Hoạt Động Quản Lý và Khai Thác Biển Đảo Việt Nam ở Miền Đông Nam Bộ (1945-1975)

Tài liệu nghiên cứu Hoạt động quản lý và khai thác biển đảo việt nam ở miền đông nam bộ 1945 1975, tổng hợp lý thuyết và thực hành, cung cấp kiến thức chuyên sâu về .

Trường đại học

Không rõ

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Không rõ

2017

76
1
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

1. CHUYÊN ĐỀ 1: CHÍNH QUYỀN THỰC DÂN PHÁP VÀ TAY SAI TRONG VIỆC QUẢN LÝ VÀ KHAI THÁC BIỂN ĐẢO ĐÔNG NAM BỘ NHỮNG NĂM (1945 – 1954)

1.1. Vị thế và sự thay đổi địa lý hành chính vùng biển đảo Việt Nam ở miền Đông Nam Bộ sau Cách mạng tháng Tám (1945)

1.2. Tình hình vùng ven biển Đông Nam Bộ sau Cách mạng tháng Tám (1945)

1.3. Chính quyền thực dân Pháp và tay sai trong việc quản lý biển đảo Việt Nam ở miền Đông Nam Bộ (1945 - 1954)

1.4. Chính quyền thực dân Pháp và tay sai trong việc khai thác biển đảo Việt Nam ở miền Đông Nam Bộ (1945 - 1954)

1.5. Tiểu kết luận chuyên đề

2. CHUYÊN ĐỀ 2: HOẠT ĐỘNG QUẢN LÝ VÀ KHAI THÁC BIỂN ĐẢO VIỆT NAM Ở MIỀN ĐÔNG NAM BỘ CỦA CHÍNH QUYỀN SÀI GÒN (1954 - 1975)

2.1. Tình hình vùng ven biển Đông Nam Bộ (1954-1975)

2.2. Hoạt động quản lý và khai thác biển đảo Việt Nam ở miền Đông Nam Bộ (1954-1975)

2.3. Tiểu kết luận chuyên đề

3. CHUYÊN ĐỀ 3: HOẠT ĐỘNG PHÁT TRIỂN KINH TẾ BIỂN ĐẢO Ở ĐÔNG NAM BỘ TRONG THỜI KỲ CHIẾN TRANH (1945 – 1954)

3.1. Lực lượng cách mạng khai thác biển đảo Việt Nam ở miền Đông Nam Bộ (1945 - 1954)

3.2. Hoạt động phát triển kinh tế của cộng đồng cư dân biển đảo Việt Nam ở miền Đông Nam Bộ (1945-1954)

4. CHUYÊN ĐỀ 4: HOẠT ĐỘNG KHAI THÁC, ĐÁNH BẮT HẢI SẢN TRONG PHÁT TRIỂN KINH TẾ Ở ĐÔNG NAM BỘ (1954 – 1975)

4.1. Đánh bắt hải sản ở Đông Nam Bộ (1954-1975)

4.2. Khai thác du lịch biển Đông Nam Bộ (1954 - 1975)

4.3. Hoạt động khai thác biển đảo Việt Nam ở miền Đông Nam Bộ của cách mạng (1954-1975)

5. CHUYÊN ĐỀ 5: HOẠT ĐỘNG VẬN TẢI BIỂN Ở ĐÔNG NAM BỘ (1954 - 1975)

5.1. Hoạt động vận tải biển ở Đông Nam Bộ (1954 - 1975)

5.2. Tiểu kết luận chuyên đề

6. CHUYÊN ĐỀ 6: NGHỀ TRUYỀN THỐNG CỦA CƯ DÂN VEN BIỂN ĐÔNG NAM BỘ THỜI KỲ CHIẾN TRANH (1954 – 1975)

6.1. Một số tiền đề thúc đẩy sự phát triển các nghề truyền thống của cư dân ven biển Đông Nam Bộ (1954 - 1975)

6.2. Nghề truyền thống của cư dân ven biển Đông Nam Bộ (1954 - 1975)

6.3. Tiểu kết luận chuyên đề

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Quản Lý và Khai Thác Biển Đảo Việt Nam 1945 1975

Chủ đề quản lý và khai thác biển đảo Việt Nam trong giai đoạn 1945-1975 là một phần quan trọng trong lịch sử phát triển kinh tế và chính trị của miền Đông Nam Bộ. Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, tình hình biển đảo Việt Nam đã có những thay đổi lớn, đặc biệt là trong bối cảnh kháng chiến chống thực dân Pháp. Vùng biển Đông Nam Bộ không chỉ là nơi có nguồn tài nguyên phong phú mà còn là chiến trường quan trọng trong cuộc kháng chiến. Chính quyền thực dân Pháp và tay sai đã có những chính sách quản lý và khai thác biển đảo nhằm duy trì quyền lực và kiểm soát tài nguyên. Trong bối cảnh đó, chính quyền cách mạng cũng đã có những nỗ lực để quản lý và khai thác biển đảo phục vụ cho cuộc kháng chiến.

