CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG HỢP TÁC ĐÀO TẠO VỚI DOANH NGHIỆP TẠI TRƯỜNG CAO ĐẲNG 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Các công trình nghiên cứu ở nước ngoài Gunnar Specht và Clemens Aipperpach (2009) trong ấn phẩm “Vai trò của doanh nghiệp trong tổ chức và quản lý dạy nghề ở Việt Nam” đã đưa ra cái nhìn tổng quan về các điều kiện khung để khối doanh nghiệp tham gia vào dạy nghề, và xác định những tiềm năng và hạn chế của việc tiếp tục phát triển thị trường đào tạo khu vực tư nhân; nâng cao hiểu biết về phạm vi, đặc điểm, hạn chế và tiềm năng của các cơ sở dạy nghề thuộc doanh nghiệp tại Việt Nam. Nghiên cứu khái quát về những hình thức hợp tác trong dạy nghề hiện nay (thực tập và hình thức hợp tác khác giữa cơ sở dạy nghề và doanh nghiệp; kết hợp phân tích sự tham gia của khu vực doanh nghiệp trong quản lý dạy nghề).
Nghiên cứu nhấn mạnh đến việc đào tạo các kỹ năng thực hành phù hợp với nơi làm việc và việc hợp tác chặt chẽ giữa các cơ sở dạy nghề với chủ sử dụng lao động để đảm bảo đáp ứng nhu cầu của thị trường, các chương trình hợp tác đào tạo hợp tác sẽ được thiết kế phù hợp với khung trình độ quốc gia, các tiêu chuẩn nghề nghiệp và chương trình khung tương ứng [7]. Ấn phẩm “Germany’s Vocational Education at a glance” của Bộ Giáo dục và Đào tạo liên bang Đức năm 2003 trình bày khái quát về hệ thống đào tạo nghề kép tại Đức. Với hệ thống đào tạo kép - kết hợp giữa việc học nghề trong môi trường thực tế tại một doanh nghiệp và tại trường dạy nghề, trong đó các doanh nghiệp tập trung vào việc cung cấp các kiến thức và kỹ năng thực tế, đặc biệt là kiến thức và kỹ năng phù hợp với công nghệ sản xuất của doanh nghiệp, còn các nhà trường cung cấp khối kiến thức lý thuyết về cơ bản nhiều hơn. Bên cạnh đó, ấn phẩm cũng phân tích các đặc điểm của hệ thống đào tạo nghề kép như những thành tố cơ bản trong đào tạo, các nghề đào tạo phổ biến cho các đối tượng khác nhau, chương trình dạy nghề, chi phí – lợi ích trong đào tạo nghề kép, cách thức đào tạo, trách nhiệm của cơ quan có 6 z thẩm quyền và các bên liên quan, hỗ trợ đào tạo cho nhóm đối tượng yếu thế.
nhằm đưa ra cái nhìn chung nhất về đào tạo nghề kép tại Đức để các nước khác tham khảo kinh nghiệm xây dựng mô hình đào tạo nghề [32]. Ấn phẩm “Linking vocational training with the enterprises – Asian Perspectives” năm 2009 của nhóm tác giả từ nhiều quốc gia châu Á đã phân tích các mô hình liên kết giữa doanh nghiệp với giáo dục – đào tạo ở Việt Nam, Thái Lan, Trung Quốc, Hàn Quốc và các kinh nghiệm xây dựng mối quan hệ hợp tác chiến lược giữa các bên liên quan trong đào tạo nghề. Trong đó đáng chú ý là mô hình "hệ thống 2 + 1" của Hàn Quốc; các mô hình “Hợp tác giữa doanh nghiệp và trường học”, “Mô hình đào tạo theo đơn đặt hàng”, “mô hình kết hợp trường học – nhà máy”, “Mô hình hợp tác quốc tế”. của Trung Quốc; mô hình hợp tác đào tạo nghề ở Thái Lan.
