Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG TỰ BỒI DƯỠNG CHUYÊN MÔN CỦA GIÁO VIÊN MẦM NON 1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề Chủ tịch Hồ Chí Minh đã luôn thể hiện sự quan tâm đến sự nghiệp giáo dục và đào tạo con người cho XH đổi mới, cho dân tộc Việt Nam. Người nhấn mạnh rằng bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau là một việc rất quan trọng và cần thiết, muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội thì trước hết phải có con người xã hội chủ nghĩa. Đó là những con người có lí tưởng cách mạng vững vàng, đạo đức trong sáng, có kiến thức văn hóa, khoa học kĩ thuật và kĩ năng lao động, có sức khỏe, có ý chí vươn đến cái chân, thiện, mỹ. Người nhắc nhở GV phải chú ý cả tài, cả đức; tài là văn hóa, chuyên môn, đức là chính trị.
Muốn cho trò có đức thì GV phải có đức. Cho nên thầy giáo, cô giáo phải gương mẫu, nhất là đối với trẻ em. Trong "Lời dặn của Bác Hồ với giáo viên Mầm non" ngày 23/9/1959, Bác đã dặn làm mẫu giáo tức là thay mẹ dạy trẻ. Muốn làm được thế thì phải yêu trẻ.
Dạy trẻ cũng như trồng cây non. Trồng cây non được tốt thì sau này cây lên tốt, dạy trẻ tốt thì sau này các cháu thành người tốt. Anh chị em GVMN cần luôn luôn gương mẫu về đạo đức để các cháu noi theo.Trong thời kỳ công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước, Đảng và Nhà nước ta luôn lấy tư tưởng Hồ Chí Minh về “trồng người” làm nền tảng lí luận vững chắc, là "kim chỉ nam" cho sự nghiệp phát triển GD và ra sức thực hiện đường lối đổi mới mục tiêu giáo dục. Trong Báo cáo Chính trị của Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa XI trình Đại hội XII của Đảng xác định GD là quốc sách hàng đầu.
Phát triển GD&ĐT nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài và nhấn mạnh vai trò của đội ngũ giáo viên trong nhiệm vụ này. Nếu không quan tâm đến việc bồi dưỡng GV thì không thể đáp ứng được yêu cầu ĐT nguồn nhân lực phục vụ quá trình phát triển XH, nâng cao chất lượng GVMN những người thực hiện mục tiêu GD đầu tiên của nền GD nước ta hiện nay. Cần phải xây dựng kế hoạch ĐTBD GV gắn với nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm an ninh, quốc phòng và hội nhập quốc tế. Thực hiện chuẩn hóa ĐNGV theo từng cấp học và trình độ đào 7 tạo.
Nhiều công trình nghiên cứu khoa học đề cập vấn đề bồi dưỡng cán bộ quản lý, GV như Đặng Quốc Bảo, Đặng Bá Lãm, Nguyễn Lộc, Phạm Quang Sáng, Bùi Đức Thiệp (2010) với cuốn sách "Đổi mới quản lí và nâng cao chất lượng giáo dục Việt Nam”; Nguyễn Ánh Tuyết (2004) Giáo dục mầm non, những vấn đề lý luận và thực tiễn, NXB Đại học Quốc gia, Hà Nội. Nhóm tác giả Lê Xuân Hồng, Trần Quốc Minh, Hồ Lai Châu, Hoàng Mai và Lê Thị Khang với cuốn sách "Cẩm nang dành cho giáo viên trường mầm non”; các tác giả đều đề cập vai trò của người GV, kỹ năng sư phạm, đổi mới công tác ĐTBD GV để nâng cao năng lực chuyên môn, đạo đức cho ĐNGV và đưa những khía cạnh đa dạng, đặc trưng về các vấn đề khó khăn của trẻ, phụ huynh, GV trường MN; Nhấn mạnh việc BD ĐNGV cần theo một hệ thống từ Trung ương đến địa phương, hình thức, giải pháp BD phong phú mang tính định hướng, tùy thuộc vào điều kiện quốc gia, địa phương với việc xây dựng quy trình phù hợp, từng bước nâng cao chất lượng ĐNGV. Để thực hiện việc phát triển GDMN ngày càng tốt hơn, Bộ GD&ĐT cũng đã ban hành một số văn bản như Quyết định số 16/2008/QĐ-GDĐT ngày 16/4/2008 ban hành quy định về đạo đức nhà giáo; Thông tư số 20/2012/TT-BGDĐT ngày 6/7/2012 của Bộ GD&ĐT về việc ban hành quy chế bồi dưỡng thường xuyên GVMN, Thông tư số 26/2012/TT-BGDĐT ngày 10 tháng 7 năm 2012 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định việc bồi dưỡng thường xuyên theo năm học đối với giáo viên giảng dạy tại các cơ sở giáo dục mầm non, phổ thông và trung tâm giáo dục thường xuyên (sau đây gọi chung là nhà trường) bao gồm: tổ chức BDTX, đánh giá và công nhận kết quả BDTX, nhiệm vụ và quyền của giáo viên; Thông tư 20/2015/TTLT-BGDĐT-BNV ngày 14/09/2015 của Bộ trưởng Bộ GD&ĐT - Bộ nội vụ ban hành ban hành quy định về Chuẩn chức danh nghề nghiệp mầm non, các văn bản trên gồm những tiêu chuẩn cụ thể làm căn cứ để xây dựng mục tiêu, nội dung bồi dưỡng và đánh giá chất lượng ĐNGVMN nhằm góp phần đáp ứng yêu cầu GD của nước ta. “Đổi mới gì thì đổi mới.
Chúng tôi quan niệm việc tự bồi dưỡng của mỗi thầy cô giáo là hết sức quan trọng” - đó là ý kiến của ông 8 Phạm Tuấn Anh, Phó Cục trưởng Cục Nhà giáo và Cán bộ quản lý giáo dục (Bộ Giáo dục và Đào tạo) trao đổi với PV Báo Đại Đoàn Kết. Giáo dục mầm non luôn được các quốc gia trên thế giới quan tâm vì đây là cấp học đầu tiên góp phần hình thành nhân cách của con người xã hội (XH). Một trong những yếu tố đảm bảo chất lượng bậc học mầm non chính là vai trò của đội ngũ giáo viên mầm non. Ở Pháp, tác giả Nguyễn Thị Như Mai đã viết về "Đào tạo giáo viên mẫu giáo ở cộng hòa Pháp" trong Tạp chí Giáo dục, số 255 kì 1 - 2/2011.
Việc ĐT GVMN do các trường Đại học đảm nhận. GV trải qua quá trình ĐT và thực hiện bài kiểm tra nghiêm ngặt như GV ở trình độ khác. Với tổng cộng 3 năm ở các chuyên ngành và 2 năm nghề; ở mỗi năm học được xây dựng chương trình khắt khe, việc đánh giá kết thúc từ hai phía (người học tự đánh giá và người ĐT đánh giá) người học mới trở thành GVMN. Theo bài "Tiêu chuẩn khắt khe đối với giáo viên mầm non ở nước phát triển của Tạp chí Tổ chức nhà nước đăng ngày 11/02/2017, nghiên cứu "Giáo dục mầm non ở Pháp-Quan điểm cá nhân" T.Hurless, chuyên gia GDMN tại Đại học Dominican ở River Forest, Illinois (Mỹ), chỉ ra những tiêu chuẩn dành cho GVMN ở Pháp.
Họ phải hoàn thành chương trình đào tạo và trải qua các kỳ thi nghiêm ngặt như GV khác, được xem như chuyên gia, hưởng cùng mức lương, địa vị, uy tín và có cơ hội phát triển. Nhà giáo dục Mỹ Karen Scott Hill sau chuyến thăm trường học Pháp từ năm 1999 rất ấn tượng với quá trình này, sự nhấn mạnh chất lượng giáo viên là trụ cột của hệ thống GDMN ở Pháp. GVMN ở Mỹ phải có bằng Associate's degree hoặc Chứng chỉ CDA. Theo trang điện tử uy tín study.com, tất cả bang ở Mỹ đều yêu cầu giấy phép giảng dạy mầm non.
