Chương 1: Cơ sở lý luận về Quản lý hoạt động trải nghiệm ở trường Trung học phổ thông. Chương 2: Thực trạng hoạt động trải nghiệm tại trường Trung học phổ thông Olympia. Chương 3: Các biện pháp quản lý hoạt động trải nghiệm ở trường Trung học phổ thông Olympia 5 z Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG TRẢI NGHIỆM Ở TRƢỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 1. Tổng quan các nghiên cứu liên quan đến đề tài 1.
Nghiên cứu ngoài nước Vai trò của trải nghiệm đối với quá trình kiến tạo tri thức và phát triển của con người được biết đến khoảng thế kỷ thứ tư trước công nguyên, khi Arixtot cho rằng lý thuyết chỉ có thể được nắm vững thông qua thực hành. Cũng trong thời gian này, nhà tư tưởng phương Đông Khổng Tử (551-479 TCN) cũng có một phát biểu nổi tiếng “ Những gì tôi nghe, tôi sẽ biết; Những gì tôi thấy, tôi sẽ nhớ; Những gì tôi làm, tôi sẽ hiểu”. Giáo dục trải nghiệm hay học qua thực hành có một lịch sử khá dài chủ yếu với việc các nhà giáo dục đưa học sinh ra học ngoài trời, trải nghiệm trong thế giới thực để đạt được các mục tiêu học tập. Tuy nhiên, phải đến những năm bảy mươi của thế kỷ hai mươi giáo dục trải nghiệm mới được công nhận là một hoạt động giáo dục và vào năm 1977 Hiệp hội Giáo dục Trải nghiệm (AEE) đã chính thức được thành lập (Hammerman, Hammerman, & Hammerman, 2001).
Học tập trải nghiệm thực sự được đánh giá là nền tảng quan trọng trong giáo dục chính quy khi John Dewey, một nhà khoa giáo dục người Mỹ, cho ra đời cuốn sách “Kinh nghiệm và Giáo dục” vào giữa thế kỷ XX. Hàng loạt các nhà tâm lý, xã hội và giáo dục trong những thập kỷ 60 và 70 đã tạo ra sự bùng nổ mạnh mẽ về học tập trải nghiệm, đề cao tầm quan trọng của kinh nghiệm trong giáo dục. Có thể kể đến những cái tên nổi tiếng như Piaget, Chickering, Tumin, Bloom, Friere, Gardner và Lewin đều có các nghiên cứu và xuất bản về giáo dục trải nghiệm trong thời kỳ này. Gần đây nhất, David Kolb, trong cuốn “Học tập trải nghiệm – kinh nghiệm là tài nguyên của việc học và sự phát triển” (Experiential learning: 6 z experience as the source of learning and development) xuất bản năm 1984 đã nói rằng học tập là một quá trình đa chiều.
Bắt đầu từ kinh nghiệm cụ thể, đến quan sát và tái hiện và sau đó hình thành những khái niệm trừu tượng và khái quát, tiến tới việc thử nghiệm những khái niệm mới trong những hoàn cảnh mới. Mô hình phong cách học và lý thuyết học tập trải nghiệm của Kolb hiện được các chuyên gia giáo dục công nhận và áp dụng rộng rãi. Tổ chức Văn hoá, Khoa học, Giáo dục của Liên Hợp Quốc – UNESCO cũng cho rằng “Tâm điểm của mọi sự học là cách chúng ta xử lí những trải nghiệm có được, đặc biệt là sự chiêm nghiệm sâu sắc về những trải nghiệm đó”. UNESCO coi hình thức học tập trải nghiệm là một phương pháp học tập vì sự phát triển bền vững, coi người học là trung tâm.