Các mô hình này được phát triển phù hợp với tình hình thực tế của mỗi quốc gia, cung cấp nhiều bài học kinh nghiệm cho phát triển đào tạo gắn với doanh nghiệp tại Việt Nam [31]. Ấn phẩm “Vai trò của doanh nghiệp trong phát triển kỹ năng nghề” năm 2015 của Markus và Simon nhấn mạnh đến phát triển kỹ năng nghề gắn với thị trường lao động thông qua sự chủ động tham gia của doanh nghiệp trong việc lập kế hoạch, tổ chức và tài chính cho đào tạo nghề. Doanh nghiệp đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao chất lượng dạy nghề. Ở các nước phát triển, doanh nghiệp đóng vai trò như là một trong những điều kiện đảm bảo chất lượng dạy nghề bên cạnh các điều kiện quan trọng khác như giảng viên, chương trình hoặc cơ sở vật chất.
Việc dạy nghề chính là đào tạo lao động cho doanh nghiệp, doanh nghiệp được thụ hưởng kết quả, sản phẩm của quá trình dạy nghề. Do vậy, doanh nghiệp cần phải tham gia vào quá trình đào tạo nghề. Có rất nhiều hình thức tham gia của khu vực tư nhân trong phát triển kỹ năng nghề: tham gia vào khâu quản lý, khâu thiết kế chương trình giảng dạy và khâu đào tạo. Cách gắn kết doanh nghiệp với phát triển kỹ năng nghề chính là trao quyền cho doanh nghiệp để đảm bảo các kỹ năng của người lao 7 z động sau đào tạo đáp ứng nhu cầu của thị trường lao động [33].
Các công trình nghiên cứu trong nước Luận án của Nguyễn Văn Anh “Phối hợp đào tạo giữa cơ sở dạy nghề và doanh nghiệp trong khu công nghiệp” năm 2009 đã đi sâu nghiên cứu lý luận và thực tiễn phối hợp đào tạo giữa cơ sở dạy nghề và doanh nghiệp. Đề tài đề xuất một số giải pháp tăng cường phối hợp đào tạo giữa cơ sở dạy nghề và doanh nghiệp trong khu công nghiệp nhằm nâng cao chât lượng dạy nghề đáp ứng nhu cầu nhân lực kỹ thuật phục vụ sự phát triển kinh tế - xã hội miền Trung như phát triển chương trình đào tạo đáp ứng yêu cầu doanh nghiệp, nâng cao năng lực đội ngũ giảng viên dạy nghề, các điều kiện về cơ sở vật chất cho việc tổ chức quá trình dạy thực tập tại doanh nghiệp trong khu công nghiệp [1]. Luận án tiến sỹ của Vũ Minh Hùng “Nâng cao chất lượng giáo dục nghề nghiệp đáp ứng nhu cầu phát triển công nghiệp ở vùng kinh tế trọng điểm phía Nam” (2009) đã đề cập đến đào tạo nghề theo năng lực thực hiện, đề xuất các nguyên tắc và tiêu chí đánh giá chất lượng đào tạo nghề đáp ứng nhu cầu thị trường lao động, quan hệ đào tạo và sử dụng. Luận án đã nghiên cứu sâu về biện pháp nâng cao chất lượng đào tạo, trong đó có biện pháp liên kết đào tạo.
Tuy nhiên, vấn đề liên kết đào tạo giữa cơ sở dạy nghề và doanh nghiệp nhằm đáp ứng nhu cầu lao động thực tế của các doanh nghiệp cũng chưa được đặt ra đúng mức [11]. Luận án tiến sỹ của Phan Minh Hiền “Phát triển đào tạo nghề đáp ứng nhu cầu xã hội” (2011) đã nghiên cứu sâu về đào tạo nghề đáp ứng nhu cầu xã hội và đưa ra một số kết luận như để đáp ứng nhu cầu xã hội, đào tạo nghề phải chuyển mạnh từ hướng cung sang hướng cầu, gắn với nhu cầu xã hội; các hoạt động phát triển hệ thống đào tạo nghề cần được điều chỉnh bởi các nội dung quản lý ở tầm vĩ mô để duy trì mối quan hệ cân bằng động giữa đào tạo nghề và nhu cầu xã hội. Cần thực hiện các giải pháp quản lý đào tạo nghề ở tầm vĩ mô như phát triển hệ thống thông tin đào tạo nghề và nhu cầu xã hội, 8 z quy hoạch mạng lưới cơ sở dạy nghề, quản lý chất lượng đào tạo nghề, xây dựng cơ chế quản lý quan hệ hợp tác đào tạo và sử dụng nhân lực. Tuy nhiên đề tài chưa nghiên cứu sâu cơ chế quản lý quan hệ hợp tác đào tạo giữa nhà trường và doanh nghiệp [9].
