Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG TRẢI NGHIỆM CHO SINH VIÊN 1. Lý luận về hoạt động trải nghiệm cho sinh viên đại học 1. Khái niệm sinh viên Theo từ điển Bách khoa toàn thư: “SV là người học tập tại các trường ĐH, cao đẳng. Ở đó họ được truyền đạt kiến thức bài bản về một ngành nghề, chuẩn bị cho công việc sau này của họ.
Họ được xã hội công nhận qua những bằng cấp đạt được trong quá trình học. Quá trình học của họ theo phương pháp chính quy, tức là họ đã phải trải qua bậc tiểu học và trung học”[33] Theo Quy chế công tác SV đôi với chương trình ĐT ĐH hệ chính quy ban hành kèm theo Thông tư số 10/2016/TT-BGDĐT ngày 05 tháng 4 năm 2016 của Bộ trưởng Bộ GD và Đào tạo, SV là: “người đang theo học chương trình ĐT trình độ ĐH hệ chính quy tại các cơ sở GD ĐH”[4, điều 2. Khái niệm hoạt động trải nghiệm cho sinh viên Theo từ điển “TN là tiến trình hay là quá trình HĐ năng động để thu thập kinh nghiệm”. GD TN có thể hiểu là một tư tưởng GD trong đó đề cao và chủ yếu thông qua HĐTN của người học.
Việc nghiên cứu vận dụng lí thuyết GD TN, học tập TN hay học qua TN đã được thực hiện ở nhiều nước, trong đó có VN, ở nhiều cấp học, bậc học, cho nhiều đối tượng khác nhau. Luật GD năm 2005 cũng có ghi: “HĐ GD phải được thực hiện theo nguyên lý học đi đôi với hành, GD kết hợp với lao động sản xuất, lý luận gắn liền với thực tiễn, GD nhà trường kết hợp với GD gia đình và GD xã hội” [19, điều 3.2] Điều này cho thấy học phải đi đôi với hành. Mục đích của học là để thực hành, để sống và để phát triển. HĐTN còn gọi là HĐ ngoại khoá hay HĐ GD ngoài giờ lên lớp.
Đây là một HĐ GD được thực hiện một cách có mục đích, có kế hoạch, có tổ 9 n chức nhằm góp phần thực thi quá trình ĐT học sinh, đáp ứng những nhu cầu đa dạng của đời sống xã hội. HĐ này do nhà trường quản lý, tiến hành ngoài giờ dạy học trên lớp. Các HĐ này được tiến hành xen kẽ hoặc nối tiếp chương trình dạy học trong phạm vi nhà trường hoặc trong đời sống xã hội, được diễn ra trong suốt cả năm học và cả thời gian nghỉ hè để khép kín quá trình GD, làm cho quá trình đó có thể được thực hiện mọi nơi, mọi lúc. Theo tác giả Đặng Vũ Hoạt: hoạt động GD ngoài giờ là việc tổ chức GD qua HĐ thực tế của học sinh về khoa học kỹ thuật, lao động công ích, HĐ xã hội, hoạt động nhân văn, văn hoá nghệ thuật, thẩm mỹ, thể dục thể thao, vui chơi giải trí… để giúp các em hình thành và phát triển nhân cách [12] Theo nhóm tác giả Nguyễn Thúy Hồng, HĐTN là HĐ mang tính xã hội, thực tiễn đến với môi trường GD trong nhà trường để học sinh tự chủ TN trong tập thể, qua đó hình thành và thể hiện được phẩm chất, năng lực, nhận ra năng khiếu, sở thích, đam mê, bộc lộ và điều chỉnh cá tính, giá trị; nhận ra chính mình cũng như khuynh hướng phát triển của bản thân và cùng với các HĐ dạy học trong chương trình GD thực hiện tốt nhất mục tiêu GD.