1.1. Tình Hình Biển Đảo Việt Nam Sau Cách Mạng Tháng Tám

Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, vùng biển đảo Việt Nam, đặc biệt là miền Đông Nam Bộ, đã trải qua nhiều biến động. Chính quyền cách mạng đã được thành lập, nhưng nhiệm vụ quản lý và khai thác biển đảo chưa được chú trọng. Các hoạt động chủ yếu tập trung vào kháng chiến chống thực dân Pháp. Tuy nhiên, vào những năm cuối của cuộc kháng chiến, vấn đề này đã được quan tâm hơn, nhằm phục vụ cho việc tiếp tế và chuyển quân.

1.2. Vai Trò Của Biển Đảo Trong Cuộc Kháng Chiến

Biển đảo không chỉ là nguồn tài nguyên quan trọng mà còn là tuyến đường chiến lược trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp. Các hoạt động khai thác hải sản và vận chuyển hàng hóa qua biển đã góp phần không nhỏ vào việc duy trì sức chiến đấu của quân và dân miền Đông Nam Bộ. Chính quyền cách mạng đã tổ chức các lực lượng vũ trang để bảo vệ và khai thác tài nguyên biển, đồng thời xây dựng các căn cứ địa vững chắc.

II. Thách Thức Trong Quản Lý và Khai Thác Biển Đảo 1945 1954

Giai đoạn 1945-1954 là thời kỳ đầy thách thức đối với việc quản lý và khai thác biển đảo ở miền Đông Nam Bộ. Chính quyền thực dân Pháp đã áp dụng nhiều biện pháp nhằm kiểm soát tài nguyên biển, trong khi đó, chính quyền cách mạng lại phải đối mặt với nhiều khó khăn trong việc tổ chức và triển khai các hoạt động khai thác. Sự kháng cự của quân dân miền Đông Nam Bộ đã tạo ra những khó khăn lớn cho thực dân Pháp trong việc duy trì quyền lực.

2.1. Chính Sách Của Thực Dân Pháp Đối Với Biển Đảo

Chính quyền thực dân Pháp đã áp dụng nhiều chính sách nhằm kiểm soát và khai thác tài nguyên biển đảo. Họ đã xây dựng cơ sở hạ tầng và bộ máy chính quyền để quản lý vùng biển, đồng thời thực hiện các biện pháp đàn áp nhằm ngăn chặn hoạt động kháng chiến của nhân dân. Những chính sách này đã gây ra nhiều khó khăn cho việc phát triển kinh tế biển đảo.

2.2. Khó Khăn Của Chính Quyền Cách Mạng Trong Việc Khai Thác

Chính quyền cách mạng gặp nhiều khó khăn trong việc tổ chức khai thác biển đảo do tình hình chiến tranh và sự đàn áp của thực dân Pháp. Nguồn lực hạn chế và sự thiếu thốn về trang thiết bị đã ảnh hưởng đến khả năng khai thác tài nguyên biển. Tuy nhiên, với tinh thần tự lực tự cường, nhân dân đã tìm cách vượt qua khó khăn để duy trì hoạt động khai thác.

III. Phương Pháp Quản Lý và Khai Thác Biển Đảo Hiệu Quả

Trong bối cảnh khó khăn, chính quyền cách mạng đã áp dụng nhiều phương pháp để quản lý và khai thác biển đảo một cách hiệu quả. Các hoạt động này không chỉ nhằm phục vụ cho cuộc kháng chiến mà còn góp phần vào việc phát triển kinh tế địa phương. Việc tổ chức các lực lượng vũ trang và huy động nhân dân tham gia vào các hoạt động khai thác đã tạo ra sức mạnh tổng hợp.

