Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG TỔ CHUYÊN MÔN Ở TRƯỜNG PHỔ THÔNG THEO HƯỚNG NGHIÊN CỨU BÀI HỌC ĐÁP ỨNG YÊU CẦU CHƯƠNG TRÌNH GIÁO DỤC PHỔ THÔNG 2018 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Công trình nghiên cứu về hoạt động tổ chuyên môn ở trường phổ thông Việc nâng cao chất lượng dạy học trong các nhà trường nói chung và trường THPT nói riêng từ lâu đã trở thành vấn đề được quan tâm hàng đầu đối với các nhà quản lý giáo dục trên thế giới cũng như ở Việt Nam. Việc tìm ra biện pháp để nâng cao chất lượng giảng dạy nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển giáo dục và đào tạo của xã hội là hết sức quan trọng, vấn đề này thu hút sự quan tâm đặc biệt của các nhà quản lý cả trong và ngoài nước.
Thuật ngữ "nghiên cứu bài học" có gốc từ tiếng Nhật (jugyou kenkyuu) và được dịch sang tiếng Anh là Lesson Study hoặc Lesson Research. Từ thời Meiji (Minh Trị) (1868 - 1912) trong giáo dục Nhật Bản, nghiên cứu bài học được sử dụng trong nhà trường để giáo viên cùng phối hợp với nhau nghiên cứu cải tiến những bài học trong chương trình. Ngày nay, nghiên cứu bài học đã tiếp tục được phát triển và đi sâu vào đổi mới, cải tiến thực tiễn nhà trường, lớp học từ nhiều khía cạnh, góc độ giáo dục và dạy học. Lewis (2002), nghiên cứu bài học chia thành 4 bước: Bước 1: Tập trung vào bài học nghiên cứu - Đặt mục tiêu phát triển dài hạn cho học sinh (chúng ta mong muốn học sinh tốt nghiệp sẽ có những phẩm chất nào – mục tiêu dài hạn) và lựa chọn những trọng tâm dựa trên thảo luận của nhóm về chuẩn và về những chủ đề mà học sinh đang gặp khó khăn; Bước 2: Xây dựng, thiết kế bài học nghiên cứu – nghiên cứu các tài liệu đã có về bài học, dựa trên những bài học tốt để vạch ra các hoạt động trong bài học để đạt được những mục tiêu đặt ra, đưa học sinh từ trạng thái hiện có đến trạng thái mong muốn; thiết kế kế hoạch bài học và dự kiến HS sẽ suy nghĩ như 8 thế nào; xác định dữ liệu cần thu thập để nhận biết động cơ, hành vi học tập của học sinh; Bước 3: Dạy và thảo luận về bài học nghiên cứu đã được thực hiện- GV dạy bài học nghiên cứu để các GV khác trong nhóm tiến hành quan sát việc học của HS; sau đó thảo luận về bài học đã được thực hiện.
Việc dự giờ-thảo luận tập trung vào việc học của học sinh, một quá trình bao gồm: quan sát- suy ngẫm- chia sẻ. Do đó, bài học là của chung những người tham gia nghiên cứu bài học, không phải của riêng người dạy minh hoạ. Điều này phản ánh tính nhân văn trong nghiên cứu bài học, bài học cần được xem xét, đánh giá tích cực để hoàn thiện, không phải bản thân người GV cần được phân tích, phê phán. Bước 4: Suy ngẫm và tiếp tục dạy hay đặt kế hoạch tiếp theo- Các câu hỏi được đặt ra và giải đáp như: Có tiếp tục nghiên cứu bài học này không? Nếu có thì cần điều chỉnh chỗ nào? Cái gì đã làm tốt và cái gì bạn muốn thay đổi ở lần tiếp theo? Những vấn đề nào đã nảy sinh mà GV muốn giải quyết ở vòng sau? Điều đó cho thấy nghiên cứu bài học đã hướng vào cải tiến thực tiễn dạy học (áp dụng phương pháp, kĩ thuật, hình thức tổ chức dạy học…) qua quá trình cùng hợp tác trong tập thể sư phạm của nhà trường.