HĐ này nhấn mạnh sự trải nghiệm, thúc đẩy năng lực sáng tạo của người học và được tổ chức thực hiện một cách linh hoạt sáng tạo [15]. Từ đó chúng ta hiểu bên cạnh HĐ dạy và HĐ học, HĐ ngoại khoá hay còn gọi là HĐTN là một trong ba HĐ quan trọng, là ba bộ phận hợp thành của GD, góp phần thực hiện mục tiêu GD của Nhà trường. Những HĐ lao động, sinh hoạt tập thể, HĐ xã hội đã một phần góp sức trong việc hoàn thiện nhân cách cho học sinh, SV. HĐ này giúp các em mở rộng kiến thức, bồi dưỡng tư tưởng tình cảm, nâng cao năng lực, thể lực, thể chất, tinh thần giúp các em tự biết hoàn thiện bản thân hơn.
Ngoài ra tổ chức HĐTN giúp SV tăng thêm các mối quan hệ giữa bạn bè trang lứa, giữa cô với trò, SV biết cách xây dựng kế hoạch, quản lý thời gian, HĐ hướng tới có mục đích, có nội dung biết cách biến các nhu cầu khách quan của xã hội thành những nhu cầu, mong muốn của bản thân. 10 n Theo nhiều nhà nghiên cứu GD thì nên hiểu HĐTN là HĐ rất cần thiết trong GD. HĐTN mặc dù không đặt sự giảng dạy của GV lên hàng đầu tuy nhiên cũng rất cần có sự quan tâm của GV và các nhà QL để có một chương trình mà mọi SV đều thấy cần và có thể vận dụng kiến thức của SV. Trong suốt thời gian học tập dưới môi trường ĐH, SV có thể tham gia rất nhiều HĐTN, đó là các HĐ như sau: - HĐ tự học: Là những HĐ cá nhân, đơn lẻ với mục đích hoàn thành nhiệm vụ học tập mà SV được GV giao cho và các HĐ mang tính tập thể, sinh hoạt theo các câu lạc bộ hay giao lưu vă hoá.
- HĐ chính trị xã hội: Theo quy chế của Bộ GD & ĐT chính trị, xã hội là một trong các nhiệm vụ của SV. Ngoài mục đích GD, các HĐ này còn có mục đích phục vụ vì cộng đồng, vì xã hội. - HĐ nghiên cứu khoa học: Là những HĐ như nghiên cứu khoa học, tiểu luận, nói chuyện chuyên đề, thăm quan doanh nghiệp. - HĐ thể thao, văn hoá, văn nghệ, vui chơi giải trí: Là các HĐ không chỉ nhằm nâng cao thể chất, thể lực mà còn cả đời sống tinh thần cho SV giúp các em giải toả những căng thẳng trong cuộc sống.
Các HĐ này được tổ chức khá đa dạng, phong phú. - HĐ tạo thu nhập: Là những HĐ mà SV thực hiện thông qua các công việc làm thêm, HĐ thực tập. để có thu nhập trang trải cho các chi phí sinh hoạt và tích luỹ thêm kinh nghiệm cho công việc sau này. Theo Quy chế Công tác SV đối với chương trình ĐT hệ chính quy đã quy định rõ nhiệm vụ của sinh viên là “Học tập rèn luyện theo chương trình, kế hoạch giáo dục, đào tạo của cơ sở giáo dục đại học; chủ động, tích cực tự học, nghiên cứu, sáng tạo và rèn luyện đạo đức, lối sống” [4, điều 4.
