đặt vấn đề thực hiện học chế môđun hoá triệt để. Vào năm 1993, khi những khó khăn chung của đất nƣớc và của các trƣờng đại học có phần dịu bớt, Bộ Giáo dục và Đào tạo chủ trƣơng tiến thêm một bƣớc, thực hiện học chế học phần triệt để hơn, theo mô hình học chế tín chỉ của Mỹ. Trƣờng Đại học Bách Khoa thành phố Hồ Chí Minh là nơi đầu tiên áp dụng học chế tín chỉ từ năm 1993, rồi các trƣờng Đại học Đà Lạt, Đại học Cần Thơ, Đại học Thuỷ Sản Nha Trang… và một số trƣờng đại học khác áp dụng từ năm 1994 và các năm sau đó. Trƣờng Đại học Ngoại ngữ - ĐHQGHN bắt đầu chuyển đổi sang đào tạo theo học chế tín chỉ từ năm học 2006-2007.
Mặc dù trong các hội thảo về nâng cao chất lƣợng học tập của sinh viên, hội nghị nghiên cứu khoa học cũng đã đề cập nhiều đến vấn đề tự học của sinh viên nhƣng nghiên cứu về hoạt động tự học theo học chế tín chỉ thì vẫn còn mới lạ, nhất là đối với sinh viên khoa Ngôn ngữ và Văn hoá Nga, nhiều sinh viên ngay từ khi đăng ký dự thi vào khoa đó không phải vì học giỏi ngôn ngữ đó, cũng không phải vì niềm 15 z say mê mà chủ yếu là giải pháp tình thế dẫn đến kết quả học tập của các em không đƣợc cao. Chính vì vậy, là một cán bộ quản lý sinh viên của khoa, tác giả đi sâu vào việc nghiên cứu tìm ra các biện pháp quản lý hoạt động tự học của sinh viên khoa Ngôn ngữ và Văn hoá Nga trƣờng Đại học Ngoại ngữ - ĐHQGHN góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động tự học của sinh viên khoa NN&VH Nga nói riêng và nâng cao chất lƣợng giáo dục của Nhà trƣờng trong xu hƣớng đào tạo theo học chế tín chỉ. Một số khái niệm cơ bản của đề tài 1. Sinh viên: Thuật ngữ “sinh viên” có nguồn gốc từ tiếng La tinh “student” có nghĩa là ngƣời làm việc, học tập nhiệt tình, ngƣời tìm kiếm, khai thác tri thức.
Nó đƣợc dùng tƣơng đƣơng với từ “student” trong tiếng Anh, “Etudiant” trong tiếng Pháp và “Cmgenm” trong tiếng Nga để chỉ những ngƣời đang theo học ở bậc đại học, đƣợc phân biệt với học sinh đang học ở phổ thông.Rubinsen quan niệm: “sinh viên” là đại biểu của một nhóm xã hội đặc biệt đƣợc đào tạo trong các trƣờng đại học, cao đẳng để chuẩn bị cho hoạt động lao động và sản xuất vật chất cho xã hội. Nhóm sinh viên rất cơ động đƣợc tổ chức theo một mục đích xã hội nhất định nhằm chuẩn bị thực hiện vai trò xã hội với trình độ nghề nghiệp cao trong lĩnh vực xã hội, sinh viên là nguồn lực bổ sung cho đội ngũ tri thức đƣợc đào tạo thành ngƣời lao động có tay nghề cao tham gia hoạt động tích cực. Quy chế công tác HSSV trong các trƣờng đạo tạo của Bộ Giáo dục và đào tạo thì “sinh viên” là ngƣời đang học hệ Đại học và Cao đẳng. Nhƣ thế, nếu không xét về hình thức gọi tên thì sự ra đời của thuật ngữ “sinh viên” đã gắn liền với lịch sử ra đời của trƣờng đại học (hơn 700 năm đối với SV thế giới và gần 300 năm đối với sinh viên Việt nam).
