Chương 1: Cơ sở lý luận về tự học và quản lý hoạt động tự học của học sinh Chương 2: Thực trạng hoạt động tự học và quản lý hoạt động tự học của học sinh trường trung học cơ sở Mông Ân huyện Bình Gia, Lạng Sơn Chương 3: Biện pháp quản lý hoạt động tự học của học sinh trường trung học cơ sở Mông Ân huyện Bình Gia. 4 z CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TỰ HỌC VÀ QUẢN LÍ HOẠT ĐỘNG TỰ HỌC CỦA HỌC SINH 1. Tổng quan vấn đề nghiên cứu 1. Trên thế giới Trong lịch sử phát triển giáo dục, tự học là vấn đề được quan tâm nghiên cứu từ lâu cả về lý luận và thực tiễn, nhằm phát huy vai trò của người học và nâng cao chất lượng của hoạt động tự học.
Song từng giai đoạn lịch sử nhất định, ở mỗi quốc gia tự học được nghiên cứu đề cập dưới nhiều khía cạnh khác nhau. Khổng Tử (551-479 trước công nguyên), nhà tư tưởng nổi tiếng và nhà sư phạm vĩ đại của Trung Quốc, về phương pháp giáo dục ông đã đề cao việc tự học, tự luyện, tu nhân, trú trọng phát huy mặt tích cực, sáng tạo, năng lực nội sinh. Đề cập đến việc học tập, Khổng Tử xác định “Học nhi thời tập chi”, việc học tập theo ông phải gắn liền với thực hành để thông suốt những điều đã học. Ông đề cập và nhấn mạnh mối quan hệ tác động giữa việc học tập và tư duy trong học tập, ông cho đó là hai yếu tố ràng buộc không thể thiếu của một vấn đề: “Học nhi bất tư vong, tư nhi bất học tất đãi”.
Ông cho rằng học mà không nghĩ thì mờ tối, nghĩ mà không học thì khó nhọc, mất công. Do vậy, với ông việc học tập và tự học là cần thiết và gắn bó mật thiết với nhau. Socrat (469-309 trước công nguyên) đã từng nêu khẩu hiệu “Anh hãy tự biết lấy anh” qua đó, mong muốn học trò phát hiện ra “chân lý” bằng cách đặt câu hỏi để dần dần tìm ra kết luận. Raja Roy Singh, nhà giáo dục Ấn Độ trong tác phẩm “Giáo dục cho thế kỷ XXI, những triển vọng của Châu Á Thái Bình Dương” đã đưa ra quan điểm về quá trình “Nhận biết dạy- học”, và ông chủ trương rằng người học phải là người tham gia tích cực vào quá trình “Nhận biết dạy - học”.
Theo ông “Sự học tập do người học chủ đạo” Một trong những đặc trưng cơ bản, quan trọng nhất trong xã hội học tập là tư tưởng tự học tập suốt đời. Vì “việc học không bao giờ là muộn” (Ngạn 5 z ngữ), hay “Bác học không có nghĩa là ngừng học” (Đác-uyn). Quan niệm tự học và học tập suốt đời nổi lên trong thời đại ngày nay như một chìa khoá mở cửa đi vào thế kỉ 21 - thế giới của nền kinh tế tri thức. Ở Việt Nam Chủ tịch Hồ Chí Minh, một tấm gương sáng ngời về ý chí quyết tâm trong tự học, tự rèn luyện.