Như vậy HĐTN là một phần bắt buộc trong chương trình ĐT mà SV có nghĩa vụ tham gia. Cũng có thể nói HĐTN là một phần của chương trình ĐT ĐH nó vừa mang tính chất tự nguyện lại vừa mang tính bắt buộc tùy thuộc vào yêu cầu của đơn vị ĐT đối với từng loại HĐ. HĐTN giữ vai trò quan trọng trong việc 11 n nâng cao kiến thức và hoàn thiện các kĩ năng cho SV giúp SV tự tin hơn, biết cách chung sống với người khác và sẵn sàng công cuộc hội nhập. Từ việc phân tích các khái niệm nêu trên, tác giả sử dụng khái niệm: HĐTN cho SV là HĐ GD trong đó, dưới sự hướng dẫn và tổ chức của nhà GD, từng cá nhân SV được trực tiếp HĐ thực tiễn trong nhà trường hoặc trong xã hội dưới sự hướng dẫn và tổ chức của nhà GD, qua đó phát triển tình cảm, đạo đức, phẩm chất nhân cách, các năng lực và tích luỹ kinh nghiệm riêng cũng như phát huy tiềm năng sáng tạo của cá nhân làm khái niệm công cụ của luận văn.
Vai trò của hoạt động trải nghiệm đối với sinh viên Xu thế hội nhập đang diễn ra mạnh mẽ hàng ngày, hàng giờ trên khắp thế giới, vì vậy VN không thể không tham gia vào quá trình thay đổi này. Trong xu thế hội nhập, con người thích ứng được thì phải là những công dân toàn cầu, là những người có tư duy, tầm nhìn mang tính toàn cầu đề có thể thích nghi và đáp ứng được với điều kiện làm việc ở những môi trường khác nhau trên toàn thế giới. Người có lợi thế về ngôn ngữ, hiểu biết về văn hoá thì có nhiều cơ hội khẳng định và nâng tầm giá trị văn hoá truyền thống của dân tộc mình sánh với văn hoá chung nhân loại. Cùng với sự thay đổi của xã hội đòi hỏi GD cũng phải thay đổi.
Một trong các yếu tố cần thay đổi đó là thay đổi về con người. Bản thân con người cần thay đổi trên mọi khía cạnh để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trong xu thế hội nhập toàn cầu. Điều này đòi hỏi ngành GD phải ĐT ra những cử nhân phải có ý thức về bản thân, dân tộc và đất nước mình, có nền tảng tri thức và học thuật, có khả năng sử dụng ngoại ngữ, tin học thành thạo, cũng như có khả năng tư duy phản biện cũng như biết lắng nghe, có kỹ năng làm việc nhóm để có thể giải quyết những vấn đề mang tính toàn cầu. Những điều này giúp SV VN nhanh chóng thích nghi tại nơi làm việc có nền văn hoá mới mà không bị mất đi giá trị của bản thân.
Như trên phân tích, ta thấy HĐTN là một HĐ GD cần thiết và quan trọng, là một trong những con đường để thực hiện phương pháp dạy học đổi mới theo định hướng “phát huy tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của 12 n SV. bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức đó vào thực tiễn, tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho SV” [26, điều 24. Như vậy, HĐTN là một HĐ có tầm quan trọng trong GD, góp phần đổi mới mạnh mẽ phương pháp GD đào tạo, nâng cao chất lượng GD toàn diện cho người học để bắt kịp xu thế hội nhập đang diễn ra trên phạm vi toàn cầu bởi những lý do sau: - HĐTN giúp SV mở rộng, nâng cao và cập nhật kiến thức, rèn luyện kỹ năng. Ngày nay khối lượng tri thức của nhân loại được cập nhật và biến động từng ngày, từng giờ, nếu chúng ta không tự cập nhật thì sẽ sớm tụt hậu với thế giới.
Với sự hỗ trợ của công nghệ thông tin các nguồn tri thức này dễ dàng được chia sẻ rộng rãi và ngày càng được tiếp cận một cách dễ dàng. Để có kiến thức sâu, rộng SV không chỉ học tập ở trên lớp mà cần phải học tập dưới nhiều hình thức khác nhau. Ở môi trường ĐH, giờ trên lớp GV chỉ đóng vài trò cung cấp và định hướng cho SV những kiến thức cơ bản của ngành học mà không đi sâu vào mọi vấn đề do thời gian trên lớp bị hạn hẹp.