3.1. Tổ Chức Lực Lượng Kháng Chiến Để Khai Thác

Chính quyền cách mạng đã tổ chức các lực lượng kháng chiến để bảo vệ và khai thác tài nguyên biển. Các đội tự vệ chiến đấu được thành lập tại các địa phương ven biển, giúp bảo vệ an ninh và duy trì hoạt động khai thác. Sự tham gia của nhân dân vào các hoạt động này đã tạo ra sức mạnh lớn cho cuộc kháng chiến.

3.2. Huy Động Tài Nguyên Địa Phương Để Phục Vụ Kháng Chiến

Việc huy động tài nguyên địa phương để phục vụ cho cuộc kháng chiến là một trong những phương pháp quan trọng. Chính quyền cách mạng đã khuyến khích nhân dân tham gia vào các hoạt động khai thác hải sản và sản xuất nông nghiệp, từ đó tạo ra nguồn thực phẩm và tài nguyên cần thiết cho cuộc kháng chiến.

IV. Ứng Dụng Thực Tiễn và Kết Quả Nghiên Cứu

Các hoạt động quản lý và khai thác biển đảo trong giai đoạn 1945-1975 đã để lại nhiều bài học quý giá cho việc phát triển kinh tế biển đảo hiện nay. Những kinh nghiệm từ cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp đã giúp chính quyền cách mạng xây dựng các chính sách phù hợp để phát triển kinh tế biển đảo. Kết quả nghiên cứu cho thấy, việc khai thác tài nguyên biển không chỉ góp phần vào cuộc kháng chiến mà còn tạo ra nền tảng cho sự phát triển kinh tế sau này.

4.1. Bài Học Kinh Nghiệm Từ Quá Trình Khai Thác

Quá trình khai thác biển đảo trong giai đoạn kháng chiến đã để lại nhiều bài học kinh nghiệm quý giá. Việc tổ chức lực lượng và huy động nhân dân tham gia vào các hoạt động khai thác đã chứng minh được hiệu quả trong việc duy trì sức chiến đấu và phát triển kinh tế. Những bài học này vẫn còn giá trị cho đến ngày nay.

4.2. Kết Quả Nghiên Cứu Về Tình Hình Kinh Tế Biển Đảo

Kết quả nghiên cứu cho thấy, tình hình kinh tế biển đảo miền Đông Nam Bộ trong giai đoạn 1945-1975 đã có những bước phát triển đáng kể. Các hoạt động khai thác hải sản và phát triển du lịch biển đã góp phần vào việc nâng cao đời sống của người dân và phát triển kinh tế địa phương.

V. Kết Luận và Tương Lai Của Quản Lý Biển Đảo Việt Nam

Quản lý và khai thác biển đảo Việt Nam trong giai đoạn 1945-1975 đã trải qua nhiều thăng trầm. Những nỗ lực của chính quyền cách mạng trong việc quản lý và khai thác tài nguyên biển đã góp phần quan trọng vào cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp. Tương lai của quản lý biển đảo Việt Nam cần tiếp tục được chú trọng, đặc biệt trong bối cảnh hiện nay khi mà biển đảo đang trở thành một vấn đề nóng bỏng trong chính sách đối ngoại và phát triển kinh tế.

5.1. Tương Lai Của Quản Lý Biển Đảo Việt Nam

Tương lai của quản lý biển đảo Việt Nam cần được xây dựng trên nền tảng của những bài học kinh nghiệm từ quá khứ. Việc phát triển các chính sách quản lý biển đảo bền vững sẽ giúp bảo vệ tài nguyên và phát triển kinh tế biển một cách hiệu quả.

5.2. Định Hướng Phát Triển Kinh Tế Biển Đảo

Định hướng phát triển kinh tế biển đảo cần phải gắn liền với bảo vệ môi trường và phát triển bền vững. Các chính sách cần được xây dựng để khai thác tài nguyên biển một cách hợp lý, đồng thời bảo vệ hệ sinh thái biển và đảm bảo đời sống của người dân ven biển.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

25/07/2025
Hoạt động quản lý và khai thác biển đảo việt nam ở miền đông nam bộ 1945 1975