Người luôn cho rằng học tập giúp con người tiến bộ, nâng cao phẩm chất, mở rộng hiểu biết, làm thay đổi hiệu quả lao động. Người đã động viên toàn dân: “Phải tự nguyện, tự giác xem công việc học tập là nhiệm vụ của người cách mạng, phải cố gắng hoàn thành cho được do đó mà tích cực, tự động hoàn thành kế hoạch học tập” Khi bàn về vấn đề tự học, giáo sư Tạ Quang Bửu cũng đã viết “Tự học là khởi nguồn của phong cách tự đào tạo đồng thời là cái nôi nuôi dưỡng sự sáng tạo. Ai giỏi tự học ngay từ khi ngồi trên ghế nhà trường, người đó sẽ tiến xa hơn”. Tự học - tự đào tạo là một vấn đề được nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thức VIII và Trung ương II (khoá VIII) đề cập đến rất đậm nét: “Tập trung sức nâng cao chất lượng dạy và học, tạo ra năng lực tự học, sáng tạo của học sinh” (NQĐH VIII), “bảo đảm điều kiện và thời gian tự học, tự nghiên cứu cho học sinh, phát triển mạnh phong trào tự học - tự đào tạo thường xuyên và rộng khắp trong toàn dân…” Trong bối cảnh đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước, hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay, nhất là khi nước ta chính thức là thành viên của tổ chức thương mại thế giới (WTO), đã đặt ra những yêu cầu mới cho giáo dục và đào tạo.
Đòi hỏi GD-ĐT phải tự đổi mới. Một trong những nội dung đổi mới giáo dục được đề cập nhiều hơn cả là đổi mới phương pháp dạy - học, nhất là phương pháp học tập - tự học. Trong khoa học, đã có nhiều công trình nghiên cứu công phu về vấn đề tự học như: “Quá trình dạy - tự học” của giáo sư Nguyễn Cảnh Toàn, giáo sư Vũ Văn Tảo; “Luận bàn về kinh nghiệm tự học” của giáo sư Nguyễn Cảnh 6 z Toàn, “Tự học - chìa khoá vàng của giáo dục” của giáo sư Phan Trọng Luận, và nhiều công trình nghiên cứu về tự học của các giáo sư, tiến sĩ, các nhà nghiên cứu giáo dục như: Hà Thế Ngữ, Đặng Vũ Hoạt, Nguyễn Ngọc Bảo, Hà Thị Đức…với mục đích nâng cao hiệu quả tự học của HS, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo. Một số khái niệm cơ bản của đề tài 1.
Quản lý Thuật ngữ “quản lý” (từ Hán Việt) gồm hai quá trình tích nhau. Quá trình “quản” gồm coi sóc, giữ gìn, duy trì ở trạng thái “ổn định”. Quá trình “lý” gồm sửa sang, sắp xếp, đổi mới đưa hệ thống (tổ chức) vào thế “phát triển”. Nếu chỉ “quản” thì tổ chức dễ trì trệ, nếu chỉ “lý” thì tổ chức phát triển không bền vững.
Do đó trong “quản” phải có “lý” và ngược lại để làm cho hệ thống ở trạng thái cân bằng động, vận động phù hợp, thích ứng và có hiệu quả trong môi trường tương tác giữa các nhân tố bên trong và các nhân tố bên ngoài tổ chức. Quản lý là sự điều khiển một hệ thống hoạt động xã hội ở tầm vĩ mô cũng như vi mô vì vậy có nhiều cách tiếp cận khác nhau, ở mỗi cách tiếp cận có những định nghĩa khác nhau.Marx đã từng nói đến sự cần thiết của quản lý: “Bất kỳ một lao động xã hội nào được tiến hành trên một quy mô tương đối lớn cũng đều cần có sự quản lý, nó xác lập mối quan hệ hài hoà giữa các công việc riêng rẽ và thực tiễn những chức năng chung nhất xuất phát từ sự vận động của toàn cơ cấu sản xuất khác với vận động của từng bộ phận độc lập trong nền sản xuất ấy. Một nghệ sĩ vĩ cầm tự điều khiển mình, còn dàn nhạc thì phải có nhạc trưởng” Còn theo H.Koontz “ Quản lý là một hoạt động thiết yếu, nó đảm bảo sự phối hợp những nỗ lực của cá nhân nhằm đạt được mục đích của tổ chức. Mục đích của mọi nhà quản lý là hình thành môi trường mà trong đó con người có thể đạt được các mục đích của mình với thời gian, tiền bạc, vật chất và sự bất mãn cá nhân ít nhất” [15].Taylor (1856-1915), người được coi là cha đẻ của thuyết quản lý khoa học đã nêu lên tư tưởng cốt lõi trong quản lý là: “Mọi loại công việc dù nhỏ nhất đều phải chuyên môn hoá và phải quản lý chặt chẽ”.
