Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH GIÁO DỤC ĐỐI VỚI HỌC SINH LÀ NGƯỜI DÂN TỘC THIỂU SỐ 1. Một số vấn đề lý luận về tổ chức thực hiện chính sách công * Khái niệm về chính sách công Khoa học về chính sách công đã được nghiên cứu ở phương Tây từ thế kỷ XX trong những năm 1940. Nhưng đến những năm 1980, chính sách công mới được phát triển nhanh chóng và đồng thời được coi như một lĩnh vực nghiên cứu riêng biệt với các cách tiếp cận, các lý thuyết của mình. Ở Việt Nam, chính sách công được nghiên cứu vào đầu thế kỷ XXI những năm cuối thập niên 1990.
Định nghĩa về chính sách công là một trong những vấn đề gây nhiều tranh luận trong nghiên cứu khoa học và thực tiễn của khoa học khoa học xã hội, được tập trung ở hai nhóm chủ yếu sau: - Nhóm định nghĩa chính sách công với tư cách như là sản phẩm có mục đích của nhà nước. Thomas Dye đã quan niệm chính sách công là “ Tất cả những gì nhà nước lựa chọn làm hoặc không làm” [ 1, tr 9 ].Guy Peters có một định nghĩa cụ thể hơn: “ Chính sách công là toàn bộ các hoạt động của nhà nước một cách trực tiếp hay gián tiếp, đều có ảnh hưởng đến cuộc sống của mọi công dân” [ 1, tr 10 ]. James Anderson đã đưa ra một định nghĩa chung hơn, chính sách công là một nội hàm “ Chính sách là một quá trình hành động có mục đích được theo đuổi bởi một hoặc nhiều chủ thể trong việc giải quyết các vấn đề mà họ quan tâm” [ 1, tr 8 ]. - Nhóm định nghĩa chính sách công với tư cách là một tập hợp các bước giải quyết các vấn đề công cộng.
8 n John Dewey có lẽ là người đầu tiên đưa ra kiểu định nghĩa này. Dewey đã phân chia quá trình hoạch định chính sách công thành năm giai đoạn: cảm nhận tình huống có vấn đề, các định vấn đề, hình thành các giải pháp, xem xét các khía cạnh của các giải pháp và lựa chọn một giải pháp rồi thực hiện. Sau đó, Harold Lasswell mô tả quá trình chính sách như là một quá trình ra quyết định có tính sáng tạo bao gồm các bước: tranh luận, đưa ra các giải pháp, lựa chọn, áp dụng - thực thi và kết thúc. Cũng có một số tác giả khác đưa ra các định nghĩa về chính sách công theo quan điểm của lý thuyết hệ thống, trong đó nổi bật là định nghĩa của Peter de Leon: “ Chính sách công là những quyết định quan trọng nhất của xã hội, là những hành động có tính chức năng dựa trên sự đồng thuận hoặc phê chuẩn của toàn hệ thống ’’ [ 45, tr 9 ].
Dựa heo tác giả này thì quá trình hoạch định chính sách bao gồm sáu giai đoạn: khởi xướng, tranh luận, lựa chọn, thực thi, đánh giá và kết thúc. Cuối cùng, Deborah Stone lại đưa ra một định nghĩa có tính chất phê phán đối với tất cả các định nghĩa trên: “ Các định nghĩa về chính sách công không bao hàm được cái mà tôi cho là bản thân của quá trình hoạch định chính sách trong các môi trường chính trị: đó chính là các cuộc đấu tranh tư tưởng. Mặc dù có sự khác biệt đáng kể, nhưng các định nghĩa trên đều có một xu hướng chung là muốn thâu tóm khái niệm chính sách công trong tính tổng thể của nó - tức là tổng thể của các mối quan hệ nhân quả chồng chéo vượt ra ngoài mọi sự phân tích từng chủ thể cá nhân.Colebatch, tác giả cuốn “Chính sách” (Policy) cho rằng, chính sách thường có ba đặc trưng: sự chặt chẽ, tính thứ bậc và tính công cụ. Sự chặt chẽ: là sự giả định rằng tất cả các phần nhỏ của hành động phù hợp với nhau, chúng tạo thành bộ phận của một chỉnh thể có tổ chức, vượt hệ 9 n thống duy nhất và chính sách liên quan đến hệ thống này được điều hành như thế nào.