16 z Theo cách phổ biến hiện nay trong xã hội thì khái niệm “sinh viên” đƣợc Nhà nƣớc thể chế hoá, pháp lý hoá thuật ngữ này bằng luật định. Trong Luật giáo dục đã thống nhất cách gọi đối với sinh viên nhƣ sau: Sinh viên là ngƣời đang học tại các trƣờng cao đẳng, trƣờng đại học [3,tr. Nhƣ vậy, tất cả những ngƣời đang học ở bậc cao đẳng và đại học đều đƣợc gọi là sinh viên. Ngày nay, “học, học nữa, học mãi” (Lênin) là khẩu hiệu của toàn xã hội và học tập là công việc suốt đời.
Các trƣờng cao đẳng và đại học mở rộng cửa cho tất cả những ai có nguyện vọng và điều kiện không phân biệt lứa tuổi, giới tính, giàu nghèo… đều có thể học bằng nhiều con đƣờng, hình thức khác nhau: chuyên tu, tại chức, văn bằng 2… Do đó, với khái niệm SV nhƣ trên thì ngoại diên của nó rất rộng. Tuy nhiên, trong giới hạn của đề tài này chỉ nghiên cứu với đối tƣợng là sinh viên hệ chính quy thì có thể thu hẹp nội hàm của khái niệm này nhƣ sau: - Đó là những ngƣời đã tốt nghiệp trung học phổ thông - Họ đã vƣợt qua kỳ thi tuyển sinh đại học và đỗ vào trƣờng - Họ thuộc nhóm thanh niên nam, nữ từ 17 đến 25 tuổi - Họ chƣa có nghề nghiệp, việc làm xác định do đó còn lệ thuộc gia đình về kinh tế - Họ là nhóm xã hội đặc biệt gồm những thanh niên xuất thân từ các tầng lớp xã hội khác nhau đang trong quá trình học tập, chuẩn bị nghề nghiệp chuyên môn để bƣớc vào một nhóm xã hội mới là tầng lớp tri thức trẻ. Quản lý, các chức năng quản lý 1. Quản lý: 17 z Thuật ngữ “quản lý” (từ Hán Việt) gồm hai quá trình tích nhau.
Quá trình “quản” gồm coi sóc, giữ gìn, duy trì ở trạng thái “ổn định”. Quá trình “lý” gồm sửa sang, sắp xếp, đổi mới đƣa hệ thống (tổ chức) vào thế “phát triển”. Nếu chỉ “quản” thì tổ chức dễ trì trệ, nếu chỉ “lý” thì tổ chức phát triển không bền vững. Do đó trong “quản” phải có “lý” và ngƣợc lại để làm cho hệ thống ở trạng thái cân bằng động, vận động phù hợp, thích ứng và có hiệu quả trong môi trƣờng tƣơng tác giữa các nhân tố bên trong và các nhân tố bên ngoài tổ chức [9, tr.
Quản lý là sự điều khiển một hệ thống hoạt động xã hội ở tầm vĩ mô cũng nhƣ vi mô vì vậy có nhiều cách tiếp cận khác nhau, ở mỗi cách tiếp cận có những định nghĩa khác nhau.Marx đã từng nói đến sự cần thiết của quản lý: “Bất kỳ một lao động xã hội nào đƣợc tiến hành trên một quy mô tƣơng đối lớn cũng đều cần có sự quản lý, nó xác lập mối quan hệ hài hoà giữa các công việc riêng rẽ và thực tiễn những chức năng chung nhất xuất phát từ sự vận động của toàn cơ cấu sản xuất khác với vận động của từng bộ phận độc lập trong nền sản xuất ấy. Một nghệ sĩ vĩ cầm tự điều khiển mình, còn dàn nhạc thì phải có nhạc trƣởng” [4, tr.Koontz “ Quản lý là một hoạt động thiết yếu, nó đảm bảo sự phối hợp những nỗ lực của cá nhân nhằm đạt đƣợc mục đích của tổ chức. Mục đích của mọi nhà quản lý là hình thành môi trƣờng mà trong đó con ngƣời có thể đạt đƣợc các mục đích của mình với thời gian, tiền bạc, vật chất và sự bất mãn cá nhân ít nhất” [12, tr.Taylor (1856-1915), ngƣời đƣợc coi là cha đẻ của thuyết quản lý khoa học đã nêu lên tƣ tƣởng cốt lõi trong quản lý là: “Mọi loại công việc dù nhỏ nhất đều phải chuyên môn hoá và phải quản lý chặt chẽ”. Theo ông: “Quản lý là nghệ thuật biết rõ ràng chính xác cái gì cần làm và cái đó làm thế nào bằng phƣơng pháp tốt nhất và rẻ nhất”.