Kết quả là năng lực chuyên môn, nghiệp vụ và nghiên cứu của giáo viên được phát triển. Như vậy, quá trình nghiên cứu bài học sẽ tác động đến cả 3 yếu tố: năng lực nghề nghiệp của giáo viên, thực tiễn nghề dạy học và kết quả học tập của học sinh. Việc tổ chức nghiên cứu bài học thường xuyên và huy động sự tham gia của tất cả giáo viên trong trường sẽ thúc đẩy quá trình học tập của mọi giáo viên và nâng cao chất lượng hoạt động dạy và học trong thực tiễn. Kết quả là chất lượng học tập của học sinh tất yếu sẽ được cải thiện.
Đó chính là động lực để giáo viên hợp tác nghiên cứu, tìm tòi. Tại Nhật Bản, cuối những năm 1990 cùng với sự suy thoái về kinh tế, nhiều vấn nạn trong học tập đã xảy ra như: trẻ mất niềm yêu thích với học tập, giáo viên độc đoán, bài giảng của giáo viên dựa trên những bài giảng một chiều 9 (Sato 2000). Để thay đổi hoàn cảnh đó, Sato và những đồng nghiệp đã giới thiệu NCBH cho các nhóm học. Trong NCBH cho các nhóm học, tất cả giáo viên cần tham gia và học cần tập trung vào việc quan sát và phản ánh.
Đến năm 2009, có khoảng 2000 trường tiểu học và gần1000 trường cấp 2 của Nhật Bản đã áp dụng phương pháp đó [25, tr15]. Hiện nay mô hình nghiên cứu bài học đã được phát triển ở châu Á, châu Mỹ, châu Phi, châu Âu với khoảng 32 nước, trong đó có Việt Nam. Nghiên cứu bài học đang được phát triển trên thế giới gồm: mô hình nghiên cứu bài học “cộng đồng học tập” và mô hình nghiên cứu bài học. Mô hình nghiên cứu bài học thông thường đi sâu vào việc cải thiện chất lượng việc học của HS ở những vấn đề học tập cụ thể, thông qua nghiên cứu nhằm hướng đến các bài học mẫu mực để GV vận dụng.
Mô hình nghiên cứu bài học “cộng đồng học tập” hướng nhiều hơn đến cải thiện mối quan hệ nhà trường, thay đổi văn hoá nhà trường, nâng cao năng lực chuyên môn của GV để đáp ứng việc học đa dạng của học sinh. Ở Hoa Kỳ, xem xét những điểm số thấp của học sinh trong những xu hướng nghiên cứu Toán học và khoa học quốc tế so sánh với những học sinh có điểm số cao ở Đông Á, Hiebert and Stigler (2000) đã đề cập đến vấn đề liên quan tới rèn luyện sư phạm ở Hoa Kỳ. Họ khẳng rằng, mặc dù đã có những hoạt động nhóm và giảng viên đều tin tưởng vào hướng đi theo xu hướng xã hội của giáo dục, sự thật thì không nhiều thay đổi được chú ý trong cách học cho những đứa trẻ. Thêm vào đó, họ cũng tìm ra được rất ít thay đổi trong việc hướng học sinh đến những kiến thức toán học sâu rộng hơn [24, tr.
Tại Việt Nam, Sinh hoạt chuyên môn theo hướng NCBH nhằm nâng cao năng lực nghề nghiệp của giáo viên, tạo điều kiện và cơ hội học tập cho học sinh. Hoạt động NCBH là hoạt động chủ đạo trong các buổi sinh hoạt chuyên môn ở các tổ chuyên môn, qua hoạt động này góp phần phát triển nhà trường một cách bền vững. Vì vậy quản lý hoạt động tổ chuyên môn theo hướng 10 NCBH của tổ trưởng chuyên môn trong các trường THPT đã được các nhà nghiên cứu giáo dục trong nước quan tâm. Một số tác giả đã có những công trình NCBH như: Vũ Thị Sơn, Nguyễn Duân, 2010 “Nghiên cứu bài học” - một cách tiếp cận năng lực nghề nghiệp của giáo viên (Tạp chí Khoa học giáo dục số 52 tháng 01/2010); Bài viết sinh hoạt chuyên môn theo NCBH (3/12/2014 - website Sở GD&ĐT tỉnh Lạng Sơn); Hội nghị tập huấn Đổi mới phương pháp sinh hoạt tổ chuyên môn theo hướng NCBH (12/9/2013 - Sở GD&ĐT Hải Phòng); Nguyễn Mậu Đức, Lê Huy Hoàng, ĐHSP Thái Nguyên, 2012, Phương pháp bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ cho giảng viên, sinh viên sư phạm thông qua mô hình nghiên cứu bài học.