Cuốn sách “Đào tạo nghề đáp ứng nhu cầu của doanh nghiệp vừa và nhỏ” năm 2011 của Phạm Xuân Thu và Nguyễn Quang Việt đề cập đến bối cảnh tác động tới đào tạo và sử dụng lao động ở Việt Nam đồng thời khái quát các yếu tố bảo đảm đào tạo nghề, định hướng đào tạo nghề đáp ứng nhu cầu của doanh nghiệp vừa và nhỏ. Cuốn sách cũng đưa ra một số giải pháp tăng cường gắn kết giữa đào tạo nghề và sử dụng lao động tại các doanh nghiệp vừa và nhỏ [26]. Luận án “Quản lý đào tạo nghề ở các trường dạy nghề theo hướng đáp ứng nhu cầu xã hội” năm 2013 của Nguyễn Thị Hằng đã nghiên cứu cơ sở lý luận về quản lý đào tạo nghề theo hướng đáp ứng nhu cầu xã hội. Dựa trên việc đánh giá thực trạng đào tạo và quản lý đào tạo nghề theo hướng đáp ứng nhu cầu xã hội của một số trường dạy nghề ở thành phố Hồ Chí Minh, đề tài đề xuất một số giải pháp đào tạo nghề theo hướng đáp ứng nhu cầu xã hội như: thành lập trung tâm khảo sát nhu cầu đào tạo và tư vấn nghề ở các trường dạy nghề; cấu trúc lại chương trình khung để đào tạo đáp ứng nhu cầu xã hội; nâng cao năng lực cán bộ quản lý và giảng viên trường nghề; hoàn thiện mô hình đào tạo liên kết giữa trường và doanh nghiệp [9].
Luận án “Quản lý liên kết đào tạo giữa cơ sở dạy nghề với doanh nghiệp tại thành phố Hồ Chí Minh” năm 2014 của Nguyễn Phan Hòa đã nghiên cứu cơ sở lý luận, đề xuất các giải pháp quản lý liên kết đào tạo giữa CSDN với doanh nghiệp nhằm gắn đào tạo với sử dụng trong đó có quản lý liên kết đào tạo cấp thành phố và quản lý liên kết đào tạo trong CSDN. Một trong số các giải pháp mang tính đột phá được đưa ra của đề tài là xây dựng bộ tiêu chuẩn đánh giá quản lý liên kết đào tạo giữa nhà trường và doanh nghiệp. Đây sẽ là 9 z điều kiện để các cơ sở GDNN và các cấp quản lý tham khảo, lựa chọn áp dụng [10]. Nhìn chung, các công trình nghiên cứu nêu trên đã đề cập đến một số nội dung liên quan đến đào tạo nghề tại các doanh nghiệp cũng như các giải pháp quản lý nâng cao chất lượng đào tạo đáp ứng nhu cầu xã hội.
Tuy vậy, việc áp dụng các biện pháp quản lý còn phụ thuộc vào điều kiện thực tế của từng cơ sở GDNN. Chính vì thế, mỗi cơ sở GDNN cần có những nghiên cứu để xác định đúng thực trạng quản lý hoạt động hợp tác đào tạo với doanh nghiệp để làm cơ sở cho việc áp dụng những biện pháp quản lý phù hợp, đáp ứng yêu cầu nâng cao chất lượng đào tạo trong mỗi nhà trường. Hiện tại, chưa có công trình nghiên cứu khoa học nào về công tác quản lý hoạt động hợp tác đào tạo với doanh nghiệp ở trường CĐN Công nghệ cao Hà Nội. Vì thế, việc nghiên cứu và đề xuất các biện pháp quản lý hoạt động hợp tác đào tạo ở nhà trường này là vô cùng cấp thiết.
Một số khái niệm cơ bản 1. Quản lý Mọi hoạt động của xã hội đều cần tới quản lý.