Tính thứ bậc: Tiến trình chính sách là những người ở trên cùng đưa ra các hướng dẫn. Chính sách được xem là quyết định có tính cưỡng chế về những gì sẽ được làm trong lĩnh vực cụ thể nào đó. Tính công cụ: Chính sách được hiểu như là sự theo đuổi những mục đích cụ thể (những mục tiêu chính sách). Chính sách có ba thuộc tính: Thẩm quyền, kỹ năng và trật tự.Trước hết chính sách dựa vào thẩm quyền: quyền hành làm cho chính sách trở nên hợp pháp và các vấn đề chính sách xuất hiện và bắt nguồn từ các nhân vật nắm quyền hành.
Thứ hai, tính kỹ năng: chính sách được xem, như một tiến trình mang quyền lực của tổ chức đặt vào một một khu vực vấn đề cụ thể nào đó. Tri thức chính sách được chia nhỏ thành các khu vực chức năng: chính sách giáo dục, chính sách giao thông. Tính trật tự: chính sách là một hệ thống và sự nhất quán. Quyết định chính sách không thể tuỳ tiện hoặc thất thường [Error! Reference source not found.
Dựa theo từ điển giải thích thuật ngữ hành chính: “Chính sách công là chiến lược sử dụng các nguồn lực để làm dịu bớt những vấn đề của quốc gia hay những mối quan tâm của nhà nước. Còn dựa theo từ điển Tiếng Việt “Chính sách là chiến lược và kế hoạch cụ thể nhằm đạt một mục đích nhất định, dựa vào một đường lối chính trị chung và tình hình thực tế mà đề ra” [50, tr. Dựa theo các tác giả của Tập bài giảng Chính trị học của Viện Chính trị học, Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh: “Chính sách công là chương trình hành động hướng đích của chủ thể nắm hoặc chi phối quyền lực công cộng” [54, tr. 10 n Theo tác giả Nguyễn Hữu Hải trong “Giáo trình Hoạch định và phân tích chính sách công" thì, “Chính sách công là những hành động ứng xử của Nhà nước với các vấn đề phát sinh trong đời sống cộng đồng, được thể hiện bằng nhiều hình thức khác nhau, nhằm thúc đẩy xã hội phát triển” [ 18, tr.
Trong thang bậc của hệ thống quyền lực nhà nước, mọi cấp chính quyền đều có thể có những chính sách trong lĩnh vực thuộc thẩm quyền của mình. Với nghĩa này người ta có thể chia chính sách công ra thành hai loại: chính sách quốc gia (áp dụng cho toàn bộ đất nước) và chính sách địa phương (cấp tỉnh, cấp huyện, và cấp xã). Cho dù có thể có những cách hiểu khác nhau, song nhìn chung, một cách cô đọng nhất có thể xem chính sách công là chương trình hành động của nhà nước nhằm giải quyết các vấn đề cụ thể. Hoặc chính sách công là tập hợp các văn bản, được quyết định bởi chủ thể nắm quyền lực nhà nước, nhằm quy định mục đích và cách thức, hành động của những đối tượng liên quan, để giải quyết những vấn đề mà xã hội quan tâm.
