phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, tài liệu tham khảo, phụ lục, nội dung chính của luận văn được trình bày trong 3 chương: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu. Chƣơng 2: Thực trạng quản lý hoạt động tự học của sinh viên trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn - Đại học Quốc gia Hà Nội. Chƣơng 3: Đề xuất các biện pháp quản lý hoạt động tự học của sinh viên theo học chế tín chỉ ở trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn - Đại học Quốc gia Hà Nội. -4- z Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.
Tổng quan về vấn đề nghiên cứu Trong tiến trình phát triển chung của nhân loại, tri thức có vai trò to lớn thúc đẩy sự tiến bộ của xã hội. Sự phát triển kinh tế xã hội của mọi quốc gia đều dựa trên nền tảng tri thức và muốn có tri thức thì phải phát triển giáo dục. Ý thức sâu sắc về vai trò, tầm quan trọng của tri thức, Đảng và Nhà nước ta luôn coi giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu, Trong giai đoạn hiện nay, chúng ta đang nỗ lực xây dựng một xã hội học tập với phương hướng, con đường thực hiện là kết hợp đến trường, giáo dục từ xa và tự học. Trong đó tự học để trưởng thành là vô cùng quan trọng.
Một trong những đặc trưng cơ bản, quan trọng nhất trong xã hội học tập là tư tưởng tự học tập suốt đời. Vì “việc học không bao giờ là muộn” (Ngạn ngữ), hay “Bác học không có nghĩa là ngừng học” (Đác-uyn). Quan niệm tự học và học tập suốt đời nổi lên trong thời đại ngày nay như một chìa khoá mở cửa đi vào thế kỉ 21 - thế giới của nền kinh tế tri thức. Nhằm đổi mới phương thức tổ chức đào tạo ở đại học trong điều kiện Việt Nam chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, sau Hội nghị Hiệu trưởng ở Vũng Tàu năm 1988, Bộ Đại học và Trung học chuyên nghiệp (nay là Bộ Giáo dục và Đào tạo) đã ban hành Qui chế tạm thời về quản lý đào tạo làm cơ sở cho việc triển khai “qui trình đào tạo mới” theo học phần và sau một vài năm áp dụng, qui chế này được chính thức hoá vào tháng 12 năm 1990.
Trên thế giới, đào tạo theo tín chỉ là một phương thức đào tạo không mới. Nó ra đời vào nửa cuối thế kỷ thứ 19, bắt đầu ở Đại học Harvard (Hoa Kỳ) xuất phát từ quan niệm xem sinh viên có thể tìm được cách học thích hợp nhất cho mình, cũng như tư tưởng cho rằng đại học phải nhanh chóng thích nghi và đáp ứng được những nhu cầu của thực tiễn cuộc sống. Trên cơ sở những tư tưởng đó, vào năm 1872 Viện Đại học Harvard quyết định thay thế hệ thống chương trình đào tạo cứng gắn với các lớp học cố định bằng hệ -5- z thống chương trình mềm dẻo cấu thành bởi các modun mà mỗi sinh viên có thể lựa chọn một cách phù hợp. Có thể xem sự kiện đó là mốc khai sinh hệ thống tín chỉ.
Đến đầu thế kỷ 20 hệ thống tín chỉ được áp dụng rộng rãi trong nhiều trường đại học ở Hoa Kỳ. Tiếp sau đó, nhiều nước cũng lần lượt áp dụng hệ thống này như các nước Bắc Mỹ, Nhật Bản, Philippin, Đài Loan, Hàn Quốc, Thái Lan, Trung Quốc… Đây là phương thức đào tạo theo triết lý “Tôn trọng người học, xem người học là trung tâm của quá trình đào tạo” và hiện nay đang là một phương thức đào tạo khá phổ biến ở nhiều quốc gia trên thế giới. Ở Việt Nam, học chế tín chỉ được triển khai ở Trường Đại học Bách Khoa TP Hồ Chí Minh vào năm 1993, sau đó là các trường ĐH Khoa học Tự nhiên TP Hồ Chí Minh, Đại học Xây dựng Hà Nội, Trường Đại học Bách Khoa Đà Nẵng, Đại học Thăng Long Hà Nội, Đại học Đà Lạt, Đại học Thuỷ sản Nha Trang. Trong “Chương trình hành động của chính phủ” thực hiện nghị quyết số 37/2004/QH11 khoá XI, kỳ họp thứ sáu của Quốc hội về giáo dục đã chỉ rõ: “Mở rộng, áp dụng học chế tín chỉ trong đào tạo đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp.” Tuy nhiên, cho đến nay, số trường Đại học ở Việt Nam đào tạo theo hệ thống tín chỉ chưa phải là nhiều.
Theo Vụ trưởng Vụ Đại học và sau Đại học, Bộ GD&ĐT Trần Thị Hà, trong tổng số 200 trường Đại học Cao đẳng hiện nay, mới chỉ có 4% số trường chuyển sang hình thức đào tạo này. Điều đó cho thấy phương thức đào tạo này vẫn còn khá mới mẻ đối với hệ thống Đại học và Cao đẳng ở Việt Nam. Chuyển sang phương thức đào tạo theo học chế tín chỉ tạo ra sự thay đổi lớn về phương cách, thói quen dạy - học của người dạy lẫn người học. Đối với hình thức đào tạo này thì khối lượng giờ giảng trên lớp sẽ giảm đi, mà sẽ tăng thời gian tự học, tự nghiên cứu của sinh viên.