Công trình nghiên cứu về quản lý hoạt động chuyên môn ở trường phổ thông theo hướng nghiên cứu bài học Trong công tác quản lý sinh hoạt tổ chuyên môn theo hướng nghiên cứu bài học đang đặc biệt được quan tâm. Sinh hoạt tổ chuyên môn theo hướng nghiên cứu bài học cho đến nay, phổ biến ở nhiều trường tại Nhật Bản và được xem như một hình thức chủ yếu để phát triển năng lực chuyên môn của giáo viên. Thuật ngữ “Nghiên cứu bài học” có nguồn gốc trong lịch sử giáo dục Nhật Bản, từ thời Meiji (1868-1912), như một biện pháp để nâng cao năng lực nghề nghiệp của giáo viên thông qua nghiên cứu cải tiến các hoạt động dạy học ở từng bài học cụ thể [7, tr. Hình thức này cũng đã được nhiều nước trên thế giới áp dụng như: Mỹ, Đức, Úc, Hồng Kong, Hàn Quốc, Thái Lan, Singapo.Và đây cũng là một chủ đề giáo dục được quan tâm trên thế giới.
Hoạt động của tổ chuyên môn, là hoạt động quan trọng trong các hoạt động của nhà trường. Nâng cao chất lượng hoạt động của tổ chuyên môn góp phần nâng cao chất lượng giáo dục của các nhà trường. Trong đó, việc bồi dưỡng tăng cường năng lực quản lý cho tổ trưởng chuyên môn là vấn đề cần thiết, là một trong những giải pháp nâng cao chất lượng dạy và học ở các nhà trường nói chung và trường trung học phổ thông nói riêng. 11 Năm 2013, Bộ Giáo dục và Đào tạo tiếp tục triển khai “Tài liệu tập huấn tổ trưởng chuyên môn trường THPT về đổi mới phương pháp dạy học, kiểm tra đánh giá và tổ chức các hoạt động chuyên môn”.
Tài liệu bao gồm các nội dung về: Đổi mới phương pháp dạy học, kiểm tra đánh giá theo hướng tăng cường tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh; Đổi mới kiểm tra đánh giá theo hướng đánh giá quá trình học tập và phát triển năng lực vận dụng kiến thức liên môn vào giải quyết vấn đề thực tế; Xây dựng kế hoạch, tổ chức, quản lí các hoạt động trong tổ, nhóm chuyên môn; cải tiến phương pháp dự giờ đồng nghiệp và sinh hoạt của tổ, nhóm chuyên môn, trong đó có nội dung tổ chức sinh hoạt chuyên môn thông qua nghiên cứu bài học [7, tr. Trong các công trình nghiên cứu về quản lý giáo dục đã có một số công trình nghiên cứu về quản lý hoạt động của tổ chuyên môn trong nhà trường trong đó có thể kể đến là các công trình của các tác giả: Phạm Minh Hạc, Hà Sỹ Hồ, Hà Thế Ngữ, Nguyễn Ngọc Quang, Đặng Quốc Bảo, Nguyễn Thị Mỹ Lộc, Nguyễn Quốc Chí. Các tác giả đề cập đến các vấn đề chung về lý luận quản lý, lý luận quản lý giáo dục, các nội dung về quản lý nhà trường. Đặc biệt các tác giả Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc đã đề cập về vấn đề đội ngũ công tác trong một tổ chức.
Đây là nội dung liên quan đến tổ chức và hoạt động của tổ chuyên môn trong nhà trường THPT.