18 z Các tác giả Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc cho rằng: “Hoạt động quản lý là tác động có định hƣớng, có chủ định của chủ thể quản lý (ngƣời quản lý) đến khách thể quản lý (ngƣời bị quản lý) trong một tổ chức nhằm cho tổ chức vận hành và đạt mục đích của tổ chức” [19, tr. Tác giả Nguyễn Minh Đạo cho rằng: “Quản lý là sự tác động có tổ chức, định hƣớng của chủ thể quản lý lên khách thể quản lý về mặt chính trị, văn hoá, xã hội, kinh tế… bằng một hệ thống các luật lệ, các chính sách, các nguyên tắc, các phƣơng pháp và biện pháp cụ thể nhằm tạo ra môi trƣờng và điều kiện cho sự phát triển của đối tƣợng”[20, tr. Tóm lại, hoạt động quản lý luôn tồn tại hai thành tố đó là chủ thể quản lý và khách thể quản lý. Chủ thể quản lý có thể là cá nhân hay một nhóm ngƣời có chức năng quản lý, điều khiển tổ chức để tổ chức vận hành và đạt đƣợc mục tiêu.
Khách thể quản lý là những ngƣời chịu sự tác động chỉ đạo của chủ thể quản lý nhằm đạt mục tiêu chung. Chức năng quản lý: Chức năng của quản lý là tập hợp các nhiệm vụ mà chủ thể quản lý phải thực hiện để đạt mục đích, mục tiêu quản lý đề ra. Có nhiều cách phân chia về chức năng quản lý nhƣng cơ bản thống nhất ở bốn chức năng cơ bản: - Chức năng lập kế hoạch: Lập kế hoạch là quá trình ấn định những nhiệm vụ, những mục tiêu và phƣơng pháp tốt nhất để thực hiện những mục tiêu, nhiệm vụ đó. Lập kế hoạch là phƣơng pháp tiếp cận hợp lý để đạt những mục tiêu định trƣớc, là chức năng cơ bản nhất trong các chức năng quản lý vì nó gắn liền với việc lựa chọn chƣơng trình hành động trong tƣơng lai.
Kế hoạch là văn bản trong đó xác định mục tiêu, mục đích của một tổ chức và những con đƣờng, các biện pháp, cách thức để đạt đƣợc mục tiêu, mục đích đó. Chức năng kế hoạch hoá có 3 nội dung cơ bản là: + Xác định, hình thành mục tiêu (phƣơng hƣớng) đối với tổ chức; 19 z + Xác định và đảm bảo (có tính chắc chắn, có tính cam kết) về các nguồn lực của tổ chức để đạt đƣợc mục tiêu này. + Quyết định xem những hoạt động nào là cần thiết để đạt đƣợc các mục tiêu, xác định các hoạt động ƣu tiên. - Chức năng tổ chức: Tổ chức thực hiện kế hoạch là quá trình sắp xếp và phân phối các nguồn lực để thực hiện các mục tiêu đã đề ra, là sự sắp đặt một cách khoa học cho con ngƣời, công việc một cách hợp lý, là sự phối hợp các tác động bộ phận tạo nên một tác động tích hợp mà hiệu quả của nó lớn hơn nhiều so với tổng số các hiệu quả của các tác động thành phần.
Công tác tổ chức bao gồm: + Xác định cấu trúc bộ máy + Tiếp nhận và phân phối các nguồn lực theo cấu trúc bộ máy. + Xác lập cơ chế phối hợp giữa các bộ phận, các thành viên trong tổ chức - Chức năng chỉ đạo: Chỉ đạo là quá trình điều khiển, điều hành, tác động, huy động và giúp đỡ con ngƣời, tổ chức trong hệ thống thực hiện nhiệm vụ. Chỉ đạo là quá trình tác động, liên kết các thành viên trong tổ chức, tập hợp, động viên họ hoàn thành những công việc nhất định để đạt đƣợc mục tiêu của tổ chức.