Trích đoạn nội dung tài liệu

Đặt vấn đề Sau Cách mạng Tháng Tám (1945) thành công, các tỉnh thành Đông Nam Bộ phải trực tiếp kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược. Mặc dù, chính quyền nhân dân ở Đông Nam Bộ được thành lập, nhưng nhiệm vụ chủ yếu là huy động sức người, sức của tập trung cho cuộc kháng chiến toàn dân, toàn diện và trường kỳ ở Đông Nam Bộ. Do đó đối với chính quyền cách mạng ở Đông Nam Bộ nhiệm vụ quản lý và khai thác biển đảo trong những năm 1945 – 1954 ít được chú ý, chỉ một bộ phận cán bộ, đảng viên, nhân dân vùng hậu cứ, căn cứ địa cách mạng với tinh thần tự cấp, tự túc thu đua tăng gia sản xuất, bám biển khai thác hải sản phục vụ nhu cầu tiêu dùng và kháng chiến. Mãi đến những năm cuối của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1953 - 1954) vấn đề quản lý và khai thác biển đảo khu vực Đông Nam Bộ mới được chú trọng sử dụng vào việc tiếp tế chi viện từ miền Bắc vào miền Nam và chuẩn bị chuyển quân tập kết bằng đường biển, theo tinh thần hiệp định Giơ ne vơ.

Về phía chính quyền thực dân Pháp và tay sai, để đối phó với cuộc kháng chiến của quân và dân ta ở Đông Nam Bộ hoạt động quản lý và khai thác biển đảo của chúng trong giai đoạn 1945 – 1954 tập trung xây dựng bộ máy chính quyền, cơ sở hạ tầng vùng biển đảo Đông Nam Bộ, biến khu vực này thành hậu cứ quan trọng để thống trị cả miền Nam Việt Nam. Tự thực tiễn ấy, trong chuyên đề này, sau khi phản ánh vị thế và sự thay đổi địa lý hành chính vùng biển đảo Đông Nam Bộ sau Cách mạng tháng Tám (1945) sẽ tập trung trình bày hoạt động quan lý và khai thác biển đảo của chính quyền thực dân Pháp và tay sai trong giai đoạn 1945 – 1954. Riêng về hoạt động khai thác biển đảo trong những năm 1945 – 1954, chúng tôi cũng có dành một phần để trình bày hoạt động khai thác biển đảo phục vụ kháng chiến. Vị thế và sự thay đổi địa lý hành chính vùng biển đảo Việt Nam ở miền Đông Nam Bộ sau Cách mạng tháng Tám (1945) Vùng biển đảo Đông Nam Bộ giai đoạn 1945 - 1954 được xác định trên ba tỉnh thành: thành phố Hồ Chí Minh, tỉnh Bà Rịa và tỉnh Cấp (Cap Saint Jaques).

Thành phố Hồ Chí Minh ở vào vị trí chếch hướng Tây Nam của miền Đông Nam Bộ, Bắc giáp tỉnh Tây Ninh, Tây và Nam giáp tỉnh Long An, Đông và Đông Bắc giáp tỉnh Đồng Nai, Đông Nam ăn thông ra biển Bà Rịa - Vũng Tàu. Hiện nay, thành phố có 12 quận nội thành (1, 3, 4, 5, 6, 8, 10, 11, Bình Thạnh, Gò Vấp, Tân Bình, Phú Nhuận) và 6 huyện ngoại thành (Bình Chánh, Củ Chi, Hóc Môn, Thủ Đức, Nhà Bè, Cần Giờ). Huyện Cần Giờ (Thành phố Hồ Chí Minh) tiếp giáp với Biển Đông, có 12km bờ biển. Cửa biển Cần Giờ, từ thế kỷ XVIII đã được khách nước ngoài ca ngợi là cánh cửa lớn của Việt Nam mở ra Thái Bình Dương.

Với Sài Gòn – Thành phố Hồ Chí Minh là một hải cảng quan trọng. Sông Sài Gòn đổ ra các đoạn Nhà Bè (16km), Lòng Tàu (33km), Ngã Bảy (16km), có độ sâu có thể tiếp nhận tàu biển trên 30 ngàn tấn - một ưu thế hiếm có trên thế giới đối với một thành phố ở sâu trong nội địa. Cảng Sài Gòn nằm sâu trong lòng đất liền 80km theo đường sông, nhưng lại có bến Rạch Dừa ở gần cửa biển là nơi có thể phát triển thành hải cảng lớn. Sau năm 1954, cảng Sài Gòn có quân cảng dài 2km, 11 cầu tàu và thương cảng dài 1991m, 6 bến, 14 cầu tàu, khả năng tồn trữ 48.000 tấn trong 3 tháng.

