Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG TỰ HỌC CỦA HỌC SINH Ở TRƯỜNG PHỔ THÔNG DÂN TỘC BÁN TRÚ THCS 1. Tổng quan về vấn đề nghiên cứu 1. Các nghiên cứu ở nước ngoài Tự học và các kĩ năng tự học là một trong những vấn đề mang tính lịch sử được nhiều nhà giáo dục trên thế giới quan tâm dưới nhiều góc độ khác nhau ngay từ khi giáo dục chưa trở thành một khoa học. Thời cổ đại, Khổng Tử (551 - 479 TCN), nhà giáo dục kiệt xuất của Trung Hoa đã nói “Học phải kết hợp với suy nghĩ, học mà không suy nghĩ thì dễ mắc lầm, chỉ nghĩ mà không học thì chỉ thêm ngu tối” [10]; Khổng Tử đã cho thấy tầm quan trọng của việc tự học và phương pháp tự học.
Smit Hecbơc đã nhấn mạnh việc quan tâm giáo dục động cơ hoạt động đúng đắn là điều kiện để học sinh tích cực chủ động trong học tập [18] Rubakin (1862-1946) trong tác phẩm “Tự học như thế nào? [17] do Nguyễn Đình Khôi dịch đã đưa ra được vấn đề về các phương pháp tự học, sử dụng sách. Để giúp người học nâng cao tính tích cực nhận thức và đạt hiệu quả trong hoạt động tự học các tác giả như A.Petrovski, cũng đã đề ra trong việc thiết kế các bài tập nhận thức, nhất là bài tập nêu vấn đề để SV thực hiện trong thời gian tự học đó là trách nhiệm của người giáo viên. Nhà sư phạm lỗi lạc Tiệp Khắc Jan Amos Komensky (1592 - 1670) - Ông tổ của nền giáo dục cận đại, đã khẳng định: “Không có khát vọng học tập thì không thể trở thành tài năng, cần phải làm thức tỉnh và duy trì khát vọng học tập trong học sinh”. Năm 1657, ông đã hoàn thành tác phẩm “Khoa sư phạm vĩ đại” trong đó nêu rõ: “Việc học hành, muốn trau dồi kiến thức vững chắc không thể làm một lần mà phải ôn đi ôn lại, có bài tập thường xuyên phù hợp với trình độ” [7, tr.
Trong giai đoạn hiện đại, các nhà giáo dục học đi sâu nghiên cứu khoa học giáo dục và đã khẳng định vai trò to lớn của tự học. 5 Cuối thế kỷ XX, quan niệm về học tập suốt đời được coi là chìa khóa mở cửa vào thế kỷ XXI. Theo khuyến cáo về “Giáo dục cho thế kỷ XXI”, UNESCO đã nêu bốn trụ cột về giáo dục: “Học để biết, học để làm, học để cùng chung sống, học để làm người”. Như vậy, lịch sử đã cho thấy vấn đề tự học, tự nghiên cứu của học sinh, sinh viên đã được nhiều nhà giáo dục, nhiều nhà sư phạm quan tâm nghiên cứu ở những góc độ khác nhau.
Các tác giả đã chỉ rõ vai trò, tầm quan trọng của hoạt động tự học. Các nghiên cứu ở trong nước Nghiên cứu về vấn đề tự học tại Việt Nam cũng đã có nhiều nghiên cứu lâu dài cả về lí luận và thực tiễn, đã trải qua một giai đoạn phát triển. Nghiên cứu về vấn đề tự học, trước tiên phải nói đến Chủ tịch Hồ Chí Minh, một tấm gương sáng về tinh thần tự học. Người rất quan tâm đến vấn đề giáo dục, vấn đề học tập, rèn luyện và đặc biệt Bác rất coi trọng của việc tự học.
