Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý HĐTH của sinh viên hệ từ xa Chương 2: Thực trạng HĐTH và quản lý HĐTH của sinh viên hệ từ xa tại Viện Đại học Mở Hà Nội Chương 3: Xây dựng các biện pháp quản lý HĐTH của sinh viên hệ từ xa tại Viện Đại học Mở Hà Nội 5 z Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG TỰ HỌC CỦA SINH VIÊN HỆ TỪ XA 1. Tổng quan lịch sử vấn đề nghiên cứu 1. Trên thế giới Ngay từ thời Trung Hoa cổ đại, trong cuộc đời dạy học của mình, Khổng Tử (551-479Tr.CN) rất quan tâm và coi trọng mặt tích cực của học sinh. Cách dạy của ông là gợi mở để cho học trò tự tìm ra chân lý.
Ông cho rằng thầy giáo chỉ đưa ra cái mấu chốt nhất cho học trò, còn những vấn đề khác học trò phải từ đó mà tìm ra, người thầy không được làm thay hết cho trò. Ông đã từng nói với học trò của mình: “Không tức giận vì không muốn biết thì không gợi cho, không bực tức vì không rõ thì không bày vẽ cho. Một vật có bốn góc, bảo cho biết một góc mà không suy ra được ba góc kia thì không dạy nữa” [16, tr. Ông còn cho rằng hoạt động dạy học bao giờ cũng là hoạt động điều khiển, hoạt động quản lý.
Nếu không nắm được thông tin ngược, không nắm được việc tiếp thu của người học thì hoạt động dạy không đạt kết quả. Đến thế kỉ XVII, J.Comenxki (1592-1570) - Người thầy giáo của các dân tộc, ông tổ của nền sư phạm cận đại đã từng khẳng định: “Không có khát vọng học tập thì không thể trở thành nhân tài”. Trong tác phẩm “Phép giáo dục vĩ đại”, ông đã nêu ra các nguyên tắc, các phương pháp giáo dục nhằm phát huy tính tích cực, tự giác học tập của người học. Đồng thời, ông kiên quyết phản đối lối dạy học áp đặt, giáo điều đã làm cho người học thụ động, ỷ lại trong học tập.
Ông viết: “Ban Giám hiệu và Thanh tra nhà trường có thể kích thích lòng ham học của học sinh bằng cách trực tiếp tham gia vào các hoạt động chung của lớp, chẳng hạn các buổi tập luyện, ngâm thơ, thảo luận chuyên đề, các kì thi hoặc lễ tốt nghiệp…Một hình thức nữa là tăng cường khen thưởng” [12, tr. Các nhà giáo dục lỗi lạc khác ở thế kỉ XVIII-XIX như Rutxô (1712- 1778), Pestalogi (1746-1827), Đixtecvec (1790-1866), Usinski (1824-1870)… 6 z đã nhấn mạnh cách làm cho người học tự dành lấy tri thức bằng con đường tự khám phá, tìm tòi, từ đó các ông đã nhận thấy tính tất yếu phải bắt buộc người học độc lập tìm tòi, suy nghĩ trong khi dạy học [6, tr. Đầu thế kỉ XX, các nhà giáo dục đã tập trung nghiên cứu tìm kiếm những phương pháp dạy học dựa trên cơ sở quản lý và thúc đẩy HĐTH của học sinh, sinh viên. Các phương pháp này dù ở mức độ nào cũng nhấn mạnh vai trò cá nhân người học đến mức để cho họ phát triển một cách tự do và như vậy đã “Tách rời học sinh ra những điều phải học” [14, tr.