Nghiên cứu trong nước Ở Việt Nam, ngay từ những ngày đầu tiên của nền giáo dục non trẻ, chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: “Học đi đôi với hành, giáo dục kết hợp với lao động sản xuất, nhà trường gắn liền với xã hội”. Đây cũng là nguyên lý giáo dục được ghi rõ trong Luật Giáo dục 2005. Hội nghị trung ương 8 khoá XI đã ra nghị quyết về đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục Việt Nam, trong đó chỉ rõ “Chuyển mạnh quá trình giáo dục từ chủ yếu trang bị kiến thức sang phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất người học. Học đi đôi với hành; lý luận gắn với thực tiễn; giáo dục nhà trường kết hợp với giáo dục gia đình và giáo dục xã hội.” Trong chương trình giáo dục phổ thông mới, kế hoạch giáo dục bao gồm các môn học, chuyên đề học tập (gọi chung là môn học) và hoạt động trải nghiệm sáng tạo; hoạt động giáo dục (theo nghĩa rộng) bao gồm hoạt động dạy học và hoạt động trải nghiệm sáng tạo.
Hoạt động trải nghiệm sáng tạo nhằm mục đích chính là: “Hình thành và phát triển những phẩm chất, tư tưởng, ý chí, tình cảm, giá trị, kỹ năng sống và những năng lực chung cần có ở con người trong xã hội hiện đại”. 11] 7 z Để triển khai chủ trương của ngành và nhằm giúp các nhà trường trong việc quản lý, tổ chức hoạt động trải nghiệm sáng tạo, đã có nhiều hội thảo, tập huấn và các nghiên cứu về vấn đề này. Trong cuốn tài liệu tập huấn “kỹ năng xây dựng và tổ chức các hoạt động trải nghiệm sáng tạo trong trường trung học”, các tác giả đã kết luận: “hoạt động trải nghiệm sáng tạo là một phương thức học hiệu quả, nó giúp hình thành năng lực cho người học. Phương pháp trải nghiệm có thể thực hiện đối với bất cứ lĩnh vực tri thức nào, khoa học hay đạo đức, kinh tế, xã hội.” Tác giả Đinh Thị Kim Thoa, trong bài nghiên cứu “mục tiêu năng lực, nội dung chương trình, cách đánh giá trong hoạt động trải nghiệm sáng tạo” cho rằng để phát triển chương trình hoạt động giáo dục trải nghiệm sáng tạo cần phải xác định và xây dựng khung năng lực, từ đó thiết kế nội dung để đạt được mục tiêu đặt ra.
Tiến sĩ Đỗ Ngọc Thống có nghiên cứu “Hoạt động trải nghiệm sáng tạo – kinh nghiệm quốc tế và vấn đề của Việt Nam” với những phân tích cụ thể và hữu ích về kinh nghiệm triển khai hoạt động trải nghiệm. Ngoài ra, còn có các tác giả khác cũng có những nghiên cứu về đề tài này như: Chuyển từ tiếp cận nội dung sang tiếp cận năng lực: vấn đề dạy học và tổ chức dạy học của tác giả Trần Ngọc Giao, Đặng Thị Thanh Huyền, Nguyễn Thị Mai Phương; Hình thức tổ chức các hoạt động trải nghiệm sáng tạo trong nhà trường phổ thông của tác giả Bùi Ngọc Diệp và Một số vấn đề về hoạt động trải nghiệm sáng tạo trong chương trình giáo dục phổ thông mới của tác giả Lê Huy Hoàng. Có thể thấy rằng, các nghiên cứu đã đề cập đến nhiều khía cạnh khác nhau của hoạt động trải nghiệm nói chung và trải nghiệm sáng tạo nói riêng trong nhà trường. Tuy nhiên, chưa có nghiên cứu nào chuyên sâu về quản lý hoạt động trải nghiệm ở cấp Trung học phổ thông hoặc đưa ra các biện pháp làm thế nào để các hoạt động này thực sự hiệu quả, thường xuyên và không mang tính hình thức.