Theo Cục Thống kê Lao động Mỹ, GVMN được tuyển dụng bởi chương trình liên bang Head Start, ít nhất phải có bằng Associate’s degree. Giáo viên đạt trình độ này có các kỹ năng sáng tạo trong học tập, quan sát trẻ em, giáo dục sức khỏe và dinh dưỡng, dạy chữ viết cho trẻ nhỏ và nắm bắt nhu cầu của trẻ đặc biệt. Qua những tiêu chuẩn khắt khe về GVMN ở Pháp và Mỹ, ta nhận thấy rằng 9 họ rất quan tâm đến GVMN, chú trọng ngay từ khâu đào tạo bồi dưỡng theo những tiêu chuẩn nhất định để đảm bảo chất lượng đội ngũ GVMN đáp ứng được yêu cầu của XH, họ luôn hướng đến việc chú trọng xây dựng từng cá thể của XH thành công. Tầm quan trọng của GDMN càng được chú trọng từ sớm.
Coi trọng sự phát triển của trẻ em, phải đào tạo các GVMN với chất lượng cao, đó là điều cần làm cho GVMN ở tất cả các quốc gia. Ở Nhật Bản, trong Tạp chí giáo dục, số 169 kỳ 1 - 8/2007 của tác giả Nguyễn Thị Hòa về "Giáo dục Mầm non ở Nhật Bản và một số bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam" đã cho thấy GVMN ở Nhật Bản là những chuyên gia nuôi dạy trẻ. Bậc cha mẹ ở Nhật xem GVMN như chuyên gia nuôi dạy trẻ. Việc đào tạo GVMN do các trường Đại học tự chủ xây dựng chương trình ĐT riêng cho GDMN.
Người học phải thi chứng chỉ lí luận và nghiệp vụ sư phạm. Sinh viên ở trường Ochanomizu, năm thứ nhất phải đi tham quan trường mầm non hướng tới hiểu được trẻ, năm thứ ba có giờ quan sát và viết báo cáo phân tích những điều đã quan sát được. Đất nước Nhật rất quan tâm rèn luyện cho người GVMN khả năng quan sát, thấu hiểu, phân tích được các hoạt động của trẻ ở cơ sở giáo dục mầm non. Đến năm cuối cùng, người học phải đi thực tập để tập làm công việc của GVMN qua bài viết tác giả đã chỉ ra những bài học kinh nghiệm quý báu từ Nhật và vận dụng vào GDMN Việt Nam trong xu thế đổi mới và hội nhập hiện nay.
Vì vậy, chúng ta có thể nhận thấy rằng GDMN ở Nhật luôn được chú trọng ngay từ đầu ở khâu đào tạo GVMN để đảm bảo cho chất lượng đội ngũ giảng dạy trực tiếp bậc học này nhằm đảm bảo chất lượng giáo dục mầm non. Như vậy, các nước đều coi trọng sự phát triển GDMN và phải đào tạo GVMN chất lượng cao vì đây là đội ngũ quan trọng có vai trò kích thích tinh thần ham học của trẻ. GDMN lấy trẻ làm trung tâm trong mọi hoạt động trải nghiệm, chiếm hữu và tích lũy kinh nghiệm sống, đòi hỏi GVMN phải hiểu được tâm lý, nắm bắt được nhu cầu, mong muốn của trẻ để có định đướng GD đúng đắn. Vì vậy, ở các nước phát triển vai trò của GVMN càng được nâng cao, năng lực của ĐN GVMN có ý nghĩa quyết định cho chất lượng GDMN.
10 Nhìn chung, luận văn của các tác giả đã nghiên cứu góp phần hoàn thiện cơ sở lý luận về GDMN, phân tích thực trạng, bối cảnh đổi mới GD, quản lý chất lượng ĐN GVMN.đề xuất quản lý, đổi mới mục tiêu, nội dung, phương thức kiểm tra, đánh giá trong ĐTBD; đưa ra các biện pháp quản lý HĐBD cho GVMN phù hợp tình hình địa phương, điều kiện cụ thể của nhà trường; từng bước cải thiện quá trình ĐTBD GVMN trở thành lực lượng chủ yếu nhằm nâng cao chất lượng trong GD, quyết định sự phát triển GD nước ta.