Chương 1 c¬ së lý luËn vÒ qu¶n lý ho¹t ®éng tæ chuyªn m«n tr-êng trung häc c¬ së 1. Các khái niệm liên quan đến đề tài 1. Quản lý, quản lý giáo dục và quản lý trường trung học cơ sở * Khái niệm quản lý: Theo Từ điển Tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học xuất bản năm 1994 thì: “Quản lý là trông coi, giữ gìn theo những yêu cầu nhất định. Là tổ chức và điều khiển các hoạt động theo những yêu cầu nhất định”.
Theo tác giả Hà Sĩ Hồ: “Quản lý là một quá trình tác động có định hướng, có tổ chức, lựa chọn trong số các tác động có thể dựa trên các thông tin về tình trạng của đối tượng nhằm giữ cho sự vận hành của đối tượng được ổn định và làm cho nó phát triển tới mục đích đã định”. Theo tác giả Trần Kiểm: “Quản lý là phối hợp nỗ lực của nhiều người, sao cho mục tiêu của từng cá nhân biến thành những thành tựu của xã hội”. Tác giả Nguyễn Bá Sơn thì cho rằng: “Quản lý là tác động có mục đích đến tập thể những con người để tổ chức và phối hợp hoạt động của họ trong quá trình lao động”. Tác giả Nguyễn Ngọc Quang cho rằng: “Quản lý là tác động có mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý đến tập thể những người lao động (nói chung là khách thể quản lý) nhằm thực hiện được những mục tiêu dự kiến”.
Theo tác giả Hà Thế Ngữ và Đặng Vũ Hoạt: “Quản lý là một quá trình định hướng, quá trình có mục tiêu quản lý một hệ thống nhằm đạt được những mục tiêu nhất định”. Từ các quan niệm trên, ta thấy mặc dù có nhiều cách diễn đạt khác nhau về quản lý, nhưng đều có những dấu hiệu chủ yếu đó là: Quản lý được thực hiện với một tổ chức hay một nhóm xã hội. Quản lý là những tác động có tính hướng đích, những tác động phối hợp nỗ lực của cá nhân thực hiện được mục tiêu của tổ chức. 14 Yếu tố con người giữ vai trò trung tâm trong quá trình hoạt động quản lý; do vậy có thể khái quát: quản lý nói chung là quản lý các tổ chức của con người và hành vi, hoạt động của con người trong các tổ chức đó.
Quản lý luôn tồn tại với tư cách là hệ thống. Hệ thống quản lý được tạo bởi nhiều thành tố. Các thành tố cơ bản thường được đề cập khi phân tích hệ thống quản lý là: Chủ thể quản lý: là trung tâm thực hiện những hoạt động khai thác, tổ chức và thực hiện nguồn lực của tổ chức; thực hiện những tác động hướng đích, có chủ định đến đối tượng quản lý. Chủ thể là cá nhân hoặc tập thể.
Đối tượng quản lý: là đối tượng chịu tác động và thay đổi dưới những tác động hướng đích, có chủ định đến đối tượng quản lý. Đối tượng quản lý là con người (cá nhân và tập thể) trong tổ chức và các yếu tố được sử dụng là nguồn lực của tổ chức (thông qua việc khai thác, tổ chức và thực hiện). Cơ chế quản lý: là phương thức vận động hợp quy luật của hệ thống quản lý, mà trước hết là sự tác động lẫn nhau một cách hợp quy luật trong quá trình quản lý. Theo nghĩa này, cơ chế quản lý bao hàm cả những yếu tố của công cụ như: phương tiện, giải pháp của chủ thể quản lý nhằm định hướng, dẫn dắt, khích lệ, điều hòa phối hợp hoạt động của con người và các bộ phận trong tổ chức trong việc đạt đến các mục tiêu đã đề ra.
Cơ chế quản lý có vai trò quan trọng trong việc thiết lập phương thức hoạt động hợp với quy luật khách quan cho hoạt động quản lý; nó tác động trực tiếp đến xác lập và vận hành mối quan hệ giữa chủ thể quản lý và đối tượng quản lý, đến định hướng tổ chức thực hiện và điều chỉnh hoạt động trong tổ chức. Mục tiêu quản lý: mục đích quản lý được cụ thể hóa bằng các mục tiêu quản lý, mục tiêu quản lý được hiểu là trạng thái cần và có thể có của tổ chức trong những giai đoạn nhất định được xác định theo tình thế của tổ chức và mối quan hệ giữa tổ chức và môi trường. Trạng thái cần có là trạng thái mà tổ chức phải đạt được để có thể tồn tại và phát triển. Trạng thái có thể có là trạng thái mà tổ chức có thể đạt được hoặc không đạt được tùy thuộc vào khả năng và mức độ huy động các nguồn lực của tổ chức.
Từ các yếu tố trên có thể hiểu: “Quản lý là sự tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý tới đối tượng quản lý nhằm đạt được mục tiêu đề ra”. 15 Về thực chất, quản lý là sự tác động có hướng đích của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý bằng một hệ thống các giải pháp nhằm thay đổi trạng thái của đối tượng quản lý, đưa hệ thống tiếp cận mục tiêu cuối cùng, phục vụ lợi ích của con người. Những khái quát chung về quản lý, tạo cơ sở lý luận để nghiên cứu nhận thức rõ hơn về quản lý giáo dục. * Quản lý giáo dục và quản lý nhà trường: Giáo dục là một hiện tượng xã hội đặc biệt, bản chất của nó là quá trình truyền đạt và lĩnh hội kinh nghiệm đã được tích lũy trong quá trình phát triển của xã hội loài người.