Vì vậy khi áp dụng đào tạo theo học chế tín chỉ, việc tự học, tự nghiên cứu của sinh viên có vai trò hết sức quan trọng, mang tính quyết định hiệu quả chất lượng đào tạo. -6- z Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn - Đại học Quốc gia Hà Nội cũng đang tổ chức thực hiện chuyển đổi hình thức đào tạo từ niên chế sang hình thức đào tạo theo học chế tín chỉ. Có thể thấy, trong nhiều tài liệu nghiên cứu về hoạt động tự học, các nhà nghiên cứu đều khẳng định tự học không phải là một đề tài mới lạ. Tuy nhiên, việc nghiên cứu hoạt động tự học trong học chế tín chỉ vẫn còn là vấn đề mới.
Vì vậy trong luận văn này tác giả tập trung vào việc xây dựng các biện pháp quản lý hoạt động tự học của sinh viên Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn - Đại học Quốc gia Hà Nội nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động tự học, nâng cao chất lượng đào tạo của nhà trường, theo học chế tín chỉ. Những khái niệm cơ bản của đề tài Để xác định rõ cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu, chúng ta sẽ tìm hiểu nội hàm của một số khái niệm có liên quan đến đề tài. Hoạt động tự học 1. Khái niệm hoạt động học Học là quá trình con người lĩnh hội những kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo và những phương thức hành vi mới, do vậy ta thấy học chính là hoạt động nhằm tạo ra sự thay đổi kinh nghiệm của người học một cách bền vững.
Để lĩnh hội được những kinh nghiệm xã hội, con người có nhiều cách thức chiếm lĩnh khác nhau. Đó có thể là do được người khác truyền thụ, do tự quan sát, đúc kết từ lao động, môi trường sống… v. Học có thể diễn ra một cách ngẫu nhiên trong cuộc sống hàng ngày và nó diễn ra ở mọi nơi, mọi lúc. Cách học này diễn ra khi tiến hành công việc qua lao động sản xuất, hoạt động vui chơi…, cách học này không có chủ định dẫn đến kết quả tri thức mà người học nắm được sẽ rời rạc và không có hệ thống.
Ở người học chỉ hình thành những năng lực thực tiễn do kinh nghiệm mang lại. Nhưng thực tiễn để có thể tự cải tạo tự nhiên, xã hội và bản thân con người thì đòi hỏi con người phải nắm được các quy luật của tự nhiên, xã hội -7- z và quy luật về sự hình thành, phát triển con người. Nói một cách khác, ngoài việc lĩnh hội những tri thức mang tính kinh nghiệm ra, con người cần phải nắm bắt được những tri thức khoa học, những năng lực thực tiễn mới mà cách học ngẫu nhiên không tạo ra được. Để có được những năng lực đó người ta tiến hành một hoạt động hướng vào để thực hiện mục tiêu đó là hoạt động học (học có chủ định).
Khái niệm tự học Tự học (self-learning) là quá trình nỗ lực chiếm lĩnh tri thức của bản thân người học bằng hành động của chính mình, hướng tới những mục đích nhất định. Đã có nhiều nghiên cứu về vấn đề tự học ở nhiều góc độ khác nhau. Dưới đây là một số quan điểm của các nhà nghiên cứu về vấn đề này: Theo tác giả Lê Khánh Bằng: "Tự học là tự mình suy nghĩ, sử dụng các năng lực trí tuệ và phẩm chất tâm lý để chiếm lĩnh một lĩnh vực khoa học nhất định" [11, Tr. Quan điểm này tác giả cho rằng tự học là việc học của chính bản thân người học, chính họ phải huy động các năng lực trí tuệ, các phẩm chất tâm lý để chiếm lĩnh những tri thức khoa học của loài người và biến những tri thức đó thành vốn kinh nghiệm của bản thân.
Theo tác giả Nguyễn Cảnh toàn, tự học là tự mình động não, suy nghĩ, sử dụng các năng lực trí tuệ và có cả cơ bắp cùng các phẩm chất của mình, cả động cơ tình cảm, nhân sinh quan, thế giới quan để chiếm một lĩnh vực hiểu biết nào đó của nhân loại, biến lĩnh vực đó thành sở hữu của mình. Việc tự học sẽ được tiến hành khi người học có nhu cầu muốn hiểu biết một kiến thức nào đó và bằng nỗ lực của bản thân cố gắng chiếm lĩnh được kiến thức đó [24, Tr. Như vậy tự học là hình thức hoạt động nhận thức của người học nhằm chiếm lĩnh tri thức, tự mình luyện tập các thao tác, hành động để hình thành kỹ năng kỹ xảo. Tự học giúp người học tự tìm ra tri thức mới, cách thức hành -8- z động mới bằng chính nỗ lực của bản thân mình.
Tự học hình thành nên những con người năng động sáng tạo. Sinh viên Thuật ngữ "sinh viên" có nguồn gốc từ tiếng Latinh “Student” có nghĩa là người làm việc, học tập nhiệt tình, người đi tìm kiếm, khai thác tri thức. Nó được dùng cùng nghĩa tương đương với từ “Student” trong tiếng Anh, “Etudiant” trong tiếng Pháp và “Cmgenm” trong tiếng Nga. “Sinh viên” là để chỉ những người theo học ở bậc đại học và phân biệt với học sinh đang theo học ở bậc phổ thông.
Theo ngôn ngữ Hán Việt, từ “sinh viên” được diễn nghĩa ra là người bước vào cuộc sống, cuộc đời. Còn theo Từ điển tiếng Việt, khái niệm “sinh viên” được dùng để chỉ người học ở bậc đại học. Theo Quy chế công tác HSSV trong các trường đào tạo của Bộ Giáo dục và Đào tạo thì: “ sinh viên” là người đang theo học hệ đại học và cao đẳng.