Cảng Nhà Bè cách cảng Sài Gòn 10 hải lý, có kho chứa xăng dầu 63. Khi quân viễn chinh Mĩ vào miền Nam, trên sông Sài Gòn - Nhà Bè lại hình thành thêm 6 cảng mới thay thế cảng Sài Gòn về mặt tiếp nhận hàng quân sự. Với mặt nước tự nhiên chiếm 29.000 ha trên toàn khu vực, hệ thống đường sông đảm bảo thông thương từ Sài Gòn lên miền Đông, xuống miền Tây, sang Campuchia. Thành phố cảng Sài Gòn trong những năm 1945 – 1954 đã trở thành đầu mối của nhiều xa lộ, quốc lộ, liên tỉnh lộ… ở khu vực Nam Đông Dương, đảm bảo lưu thông từ Sài Gòn ra miền Bắc, đi các tỉnh, lên Lào và Campuchia.

Những con đường huyết mạch sống còn của Đông Dương đều qua Sài Gòn: quốc lộ số 1 Hà Nội - thành phố Hồ Chí Minh, lên ải Bắc, xuống miền Tây, quốc lộ 13 lên Campuchia, Lào, quốc lộ 22 lên Campuchia, xa lộ Sài Gòn - Biên Hòa là đường vận chuyển lớn bổ sung quốc lộ 1 qua các cầu trọng tải 50 tấn (Sài Gòn, Rạch Chiếc, Đồng Nai). 2 Sân bay Tân Sơn Nhất của Sài Gòn, là một trong 6 sân bay loại 3 trên toàn miền Nam (sân máy bay phản lực có thể hạ cánh và có đủ phương tiện cho ngày đêm, mọi thời tiết), đứng vào loại lớn trên thế giới, nơi quá cảnh của các đường bay quốc tế qua khu vực châu Á - Thái Bình Dương. Đã có thời 20 hãng hàng không thương mại quốc tế sử dụng sân bay Tân Sơn Nhất. Sân bay có thể tiếp nhận hàng trăm máy bay phản lực, quân sự và dân sự hạng nặng lên xuống trong một ngày.

Chính do vị thế quan trọng của mình nên dân số thành phố cảng Sài Gòn luôn phát triển với tốc độ cao. Năm 1940, dân số của thành phố khoảng nửa triệu, năm 1954, gần 2 triệu, năm 1975: 4 triệu. Như vậy, mặc dù trong điều kiện chiến tranh, nhưng dân số của tahnhf phố vẫn luôn tăng với tốc độ lớn. Vì xuất phát từ yêu cầu phát triển của nền kinh tế công thương nghiệp và của các ngành phục vụ chiến tranh, do việc mở rộng các căn cứ quân sự của địch, do mở rộng đô thành và đặc biệt do chiến tranh khốc liệt, lâu dài tàn phá nông thôn… nhân dân các nơi đổ về thành phố ngày một đông.

Đối với thực dân Pháp và chính quyền tay sai, sau năm 1945 chúng chia Việt Nam làm ba vùng là Nam Việt, Trung Việt và Bắc Việt. Miền Nam Việt Nam bao gồm toàn bộ vùng Nam Bộ, Cao Nguyên miền Nam và một phần Trung Việt. Bà Rịa, Vũng Tàu là hai tỉnh (tỉnh Bà Rịa và tỉnh Vũng Tàu) thuộc miền Đông của Nam phần Việt Nam. Tỉnh Bà Rịa gồm có tỉnh lỵ Bà Rịa và các quận Long Điền, Đất Đỏ, và Cơ Trạch.

Trụ sở Ủy ban hành chính tỉnh Bà Rịa đóng tại tỉnh lỵ (Phước Lễ). Tỉnh Cấp (Cap Saint Jaques) có các làng Thắng Nhất, Thắng Nhì, Thắng Tam (tổng Vũng Tàu) và tổng Cần Giờ. Trụ sở Ủy ban hành chính tỉnh Cấp đóng tại Vũng Tàu. Tháng 12-1945 tỉnh Cấp được nhập vào Bà Rịa, gọi là tỉnh Bà Rịa.

Ngày 14-11-1946 “Chính phủ lâm thời Cộng hòa Nam kỳ” ban hành chỉ thị số 153-C/Cir-Sài Gòn thành lập các quận hành chánh quân sự (Délégation administrative et militaire) Xuyên Mộc và Phú Mỹ. Tuy nhiên, đến ngày 28-7-1947 Tỉnh trưởng Bà Rịa ra quyết định giải thể quận Xuyên Mộc, tiếp đó ngày 23-9-1947 giải thể quận Phú Mỹ1. Ngày 10-3-1947 “Chính phủ lâm thời Cộng hòa Nam kỳ” ban hành nghị định thành lập tỉnh Cap Saint Jacques (Vũng Tàu). Tiếp đó, ngày 3-5-1947 “Chính phủ lâm 1 Phông Thống đốc Nam kỳ, Hồ sơ VV 216.Trung tâm Lưu trữ Quốc gia II.