Thế hệ đi trước truyền đạt cho thế hệ đi sau, thế hệ đi sau phải có trách nhiệm lĩnh hội, kế thừa, phát triển và bổ sung những kinh nghiệm đó. Giáo dục có một vị trí đặc biệt quan trọng, vừa là sản phẩm của xã hội đồng thời là nhân tố tích cực, động lực thúc đẩy sự phát triển của xã hội. Trong thời đại ngày nay, giáo dục đã trở thành nhân tố quyết định thúc đẩy sự phát triển xã hội vì chỉ có giáo dục mới đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu của sự phát triển xã hội. Vì vậy giáo dục trở thành mục tiêu phát triển hàng đầu của tất cả các quốc gia trên thế giới.
Giáo dục là một quá trình, là một hoạt động của xã hội, vì thế có sự quản lý, đó là quản lý giáo dục. Quản lý giáo dục được hiểu một cách rất đa dạng tùy theo góc độ nghiên cứu, tiếp cận của các nhà khoa học. Theo nghĩa tổng quát: Quản lý giáo dục là hoạt động điều hành, phối hợp các lực lượng xã hội nhằm thúc đẩy mạnh mẽ công tác đào tạo thế hệ trẻ yêu cầu phát triển xã hội. Theo Từ điển Tiếng Việt: Quản lý giáo dục được hiểu là những tác động tự giác (có ý thức, có mục đích, có kế hoạch, có hệ thống, hợp quy luật) của chủ thể quản lý đến tất cả các mắt xích của hệ thống (từ cấp cao nhất đến các cơ sở giáo dục là nhà trường), nhằm thực hiện có chất lượng và hiệu quả mục tiêu phát triển giáo dục và đào tạo thế hệ trẻ mà xã hội đặt ra cho ngành giáo dục.
Một số quan niệm về quản lý giáo dục: Tác giả Đặng Quốc Bảo cho rằng: “Quản lý nhà trường, quản lý giáo dục nói chung là thực hiện đường lối giáo dục của Đảng trong phạm vi trách nhiệm của mình, tức là đưa nhà trường vận hành tiến tới mục tiêu đào tạo theo nguyên lý giáo dục”. 16 Còn theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang: “Quản lý giáo dục là hệ thống tác động có mục đích, có kế hoạch hợp quy luật của chủ thể quản lý nhằm làm cho hệ thống vận hành theo đường lối và nguyên lý giáo dục của Đảng, thực hiện được các tính chất của nhà trường xã hội chủ nghĩa Việt Nam, mà tiêu điểm hội tụ là quá trình dạy học, giáo dục thế hệ trẻ. Đưa giáo dục đến mục tiêu dự kiến, tiến lên trạng thái mới về chất”. Theo tác giả Trần Kiểm: “Quản lý giáo dục là hoạt động tự giác (có ý thức, có mục đích, có kế hoạch, có hệ thống, hợp quy luật) của chủ thể quản lý đến tập thể giáo viên, tập thể học sinh, cha mẹ học sinh và các lực lượng xã hội trong và ngoài nhà trường nhằm thực hiện có chất lượng và hiệu quả mục tiêu giáo dục của nhà trường”.
Mục đích của quản lý giáo dục trong nhà trường, là tổ chức quá trình giáo dục có hiệu quả để đào tạo lớp học sinh thông minh sáng tạo, năng động, tự chủ, biết sống và phấn đấu vì hạnh phúc của bản thân và của xã hội. Những khái quát các quan niệm về quản lý, quản lý giáo dục trong nhà trường, tạo cơ sở lý luận để nghiên cứu và nhận thức rõ hơn về quản lý giáo dục trường THCS. * Quản lý trường trung học cơ sở: Quản lý trường học: Xét trên bình diện vi mô, quản lý giáo dục trong phạm vi nhà trường có thể xem là đồng nghĩa với quản lý nhà trường. Trường học là tổ chức giáo dục, là đơn vị cấu trúc cơ sở của hệ thống giáo dục quốc dân.
Do vậy, xét về bản chất trường học là tổ chức mang tính nhà nước – xã hội – sư phạm thể hiện bản chất giai cấp, bản chất xã hội và bản chất sư phạm. Vì thế có thể hiểu: “Quản lý trường học: Là thực hiện đường lối giáo dục của Đảng trong phạm vi trách nhiệm, đưa nhà trường vận hành theo nguyên lý giáo dục, để tiến tới mục tiêu giáo dục, mục tiêu đào tạo đối với ngành giáo dục, với thế hệ trẻ và với từng học sinh”. Mặt khác, quản lý trường học về bản chất là quản lý con người. Điều đó tạo ra cho các chủ thể (người dạy và người học) trong nhà trường một sự liên kết chặt chẽ.
Trong nhà trường, giáo viên và học sinh vừa là đối tượng, vừa là chủ thể quản lý. Với tư cách là đối tượng quản lý, họ chịu tác động của chủ thể quản lý (hiệu trưởng). Với tư cách là chủ thể quản lý, họ là người tham gia chủ động, tích cực vào hoạt động quản lý chung và biến nhà 17 trường thành hệ tự quản lý. Cho nên, quản lý nhà trường không chỉ là trách nhiệm riêng của người hiệu trưởng, mà là trách nhiệm chung của tất cả các thành viên trong nhà trường.
Quản lý trường học, là một dạng lao động đặc biệt, mà nét đặc trưng của nó là tính tích cực sáng tạo, năng lực vận dụng những tri thức đã có để đạt mục đích đặt ra một cách có kết quả là sự cải biến hiện thực giáo dục.