đủ các khía cạnh, dấu hiệu của giới tính. “Giới tính là định nghĩa nhằm chỉ những đặc điểm sinh học, sinh lý để xác định một cá thể là nam, nữ hoặc liên giới tính.” Các đặc điểm sinh học của nam và nữ được thể hiện ở một số khía cạnh cụ thể như: cấu tạo cơ thể, đặc điểm sinh lí hay chức năng sinh sản.
Ví dụ: “Nữ giới có buồng trứng, tử cung, kinh nguyệt, có thể mang thai, sinh đẻ, tiết sữa cho con bú. Nam giới có dương vật, tinh hoàn, có thể sản sinh tinh trùng để thụ thai”. 8 Tác giả chọn khái niệm sau làm khái niệm của đề tài: "giới tính là khái niệm chỉ sự khác biệt về mặt sinh học giữa nam và nữ, cũng như các đặc tính sinh học phân biệt nam và nữ”. Do đó, một người có thể là nam hoặc nữ bất kể họ thuộc chủng tộc, tầng lớp, tuổi tác hoặc sắc tộc nào.
“Bình đẳng giới là việc nam, nữ có vị trí, vai trò ngang nhau, được tạo điều kiện, cơ hội nhằm phát huy năng lực của mình cho sự phát triển của cộng đồng, của gia đình và thụ hưởng như nhau về thành quả của sự phát triển đó. Bình đẳng giới không phải là việc phủ nhận những khác biệt giữa nữ và nam, cũng không phải là việc làm cho nữ và nam giống hệt nhau. Bình đẳng giới liên quan đến việc đem lại những cơ hội như nhau và điều kiện phù hợp cho cả nữ lẫn nam. Bình đẳng giới trong giáo dục là việc đảm bảo nam và nữ được đối xử công bằng, tuy nhiên để đảm bảo bình đẳng giới phải loại bỏ được định kiến giới và phân biệt giới: “Định kiến giới là những nhận thức, thái độ và đánh giá thiên lệch, tiêu cực về đặc điểm, vị trí, vai trò và năng lực của nam hoặc nữ” [29.] Khái niệm phân biệt giới: “Phân biệt đối xử về giới là việc hạn chế, loại trừ, không công nhận hoặc không coi trọng vai trò, vị trí của nam và nữ, gây bất bình đẳng giữa nam và nữ trong các lĩnh vực của đời sống xã hội và gia đình” [24] 1.
Lồng ghép giới Lồng ghép giới “là một chiến lược nhằm đưa những mối quan tâm và kinh nghiệm của phụ nữ và nam giới vào quá trình thiết kế, thực hiện, giám sát và đánh giá các chính sách, chương trình như là một phần không thể thiếu của các chính sách, chương trình đó,… để phụ nữ và nam giới cùng được thụ hưởng một cách bình đẳng và để tình trạng bất bình đẳng không còn bị kéo dài dai dẳng. Mục đích cuối cùng của lồng ghép giới chính là bình đẳng giới” [6] Có thể nói, LGG là công cụ hữu hiệu để giải quyết các vấn đề dưới góc độ giới ở tất cả cấp độ, các lĩnh vực hay khía cạnh hoạt động khác nhau; nhằm xác 9 định những vấn đề giới hay tình trạng bất bình đẳng giữa phụ nữ và nam giới, giữa trẻ em trai và trẻ em gái trong một lĩnh vực can thiệp cụ thể; nhằm làm rõ nguyên nhân gây bất BĐG; từ đó đưa ra các biện pháp can thiệp cụ thể để giải quyết những vấn đề bất BĐG đó một cách hệ thống, nhất quán và xuyên suốt. Lồng ghép giới trong hoạt động giáo dục Lồng ghép giới trong hoạt động giáo dục: “là một chiến lược giáo dục nhằm đưa những mối quan tâm và kinh nghiệm của phụ nữ và nam giới vào quá trình thiết kế, thực hiện, giám sát và đánh giá hoạt động giáo dục trình như là một phần không thể thiếu của hoạt động giáo dục đó,… để học sinh nữ và nam giới cùng được thụ hưởng một cách bình đẳng và để tình trạng bất bình đẳng không còn bị kéo dài dai dẳng”. Mục đích cuối cùng của LGG trong HĐGD chính là chiến lược giáo dục hướng tới thực hiện BĐG.
Bạo lực học đường trên cơ sở giới (BLHĐTCSG): Trước ảnh hưởng của xã hội, ảnh hưởng của giới xuất hiện tình trạng bạo lực học đường. “Bạo lực học đường là những hành động gây tổn hại hoặc có khả năng gây tổn hại đối với các học sinh về thân thể, tinh thần hay tình dục; xuất phát từ những định kiến giới, phân biệt đối xử về giới hoặc những lí do liên quan đến giới tính của các em”. Quản lý lồng ghép giới trong hoạt động dạy học ở trường phổ thông Quản lý nhà trường là những tác động của Hiệu trưởng tới các quá trình hoạt động của nhà trường trong đó hoạt động cơ bản là hoạt động DH và HĐGD thông qua thực hiện các chức năng quản lý. Lồng ghép giới trong QLGD của nhà trường chính là nhận ra sự khác biệt về kinh nghiệm, khả năng, nhu cầu, mối quan tâm và những ưu tiên rất khác nhau của nam và nữ (HS, GVvà phụ huynh), để đưa ra những biện pháp can thiệp phù hợp và hiệu quả nhất; nhằm phát huy tối đa tiềm năng, khả năng và sự tham gia của nam, nữ trong các HĐGD của nhà trường.