phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung của luận văn gồm 2 chương 5 tiết. 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com NỘI DUNG Chƣơng 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC ĐỐI VỚI CÁC HOẠT ĐỘNG TÔN GIÁO 1. Lý luận về quản lý nhà nƣớc và quản lý nhà nƣớc đối với các hoạt động tôn giáo 1. Quản lý nhà nước 1.
Quản lý: Hoạt động quản lý xuất hiện từ lâu, tuy nhiên cho tới nay dưới những góc độ nghiên cứu khác nhau, các học giả đưa ra nhiều cách hiểu không đồng nhất về nội hàm của thuật ngữ này. Có quan điểm cho rằng quản lý là tiến trình bao gồm các khâu: lập kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo và kiểm tra những nỗ lực của các thành viên trong tổ chức và sử dụng tất cả các nguồn lực khác nhau để đạt mục tiêu đã định trước. Cũng có quan điểm cho rằng quản lý là sự tác động định hướng lên một hệ thống nào đó nhằm trật tự hóa nó phát triển phù hợp với những quy luật nhất định. Mặc dù có nhiều quan niệm khác nhau, song thuật ngữ “quản lý” được các nhà nghiên cứu, các nhà quản lý thống nhất ở những nội dung: Thứ nhất, quản lý là sự tác động mang tính tổ chức, tính mục đích của chủ thể quản lý đối với đối tượng quản lý.
Thứ hai, mục tiêu quản lý là nhằm làm cho đối tượng quản lý hoạt động, vận hành cho phù hợp với ý chí của chủ thể quản lý đã định ra từ trước. Nói đến quản lý trước hết là sự tác động trực tiếp hoặc gián tiếp tới đối tượng quản lý. Sự tác động này không mang tính chất đơn lẻ, tự phát mà nó mang tính tổ chức, tính mục đích rõ ràng. Mục đích mà chủ thể quản lý đặt ra là xu hướng cho đối tượng quản lý hoạt động.
7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Như vậy, quản lý chính là sự tác động có tổ chức, có mục đích của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý nhằm đạt được mục tiêu mà chủ thể quản lý đã đặt ra từ trước. Quản lý nhà nước Theo nghĩa rộng, quản lý nhà nước là một dạng quản lý xã hội thông qua sử dụng quyền lực nhà nước để điều chỉnh các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người. Hoạt động quản lý nhà nước do tất cả các cơ quan nhà nước tiến hành nhằm thực hiện các chức năng của nhà nước đối với xã hội. Theo nghĩa hẹp, quản lý nhà nước là dạng quản lý xã hội mang tính quyền lực nhà nước với chức năng chấp hành pháp luật và tổ chức thực hiện pháp luật của cơ quan trong hệ thống hành pháp (Chính phủ, Ủy ban nhân dân các cấp).
Quản lý nhà nước đối với các hoạt động tôn giáo 1. Khái niệm quản lý nhà nước đối với các hoạt động tôn giáo Tôn giáo Tôn giáo là một hiện tượng lịch sử - xã hội tồn tại lâu đời song cũng như nhiều khái niệm, khái niệm tôn giáo cũng được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau. Trong các văn bản luật quản lý về tôn giáo, khái niệm này hiện nay vẫn còn bỏ ngỏ. Thuật ngữ tôn(g) giáo – religion có nguồn gốc từ tiếng La tinh là legere, relegere mang nghĩa là thu lượm thêm sức mạnh siêu nhiên.
Thời kỳ đầu khi mới ra đời, religion là thuật ngữ dùng để chỉ Ki tô giáo, trong ngôn ngữ Pháp cổ, chỉ có nghĩa đen là tu viện (monastère). Tới khoảng thế kỷ XVI khi cuộc đại phân liệt lần thứ nhất của đạo Ki tô diễn ra, cho ra đời hai nhánh là đạo Tin Lành và Công giáo, trên các diễn đàn khoa học và thần học châu Âu, thuật ngữ religion mới trở thành một thuật ngữ chung dùng để chỉ hai tôn 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com giáo cùng thờ chung một Chúa. Cùng với sự bành trướng của chủ nghĩa tư bản, sự tiếp xúc giữa các tôn giáo thuộc nền văn minh khác Ki tô giáo, thuật ngữ religion được dùng nhằm chỉ các hình thức tôn giáo khác nhau trên toàn thế giới. Đến thế kỷ XVIII, thuật ngữ religion được dịch ra thành tôn giáo xuất hiện ở Nhật Bản, sau tới Trung Quốc và vào Việt Nam vào cuối thế kỷ XIX.