Một số khái niệm cơ bản của đề tài 1. Quản lý Hoạt động quản lý có lịch sử từ rất lâu, nó xuất hiện và tồn tại như một tất yếu khách quan, giúp cho một tổ chức nào đó đạt được mục đích của mình. 8 z Từ thời Ai Cập cổ đại đến Trung Quốc cổ đại, các nhà quân sự đã biết tổ chức, chỉ đạo quân đội của họ chiến đấu, giành chiến thắng. Các nhà tư tưởng quản lý từ thời cổ đại, từ Tây sang Đông đều đã chỉ ra những nguyên tắc, luật lệ của quản lý và có nhiều học thuyết khác nhau.
Đối với Henry Fayol (1841-1925), cha đẻ của thuyết quản lý hành chính thì “quản lý là sự phối hợp của dự báo, lập kế hoạch, tổ chức, yêu cầu thực hiện, phối hợp với các thành viên và điều chỉnh công việc”. Đóng góp lớn nhất của Fayol là ông đã phân biệt hoạt động quản lý thành năm chức năng cơ bản (i) kế hoạch hoá, (ii) tổ chức, (iii) chỉ huy, (iv) phối hợp và (v) kiểm tra mà sau này chúng được kết hợp thành bốn chức năng của quản lý là kế hoạch hoá, tổ chức, chỉ đạo và đánh giá. Mary Parker Follett (1868-1933) lại khẳng định rằng “quản lý là một quá trình động, liên tục, kế tiếp nhau chứ không tĩnh tại”. Bà nhấn mạnh đến việc lôi cuốn nhân viên vào quá trình ra quyết định và kết luận rằng sự phối hợp là điều kiện sống còn của sự quản lý hiệu quả.
Harold Koontz (2009): định nghĩa "Quản lý là một hoạt động thiết yếu nhằm đảm bảo sự phối hợp những nỗ lực cá nhân nhằm đạt được các mục đích của nhóm. Mục tiêu của mọi nhà quản lý là nhằm hình thành một môi trường mà trong đó con người có thể đạt được các mục đích của nhóm với thời gian, tiền bạc và sự bất mãn cá nhân ít nhất". Peter F Druker (1909-2005): "Suy cho cùng, quản lý là thực tiễn. Bản chất của nó không nằm ở nhận thức mà là ở hành động; kiểm chứng nó không nằm ở sự logic mà ở thành quả; quyền uy duy nhất của nó là thành tích".
Dalark: "Định nghĩa quản lý phải được giới hạn bởi môi trường bên ngoài nó. Theo đó, quản lý bao gồm 3 chức năng chính là: Quản lý doanh nghiệp, quản lý giám đốc, quản lý công việc và nhân công". Hiện nay, hoạt động quản lý được định nghĩa là “quá trình đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng cách vận dụng các hoạt động (chức năng) kế hoạch hoá, tổ chức, chỉ đạo (lãnh đạo) và kiểm tra”. Quản lý giáo dục Giáo dục là hoạt động đặc trưng của xã hội loài người, là sự truyền thụ và lĩnh hội những kinh nghiệm từ thế hệ trước cho thế hệ sau nhằm duy trì và phát triển xã hội loài người.
Giáo dục luôn gắn liền với thực tiễn phát triển của xã hội và cùng với đó nó trở thành hoạt động được tổ chức đặc biệt, thiết kế theo một kế hoạch chặt chẽ và ngay khi hoạt động giáo dục có tổ chức được hình thành, nó cũng được quản lý như những hoạt động xã hội khác. Bàn về “quản lý giáo dục là gì?”, các nhà lý luận và quản lý thực tiễn đã đưa ra một số ý kiến khác nhau. Các nhà quản lý giáo dục thực tiễn quan niệm rằng quản lý giáo dục theo nghĩa tổng quan là hoạt động điều hành, phối hợp các lực lượng xã hội nhằm đẩy mạnh công tác đào tạo thế hệ trẻ theo yêu cầu phát triển xã hội. thì định nghĩa: “Quản lý giáo dục một cách khái quát, là sự tác động có tổ chức và hướng đích của chủ thể quản lý giáo dục tới đối tượng quản lý giáo dục theo cách sử dụng các nguồn lực càng có hiệu quả càng tốt nhằm mục tiêu đề ra”.