3 thời Cộng hòa Nam kỳ” ban hành nghị định thành lập quận Cần Giờ thuộc tỉnh Vũng Tàu gồm các làng thuộc tổng Cần Giờ và tổng An Thịt. Trụ sở quận Cần Giờ đặt tại làng Cần Thạnh. Nghị định số 807-Cab/MI của Chính phủ Lâm thời Quốc gia Việt Nam ngày 29- 12-1952, cải biến thị trấn Vũng Tàu thành thị xã hỗn hợp (Commune mixte)2. Nghị định số 2235-Cab/DAA ngày 16-6-1954 của Thủ hiến Nam Việt tạm sáp nhập vào làng Phước Hải hai làng Hội Mỹ và Long Mỹ và tạm sáp nhập làng Phước Lợi vào làng Phước Thọ.

Tuy nhiên đến ngày 2-11-1954 nghị định này bị thu hồi. Nghị định số 3517- HCSV ngày 29-11-1954 của Đại biểu chính phủ tại Nam Việt thành lập quận Xuyên Mộc, trụ sở đặt tại Xuyên Mộc3. Đối với chính quyền cách mạng, từ tháng 5-1951, tỉnh Bà Rịa và các huyện Long Thành, Cần Giuộc, Cần Đước, Nhà Bè được sáp nhập thành tỉnh Bà Rịa-Chợ Lớn (gọi tắt là tỉnh Bà Chợ). Từ đó, đến kết thúc cuộc kháng chiến chống thức dân Pháp xâm lược (1954), về căn bản địa lý hành chính Bà Rịa – Vũng Tàu không có sự thay đổi.

Tình hình vùng ven biển Đông Nam Bộ sau Cách mạng tháng Tám (1945) Sau khi giành chính quyền trong Cách mạng tháng Tám (1945), Ủy ban hành chính các tỉnh, thành khu vực Đông Nam Bộ được thành lập. Cùng với nhân dân cả nước, Ủy ban hành chính lâm thời các tỉnh thành khu vực Đông Nam Bộ tổ chức thực hiện một số nhiệm vụ cấp bách như tịch thu ruộng đất đồn điền, ruộng muối của thực dân Pháp và ngoại kiều phản động tạm cấp cho dân nghèo; xóa bỏ thuế thân, giảm tô, hủy các món nợ tô tức cũ đối với nông dân; phát động tuần lễ vàng; khuyến khích tăng gia sản xuất, chống đói; mở các lớp bình dân học vụ; phát động phong trào “lá lành đùm lá rách”. Khuyến khích bà con ven biển khai hoang, phát rẫy trồng cây lương thực, hoa màu, tham gia các lớp bình dân học vụ, xóa mù chữ. Tuy nhiên, không khí độc lập tự do, hồ hởi xây dựng cuộc sống mới của cộng đồng cư dân ven biển Đông Nam Bộ đã nhanh chóng dập tắt vì phải đối mặt với cuộc chiến tranh xâm lược lần thứ hai của thực dân Pháp.

Ngày 2 - 9 - 1945, tại Sài Gòn, hơn một triệu người đổ về quảng trường Norodom (nay ở trên đường Lê Duẩn) dự lễ mít tinh 2 Phông Thống đốc Nam kỳ , Hồ sơ VV 216.Trung tâm Lưu trữ Quốc gia II. 3 Phông Thống đốc Nam kỳ , Hồ sơ VV 216.Trung tâm Lưu trữ Quốc gia II. 4 mừng ngày độc lập dân tộc. Đây là cuộc mít tinh lớn nhất được tổ chức trọng thể giữa thành phố Sài Gòn 8 ngày sau tổng khởi nghĩa thắng lợi.

Sáng ngày 23 – 9 - 1945, Hội nghị của Xứ ủy và Ủy ban nhân dân Nam Bộ tại số nhà 269 đường Cây Mai. Tham dự hội nghị có các đồng chí Ung Văn Khiêm, Trần Văn Giàu, Phạm Ngọc Thạch, Nguyễn Văn Nguyễn, Huỳnh Văn Tiểng… Đồng chí Hoàng Quốc Việt thay mặt Thường vụ Trung ương Đảng và Tổng bộ Việt Minh dự hội nghị quan trọng này.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