Khi nói chuyện với các đảng viên hoạt động lâu năm ( Vào ngày 9 tháng 12 năm 1961), Hồ Chủ tịch đã tâm sự : “tôi năm nay 71 tuổi, ngày nào cũng phải học. Không học thì không theo kịp, công việc nó sẽ gạt mình lại phía sau”.Ở tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc” (1947), khi nói về công tác huấn luyện cán bộ, Bác cũng nhắc nhở về cách học tập: "Lấy tự học làm cốt. Do thảo luận và chỉ đạo góp vào” [12, Tr.Với Bác, nguyên lý và phương thức học được tóm gọn trong mấy câu sau : “ Học ở trường, học trong sách vở, học lẫn nhau và học dân” [12] Tư tưởng của Người về tự học đã được vận dụng, quán triệt trong các Nghị quyết của Đảng. Nghị quyết Hội nghị lần thứ II - BCH TW Đảng khoá VIII đã khẳng định: “Đổi mới phương pháp dạy học… nâng cao khả năng tự học, tự nghiên cứu của người học”.
Tại Hội nghị toàn quốc lần thứ nhất về công tác huấn luyện và học tập khai mạc ngày 6 tháng 5 năm 1950, Bác đã khuyên học viên: “Không phải có thầy thì học, thầy không đến thì đùa. Phải biết tự động học tập”. Như vậy, theo Bác việc tự học giữ vai trò rất quan trọng, có tác dụng quyết định cho kết quả học tập và việc tự học phải được xuất phát từ động lực của chính bản thân người học. 6 Thời gian qua đã có nhiều công trình nghiên cứu về tự học, có thể kế đến các tác giả: Nguyễn Sỹ Thư, Thái Duy Tuyên, Nguyễn Cảnh Toàn… Tác giả Nguyễn Cảnh Toàn đã có nhiều cuốn sách, công trình nghiên cứu về vấn đề tự học.
Các công trình của ông đã ra đời để thuyết phục giáo viên ở các cấp học, bậc học thay đổi cách dạy của mình nhằm phát triển khả năng tự học cho học sinh ở mức độ tối đa. Ông phân tích sâu sắc bản chất tự học, xây dựng khái niệm tự học chuẩn xác, đưa ra mô hình dạy - tự học tiến bộ với những hướng dẫn chi tiết cho giáo viên khi thực hiện mô hình này. Đi sâu hơn vào bản chất của vấn đề tự học trên cơ sở tâm lí học và giáo dục học, đã có các tác giả Thái Duy Tuyên với “Bồi dưỡng năng lực tự học cho học sinh”, tác giả Nguyễn Kỳ với việc nghiên cứu “Biến quá trình dạy học thành quá trình tự học”,tác giả Đặng Vũ Hoạt với nghiên cứu “Một số nét về thực trạng, phương pháp dạy học đại học”. Tác giả Lê Khánh Bằng lại cho rằng: “Tự học là tự mình suy nghĩ, sử dụng các năng lực trí tuệ và phẩm chất tâm lý để chiếm lĩnh một lĩnh vực khoa học nhất định”[1, Tr3].
Một số công trình đã nghiên cứu về quản lí hoạt động tự học như luận văn thạc sỹ: “ Biện pháp quản lí hoạt động tự học của học sinh trung học phổ thông huyện Tư Nghĩa tỉnh Quảng Ngãi” của tác giả Phạm Văn Liên, năm 2012; “ Biện pháp quản lí hoạt động tự học của học viên trường sỹ quan lục quân 2” của tác giả Trần Bá Khiêm, năm 2007; "Các biện pháp quản lý hoạt động tự học của học sinh trường Văn hoá I - Bộ Công an” của tác giả Phạm Quang Bảo, năm 2009; “Quản lý hoạt động tự học của sinh viên nội trú trường Cao đẳng Hàng hải I” của tác giả Nguyễn Văn Nam, năm 2013; “Quản lý hoạt động tự học của học sinh trường phổ thông dân tộc nội trú trung học phổ thông Miền Tây tỉnh Yên” của tác giả Phạm Hoài Minh, năm 2014. Bên cạnh đó còn có các công trình đã được công bố: Tác giả Phan Quốc Lâm (2010) với công trình “Tiếp cận vấn đề kĩ năng theo quan điểm tâm lí học hoạt động”, tạp chí Giáo dục, số Đặc biệt, tháng 11; Tác giả Dương Thị Linh (2010), “Một số vấn đề về hoạt động tự học của sinh viên 7 trong giai đoạn hiện nay”, tạp chí Giáo dục, số Đặc biệt, tháng 1. Các công trình nghiên cứu về vấn đề tự học ở những góc độ khía cạnh khác nhau, đã chỉ ra vai trò, vị trí, tầm quan trọng của tự học, các phương pháp tự học, các điều kiện, phương tiện phục vụ tự học, các yếu tố ảnh hưởng tới kết quả tự học và các phương pháp nâng cao chất lượng tự học. Tuy nhiên, về phương diện quản lý hoạt động tự học của học sinh ở các trường PTDTBT THCS trên địa bàn huyện Nậm Pồ, tỉnh Điện Biên thì hiện nay chưa có tác giả nào đề cập đến.