Vào những năm 30 của thế kỉ trước, nhà sư phạm nổi tiếng người Nhật Bản T. Makiguchi đã trình bày những tư tưởng giáo dục mới trong tác phẩm “Giáo dục vì cuộc sống sáng tạo” với quan niệm cho rằng: “Giáo dục xét như là quá trình hướng dẫn tự học” [33, tr. Sau chiến tranh thế giới lần thứ hai, các nhà giáo dục ở các nước Tây Âu và Mĩ đã đi tìm phương pháp dạy học mới trên cơ sở cách tiếp cận “Lấy người học làm nhân vật trung tâm” (Learner centred approach), khởi nguồn từ mong muốn giải phóng năng lực sáng tạo cho người học do Dewey đề xướng: “Học sinh là mặt trời, xung quanh nó quy tụ mọi phương tiện giáo dục”. Một loạt các phương pháp dạy học theo tư tưởng “Học sinh là nhân vật trung tâm” được đưa vào thử nghiệm như “Phương pháp tích cực”(Methodes actives), “Phương pháp hợp tác” (Methodes cooperatives),” Phương pháp cá thể hoá” … Gần đây, tác giả Ja Roy Sigh (Ấn Độ) trong tác phẩm “Nền giáo dục cho thế kỉ XXI, những triển vọng của Châu Á Thái Bình Dương” đã đưa ra quan điểm về quá trình “Nhận biết dạy - học” và ông chủ trương rằng người học phải là người tham gia tích cực vào quá trình “Nhận biết dạy - học” [36].
Ở Việt Nam Trong lịch sử giáo dục Việt Nam, HĐTH của người học và quản lý HĐTH đối với người học được quan tâm không như nhau trong các giai đoạn lịch sử khác nhau. Dưới chế độ phong kiến và thực dân Pháp, HĐTH không được để ý tới. “Người ta tìm thấy sự bắt chước đúng mà không cần độc đáo, 7 z người ta học thuộc lòng, người ta lặp lại đồng thanh với nhau” [37, tr. Dưới thời Mỹ - Ngụy ở miền Nam, một số nhà giáo dục có tư tưởng tiến bộ như Thiên Giang Trần Kim Bảng [3], Nguyễn Duy Cần [8], Nguyễn Hiến Lê [29]… đã quan tâm tới vấn đề tự học, nhưng chỉ dừng lại ở sự cổ vũ cho HĐTH, nêu lên một số phương pháp tự học mang tính kinh nghiệm cá nhân.
HĐTH của người học và quản lý HĐTH đối với người học chỉ được quan tâm dưới nền giáo dục XHCN. Chủ tịch Hồ Chí Minh, lúc sinh thời vẫn thường xuyên nêu một tấm gương sáng về tự học. Người nói: “Phải tự nguyện, tự giác xem công việc học tập là nhiêm vụ của người cách mạng, phải cố gắng hoàn thành cho được, do đó mà phải tự động hoàn thành kế hoạch học tập” [20, tr. Tác giả Nguyễn Hoàng Yến [47] khi nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về tự học đã nêu năm vấn đề nhằm bảo đảm chất lượng và hiệu quả HĐTH là: Mục đích tự học, lao động nghiêm túc, bảo đảm các điều kiện cho tự học, tích cực luyện tập và thực hành.
Gần đây, tác giả Lê Khánh Bằng đã đưa ra một số biện pháp tổ chức HĐTH cho sinh viên nhằm biến quá trình đào tạo thành quá trình tự đào tạo [5]. Nguyễn Kim Truy [43, tr.8-10,29] coi việc người học rèn luyện phương pháp tự học là một trong những điều kiện để phát triển ĐTTX. Học từ xa thực chất là tự học: ĐTTX thực chất là một quá trình tự đào tạo. Dương Thị Mai Phương, đối với hình thức ĐTTX, nếu sinh viên không có tính tự chủ, tính kiên trì, tính ham học hỏi cao thì không thể nào kết thúc khóa học với văn bằng đại học trên tay.
Đối với Nguyễn Duy Hoan (Đại học Thái Nguyên) [23] sau một thời gian dài thực hiện công tác quản lý sinh viên từ xa tại cơ sở liên kết ở địa phương, ông đã trình bày một số ý tưởng để hoàn thiện, nâng cao hiệu quả của công tác này. Ở đây ta chỉ lưu ý đến đề nghị về “quán xuyến lớp”. Đề nghị này toát lên tư tưởng quản lý ĐTTX gần như chỉ là quản lý có tính hành chính - sự nghiệp để duy trì một trạng thái trật tự như các nhà quản lý mong muốn. Còn bản thân 8 z cách thức sinh viên tiến hành học tập cụ thể ra sao thì nằm ngoài tầm quan tâm của nhà quản lý [tr.