Bản chất và nội dung của chính sách tuỳ thuộc tính chất của nhiệm vụ cụ thể. Muốn đưa ra được chính sách đúng đắn phải căn cứ vào tình hình thực tiễn ở từng lĩnh vực, từng giai đoạn, để vận dụng vào hoàn cảnh và điều kiện cụ thể. Chính sách công được hiểu là các quan điểm, biện pháp của nhà nước nhằm cụ thể hoá đường lối của đảng cầm quyền tác động đến các lĩnh vực đời sống xã hội, nhằm đạt được mục tiêu. Các bước thực hiện chính sách công gồm các bước sau: (1) Xác lập nghị trình hành động (2) Xây dựng chính sách hay ra quyết định chính sách (3) Triển khai thực hiện chính sách 11 n (4) Tổng kết, đánh giá chính sách, phân tích tác động của chính sách từ đó dẫn tới việc xem xét lại hoặc chấm dứt chính sách đó.
Từ đó suy ra, chính sách công là một chu trình khép kín. Quá trình hình thành chính sách công dựa trên thực tế là quá trình các chủ thể lợi ích đưa ra yêu cầu của chính mình. Cụ thể các bước trong chu trình như sau: Bước 1: Xác lập nghị trình Xác lập nghị trình thực chất là xác định vấn đề gì cần được quan tâm, ra chính sách. Một chính sách ra đời đó chính là sản phẩm đầu ra của cả một hệ thống.
ở tầm vĩ mô, đó là sản phẩm của hệ thống chính trị. Bước 2: Thực hiện xây dựng và đưa ra chính sách Từ tất cả các thông tin trên, hệ thống hoạch định chính sách phải xác định được vấn đề nào cần đặt vào chương trình nghị sự. Trên cơ sở đó, cơ quan hoạch định chính sách tiến hành các bước sau: + Thu thập, phân tích thông tin. + Phát triển các phương án giải quyết vấn đề.
+ Xây dựng liên minh chính trị. + Đàm phán, thoả hiệp và thông qua chính sách. + Những vấn đề chính trị đặt ra trong quá trình ra chính sách. Bước 3: Triển khai thực hiện chính sách.
Những chính sách khi đã được thông qua phải được tổ chức và triển khai. Điều kiện để triển khai hiệu quả chính sách đó là : - Cơ quan được giao nhiệm vụ các nguồn lực: nhân lực, vật lực, tài lực và phải chịu trách nhiệm về hoạt động triển khai chính sách. 12 n - Cơ quan này phải có đủ thẩm quyền kỹ thuật chuyên môn để biến các mục tiêu thành các chương trình hành động cụ thể thích hợp. Trong nghiên cứu của mình, tác giả tập trung vào vấn đề triển khai thực hiện chính sách, cụ thể là việc thực hiện chính sách giáo dục đối với học sinh là người dân tộc thiểu số trên địa bàn huyện Tân Sơn giai đoạn 2015 - 2019.
Bước 4: Tổng kết đánh giá chính sách Khâu quản lý chính sách có đạt được những mục tiêu đặt ra hay không phải được thể hiện trong công đoạn tổng kết, đánh giá. Vì vậy, tổng kết để đánh giá quá trình triển khai, hiệu quả triển khai và các tác động thực tế của chính sách. Việc đánh giá chính sách được thực hiện trên một số khía cạnh như: đánh giá chính trị, đánh giá kỹ thuật, đánh giá toàn diện, phân tích chi phí lợi nhuận, phân tích từ góc độ thông tin, những hạn chế của chính sách, những kinh nghiệm được rút ra để phục vụ cho việc đề xuất, soạn thảo những chính sách mới phù hợp hơn.Tổ chức thực hiện chính sách phát triển giáo dục đối với học sinh là người dân tộc thiểu số 1. Khái niệm chính sách giáo dục Thực hiện chính sách giáo dục chính là một khâu quan trọng trong chu trình chính sách công.
Ở trong thực tiễn có rất nhiều loại chính sách khác nhau, xuất phát từ tầm quan trọng của giáo dục, chính sách giáo dục chính là một trong những chính sách đặc biệt quan trọng.