Theo ông: “Quản lý là nghệ thuật biết rõ ràng chính xác cái gì cần làm và cái đó làm thế nào bằng phương pháp tốt nhất và rẻ nhất”. Các tác giả Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc cho rằng: “Hoạt động quản lý là tác động có định hướng, có chủ định của chủ thể quản lý (người quản lý) đến khách thể quản lý (người bị quản lý) trong một tổ chức nhằm cho tổ chức vận hành và đạt mục đích của tổ chức” [7]. Tác giả Nguyễn Minh Đạo cho rằng: “Quản lý là sự tác động có tổ chức, định hướng của chủ thể quản lý lên khách thể quản lý về mặt chính trị, văn hoá, xã hội, kinh tế… bằng một hệ thống các luật lệ, các chính sách, các nguyên tắc, các phương pháp và biện pháp cụ thể nhằm tạo ra môi trường và điều kiện cho sự phát triển của đối tượng”[11]. Tóm lại, hoạt động quản lý luôn tồn tại hai thành tố đó là chủ thể quản lý và khách thể quản lý.
Chủ thể quản lý có thể là cá nhân hay một nhóm người có chức năng quản lý, điều khiển tổ chức để tổ chức vận hành và đạt được mục tiêu. Khách thể quản lý là những người chịu sự tác động chỉ đạo của chủ thể quản lý nhằm đạt mục tiêu chung. Bản chất của quản lý Từ những định nghĩa về quản lý nêu trên ta thấy bản chất của quản lý là sự phối hợp các nỗ lực của con người thông qua việc thực hiện các chức năng quản lý, là tác động có mục đích đến tập thể nhằm thực hiện mục tiêu quản lý. Bản chất của hoạt động quản lý là sự tác động có mục đích của người quản lý (chủ thể quản lý) đến người bị quản lý (khách thể quản lý) nhằm đạt mục tiêu chung, được thể hiện qua sơ đồ dưới đây.
8 z Mục tiêu quản lý Chủ thể quản lý Cơ chế quản lý Khách thể quản lý (Hình thức quản lý) Sơ đồ 1.1: Hệ thống quản lý Trong đó: - Chủ thể quản lý là tác nhân tạo ra các tác động quản lý. - Khách thể quản lý tiếp nhận các tác động quản lý và đem tài lực, trí tuệ của mình để sinh ra các giá trị vật chất, tinh thần có giá trị sử dụng trực tiếp, đáp ứng nhu cầu con người, thỏa mãn mục đích của chủ thể quản lý. - Công cụ quản lý là phương tiện tác động của chủ thể quản lý tới khách thể quản lý như: mệnh lệnh, quyết định, luật lệ, chính sách. - Phương pháp quản lý là cách thức tác động của chủ thể quản lý tới khách thể quản lý.
Mục tiêu của tổ chức được xác định theo nhiều cách khác nhau, nó có thể do chủ thể quản lý áp đặt hoặc do sự cam kết giữa chủ thể và khách thể quản lý. Quản lý nhà trường là tác động của nhà quản lý giáo dục đến tập thể giáo viên, học sinh và các lực lượng giáo dục khác nhau trong xã hội nhằm thực hiện hệ thống các mục tiêu quản lý giáo dục. Chức năng của quản lý Chức năng của quản lý là tập hợp các nhiệm vụ mà chủ thể quản lý phải thực hiện để đạt mục đích, mục tiêu quản lý đề ra.