Tuy nhiên, ở Việt Nam thuật ngữ này được đọc khác đi thành tông giáo vì kỵ húy vua Thiệu Trị. Như vậy, ban đầu thuật ngữ tôn giáo được sử dụng để chỉ một tôn giáo cụ thể ở châu Âu là Ki tô giáo, nhưng trong quá trình phát triển, giao thoa giữa các nền văn hóa, thuật ngữ này được sử dụng nhằm chỉ chung các loại hình tôn giáo khác nhau. Đặng Nghiêm Vạn, đối tượng tôn giáo là “thế giới bên kia gồm các lực lượng siêu nhiên, vô hình, mang tính thiêng liêng, được chấp nhận một cách trực giác và tác động qua lại một cách siêu thực với con người, nhằm lý giải những vấn đề trên trần thế cũng như ở thế giới bên kia. Tôn giáo được biểu hiện đa dạng tùy thuộc vào những thời kỳ lịch sử hay hoàn cảnh địa lý – văn hóa khác nhau của từng cộng đồng xã hội hay tôn giáo khác nhau”[37.
Tôn giáo là phương tiện để giải thích thế giới của con người sau cái chết, là sự chuẩn bị của con người cho sự sống phía sau cái chết. Tôn giáo còn được hiểu là sự phản ánh mối quan hệ giữa con người với thần thánh; giữa thế giới vô hình với thế giới hữu hình; giữa cái thiêng và cái trần tục. Theo tiếng Hán, tôn giáo chủ yếu chỉ một số những hình thể tôn giáo có thể chế, có tổ chức nhưng thực ra tôn giáo còn bao hàm cả sự sùng kính trong tâm khảm con người: “Nhắc đến tôn giáo thì lên tưởng đến đền miếu nguy nga, nhà thờ cao lớn đồ sộ, và tất cả những phương tiện vật chất có thể chế, có tổ chức; không ngờ rằng, các tôn giáo vật chất có hình thức ấy, đều bắt nguồn 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com từ tinh thần không có ý thức. Cái danh từ religion này, ý nghĩa của nó không đơn thuần chỉ tổ chức có thể chế, mà còn bao hàm tất cả sự sùng kính trong tâm khảm con người”[9.
Ở Việt Nam, bên cạnh khái niệm tôn giáo, người Việt còn sử dụng các thuật ngữ khác như đạo, tín ngưỡng,…để chỉ các hình thức tâm linh của mình. “Đạo” có nguồn gốc từ Trung Quốc dùng để chỉ “con đường”, cách thức đưa con người đạt tới niềm tin vào cái thiêng liêng, siêu nhiên. Theo nghĩa rộng, đạo có thể bao gồm cả một số hình thức tín ngưỡng và tôn giáo (đạo Phật, đạo Công giáo, đạo Mẫu,. Theo nghĩa hẹp hơn, thuật ngữ đạo dùng để chỉ một số hình thức tín ngưỡng phát triển có xu hướng trở thành tôn giáo sơ khai hay là tôn giáo dân gian (đạo thờ ông bà, đạo Mẫu,.
Tín ngưỡng là thuật ngữ thường xuyên được sử dụng để nói về một hình thức tâm linh. Tín ngưỡng là sự ngưỡng mộ, tin tưởng vào một thực thể nào đó; chỉ niềm tin, tự do lương tâm nói chung. Có rất nhiều quan điểm khác nhau khi bàn về thuật ngữ “tôn giáo” và “tín ngưỡng”. Theo quan điểm truyền thống, tín ngưỡng là sản phẩm của xã hội ở trình độ phát triển thấp hơn so với tôn giáo, dùng để chỉ các tôn giáo sơ khai.