Để tăng cường các loại hình ĐTTX, theo Lâm Quang Thiệp [38], cần tập trung vào những vấn đề then chốt cụ thể về mặt công nghệ đó là hai loại công nghệ: công nghệ dạy và học và công nghệ đánh giá, và lưu ý một số giải pháp về quản lý trong ĐTTX. Nói riêng về công nghệ dạy và học, theo ông, dạy ở đại học chủ yếu là dạy cách học, đối với ĐTTX quan niệm này lại càng quan trọng, vì sinh viên chủ yếu phải tự học. Phương pháp dạy đó ở ĐTTX cần được thể hiện qua những nhà giáo có kinh nghiệm về phương diện này, và cần làm cho đa số sinh viên được hưởng những giờ thuyết giảng mẫu mực của các nhà giáo này nhờ việc tận dụng các phương tiện nghe nhìn. Theo nhiều nhà nghiên cứu, để nâng cao chất lượng dạy và học, ta phải dạy cách học.
Với vấn đề này, dựa trên lí thuyết thông tin, Thái Thanh Sơn nhận thấy có hai yếu tố quan trọng quyết định giá trị của tri thức được hình thành trong quá trình học tập: yếu tố đầu tiên là nguồn thông tin đầu vào và yếu tố thứ hai là phương pháp xử lí thông tin. Trong xã hội trước đây, do sự xuất hiện thông tin mới trong xã hội còn chậm cho nên thông tin chuyển giao cho nhiều thế hệ người học không có biến đổi lớn. Chẳng hạn trong hơn 2000 năm dưới sự thống trị của Nho giáo trong hệ thống học tập tại Trung Quốc, Việt Nam…chỉ có hai bộ “giáo trình kinh điển” duy nhất không hề thay đổi qua bao nhiêu thế hệ người dạy và người học là Tứ thư (Đại học, Luận ngữ, Mạnh tử, Trung dung) và Ngũ kinh (Thi, Thư, Lễ-Nhạc, Dịch, Xuân Thu). Ngoài những kiến thức đóng khung trong phạm vi 9 tài liệu kinh điển đó, hầu như toàn bộ thông tin khác - kiến thức “bách gia chư tử” - đều do thầy đưa cho trò.
Do vậy, nếu không có thầy giỏi thì không thể có trò giỏi được! Ngày nay tình hình hoàn toàn khác biệt: Người học có thể và cần phải tìm hiểu, tiếp xúc với rất nhiều nguồn thông tin hết sức phong phú về mọi lĩnh vực trong xã hội. Nguồn thông tin đó chắc chắn sẽ đầy đủ hơn, đa dạng hơn 9 z hơn gấp nhiều lần so với nguồn thông tin chỉ do người dạy cung cấp. Không một người thầy nào, dù tài giỏi đến đâu lại có thể có tri thức nhiều hơn tri thức do mọi nguồn thông tin trong xã hội mang lại cho người học (“Google” chẳng hạn!). Như vậy rõ ràng là trong thời đại của nền kinh tế tri thức, vai trò của người thầy không phải là nguồn cung cấp thông tin là chính mà phải là hướng dẫn phương pháp học, tìm kiếm, xử lý thông tin.
Chủ yếu không phải là dạy cái gì mà là dạy cách học thế nào là chính. Nguyễn Cao Chương [11, tr.60-62] cũng nhấn mạnh tầm quan trọng của việc trang bị cho sinh viên ĐTTX khả năng tự học, mà ông gọi là “khả năng tự thu thập kiến thức”. Nguyễn Mai Hương [25, tr.38-39] cho rằng “tăng cường năng lực học tập của sinh viên từ xa, đặc biệt là khả năng tự học” là một nội dung của giải pháp quản lý ĐTTX.