Do đó đề tài tập trung nghiên cứu sâu về cơ sở lý luận của hoạt động tự học, thực trạng quản lý hoạt động tự học, trên cơ sở đó đề xuất các biện pháp quản lý nâng cao chất lượng tự học của học sinh ở các trường PTDTBT THCS vừa có ý nghĩa lý luận, vừa có ý nghĩa thực tiễn, góp phần quan trọng trong việc nâng cao chất lượng học tập cho HS ở các trường PTDTBT THCS trên địa bàn huyện Nậm Pồ, tỉnh Điện Biên. Một số khái niệm cơ bản 1. Tự học Theo từ điển Việt Nam, khái niệm "Tự học" được hiểu là "Tự học lấy một mình trong sách chứ không có thầy dạy" cũng có thể hiểu là "Tự đi tìm lấy kiến thức có nghĩa là tự học". Tác giả cho rằng tự học là việc học của chính bản thân người học, chính họ phải huy động các năng lực trí tuệ, các phẩm chất tâm lý để chiếm lĩnh những tri thức khoa học của loài người và biến những tri thức đó thành vốn kinh nghiệm của bản thân.
Trong quyển "Tự học - một nhu cầu thời đại” của tác giả Nguyễn Hiến Lê, ông lại cho rằng khái niệm "Tự học" được hiểu là "… không ai bắt buộc mà mình tự tìm tòi, học hỏi để hiểu biết thêm và có thầy hay không, ta không cần biết. 8 Người tự học hoàn toàn làm chủ mình, muốn học môn nào tuỳ ý, muốn học lúc nào cũng được, đó mới là điều kiện quan trọng", ông cũng trích dẫn để làm rõ hơn về khái niệm và tầm quan trọng của tự học "Mỗi người đều nhận hai thứ giáo dục: Một thứ, do người khác truyền cho, một thứ quan trọng hơn nhiều, do mình tự kiếm lấy". [9] Tác giả Nguyễn Cảnh Toàn: “Tự học - là tự mình động não, suy nghĩ, sử dụng các năng lực trí tuệ (quan sát, so sánh, phân tích tổng hợp.) và khi cả cơ bắp (khi phải sử dụng công cụ) cùng các phẩm chất của mình, rồi cả động cơ, tình cảm, cá nhân sinh quan, thế giới quan (như tính trung thực, khách quan, có chí tiến thủ, không ngại khó, ngại khổ, kiên trì, nhẫn nại, lòng say mê khoa học, ý muốn thi đỗ, biến khó khăn thành thuận lợi.) để chiếm lĩnh một lĩnh vực hiểu biết nào đó của nhân loại, biến lĩnh vực đó thành sở hữu của mình”[22]. Theo tác giả Nguyễn Văn Đạo: "Tự học là công việc tự giác của mỗi người do nhận thức được đúng đắn vai trò quyết định của nó đến sự tích lũy kiến thức cho bản thân, cho chất lượng công việc mình đảm nhiệm, cho sự tiến bộ xã hội".1] Theo tác giả Võ Quang Phúc: “Tự học là một bộ phận của học, nó được tạo thành bởi những thao tác, cử chỉ ngôn ngữ, hành động của người học trong hệ thống tương tác của hoạt động dạy học.