Quan điểm khác lại đồng nhất giữa tôn giáo và tín ngưỡng, gọi chung là tôn giáo nhưng có sự phân biệt giữa các hình thức tôn giáo như: tôn giáo nguyên thủy, tôn giáo dân tộc, tôn giáo thế giới. Ta có thể phân biệt tôn giáo và tín ngưỡng dựa trên các khía cạnh sau: Nội Tín ngƣỡng Tôn giáo dung Về mặt Chưa hình thành tổ chức riêng Tổ chức giáo hội, hội đoàn khá tổ chức biệt; thường gắn với cá nhân và chặt chẽ với hệ thống giáo chức cộng đồng làng xã từ trung ương tới cơ sở 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Nơi thờ Nơi thờ cúng nhỏ lẻ, phân tán, Nơi thờ cúng riêng, quy mô, có tự không quy mô. Chưa thành hệ hệ thống. Thần điện đã thành hệ thống thần điện, còn mang tính thống duới dạng đa thần hay chất đa thần, tản mạn.
nhất thần giáo. Hệ Chưa có hệ thống giáo lý, giáo Hệ thống giáo lý, kinh điển thể thống luật mà chỉ mới có các huyền hiện quan niệm vũ trụ và nhân giáo lý, thoại, thần tích, truyền thuyết. sinh, truyền thụ qua học tập ở giáo các tu viện, thánh đường, nơi luật thờ tự nói chung. Nghi lễ - Nghi lễ thờ cúng còn phân tán, - Nghi lễ thờ cúng chặt chẽ.
thờ chưa thành quy ước chặt chẽ. - Không mang tính dân gian, có cúng - Thường đơn giản, không mang chăng chỉ là biến dạng theo kiểu tính bắt buộc. - Mang tính chất dân gian, sinh hoạt của dân gian, gắn với đời sống nông nghiệp. Như vậy, đạo, tín ngưỡng, tôn giáo đều là những thuật ngữ chỉ ý thức tâm linh của con người dựa trên cơ sở niềm tin, là cách thức con người giải thích thế giới, chuẩn bị cho mình một cuộc sống phía sau cái chết,… Tuy nhiên, khi nhắc đến một số tôn giáo hoàn chỉnh không thể không nói tới những yếu tố căn bản cấu thành nên một tôn giáo bao gồm: niềm tin tôn giáo, tổ chức tôn giáo, hệ thống giáo lý, giáo luật, lễ nghi tôn giáo, tín đồ tôn giáo.
Niềm tin tôn giáo Niềm tin tôn giáo là đặc điểm chung của tín ngưỡng và tôn giáo, là yếu tố tiên quyết đối với bất kỳ tôn giáo, tín ngưỡng nào. Bởi lẽ nó là nền tảng 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com đầu tiên và trên cơ sở đó các yếu tố khác của tôn giáo như tín đồ, tổ chức tôn giáo, giáo lý, luật lệ, lễ nghi,. được hình thành. Niềm tin tôn giáo là trạng thái tâm lý đặc biệt của chủ thể nhận thức, thể hiện sự tin tưởng, ngưỡng mộ, sùng bái của chủ thể nhận thức vào một thực thể siêu việt như Thần, Phật, Thượng đế,.
Niềm tin tôn giáo mang tính thiêng liêng, cao cả. Nó được hình thành trên cơ sở tình cảm tôn giáo, những xúc cảm, rung động, sùng kính trước các biểu tượng tôn giáo. Tổ chức tôn giáo Tổ chức tôn giáo là là một tổ chức xã hội đặc biệt, liên kết của những tín đồ theo một tôn giáo nhất định, trong đó một tập hợp những người có thứ bậc nội bộ theo chức năng, ít hay nhiều dựa vào quyền uy, định ra một tập hợp quy chế và chuẩn mực nội bộ được hợp thức hóa nhằm duy trì, phát triển và truyền bá giáo lý, tổ chức nghi lễ, đảm bảo sự sống còn của bản thân tôn giáo.